Nhìn chung, đây là thời điểm bùng nổ cho các chủng viện

Mức độ kiên trì thì cao hơn là vào năm 1978


(VATICAN 6-4-2004) --Trong khi con số các linh mục tại Tây Phương tiếp tục giảm và có thể làm lu mờ “sự bùng nổ” về ơn gọi trong Giáo Hội, thì ở những phần khác trên thế giới thì lại khác hẳn, đó là nhận định của một viên chức Vatican.

Thật ra, trong suốt triều đại Giáo Hoàng của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị, con số các chủng sinh chính thức tại các chủng viện đã hầu như tăng lên gấp bội, thư ký của Bộ Giáo Sĩ, là Đức Tổng Giám Mục Csaba Ternyak, đã cho biết như vậy khi trình bày cho giới báo chí về Bức Thư của Đức Thánh Cha gởi cho các linh mục nhân ngày Lễ Thứ Năm Tuần Thánh. Vào năm 1978, khi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị được bầu làm Giáo Hoàng, có khoảng 63,882 chủng sinh chính thức tại các chủng viện trên toàn thế giới. Vào năm 2001, thì có khoảng 112,982 chủng sinh.

Đức Tổng Giám Mục Ternyak nói, “Chưa bao giờ trong lịch sử của Giáo Hội, chúng ta có rất nhiều các chủng sinh đang học về triết lý và thần học. Điều tuyệt vời, đáng mừng đó là những ơn gọi này luôn ở mức ổn định hơn 30 năm về trước. Trước triều đại Giáo Hoàng của Ngài, tỉ lệ các chủng sinh phải đứt đường gảy gánh là 9.09%, nay thì con số đã giảm xuống còn 6.93%. Có khoảng 14% các giáo xứ hiện tại, nghĩa là có khoảng 216,736 giáo xứ vào cuối năm 2001 được thành lập nên trong suốt 30 năm vừa qua. Và tỉ lệ các linh mục tận hiến vào sứ vụ của giáo xứ cũng đả tăng lên đáng kể; tức có đến 212,095 giáo xứ được điều hành trực tiếp bởi một vị linh mục, trong khi đó chỉ có khoảng 200,295 vào năm 1978 mà thôi.”

Trong lá thư gởi cho các Linh Mục, Đức Thánh Cha đề cập đến tình trạng thiếu xót linh mục ở một số vùng của thế giới bởi vì “con số linh mục hiện đang bị giảm dần mà không đủ số lượng để thay thế từ thế hệ trẻ tuổi hơn.” Nhưng Ngài viết thêm là, “Tạ ơn Chúa, tại những nơi khác, chúng ta thấy được một mùa xuân gia tăng đầy hứa hẹn cho các ơn gọi.”

Trong phần trình bày của mình, Đức Tổng Giám Mục Ternyak đề cập đến sự sút giảm linh mục đoàn là từ các nước Phương Tây. Ngài nói, “Lý do là vì tuổi thọ của dân số địa phương, kế đến là những hiện tượng đáng lo ngại của việc giảm sút trong sinh đẻ và sau cùng chính là hiện tượng văn hóa trần tục ngày càng gia tăng. Mặt khác, chúng ta có thể thấy được sự gia tăng con số các giáo sĩ, đặc biệt là tại những lục địa mới, là nơi mà sự sinh sản vẫn còn ở mức đáng kể và nền văn hóa ít bị ảnh hưởng bởi sự khủng khoảng của tôn giáo.”

Theo dữ liệu được cung cấp bởi Đức Tổng Giám Mục Ternyak, sự khủng hoảng bắt đầu nổ ra vào những năm cuối của thập niên 1960 đã ảnh hưởng đến toàn bộ Châu Âu, Hoa Kỳ và Canada.

Ở tại Châu Âu vào năm 1961 có tới 250,859 linh mục, thì trong năm 2001, chỉ còn có 206,761 linh mục. Tại Bắc Mỹ có khoảng 71,725 linh mục trong năm 1961 và 57,988 vào năm 2001.

Ngược lại, tại Mỹ Châu La Tinh, có khoảng 43,202 linh mục vào năm 1961, thì sau 4 thập niên, con số đó tăng lên tới 63,159.

Tại Phi Châu, con số các linh mục trong cùng thời điểm kể trên đã tăng từ 16,541 lên 27,988 linh mục; và tại Á Châu, từ 25,535 tăng lên tới 44,446. Đức Tổng Giám Mục không đưa ra dữ liệu của Châu Đại Dương.

Nói tóm lại, vào năm 1961, đã có khoảng 404,082 linh mục trên toàn thế giới, trong khi đó vào năm 2001, đã có tới 405,067 linh mục.

Đức Hồng Y Dario Castrillón Hoyos, Tổng Trưởng của Bộ Giáo Sĩ, nói rằng, con số các linh mục trong vòng 43 năm qua vẫn không có nhiều thay đổi cho lắm, mặc dầu tổng số dân số thế giới đã tăng lên gấp bội. Ngài nói, đặt những con số đó vào trong bối cảnh ngày nay, chúng ta cũng cần phải lưu ý rằng đã có sự cải thiện đáng kể trong chất lượng cuộc sống, điều đó đã cho phép các linh mục lớn tuổi vẫn tiếp tục thi hành sứ vụ của mình một cách dồi dào.