Một thị kiến ngôn sứ về những Ngày Sau cùng

Đây là một bản dịch bài phát biểu của Đức Gioan Phaolô II trong buổi triều yết chung hôm thứ tư 4/9, tập trung vào một bài thánh ca trong Sách Isaiah.

1. Phụng vụ hằng ngày giờ kinh sáng luôn luôn đề nghị, ngoài các Thánh vịnh, một Thánh ca lấy từ Cựu Ước. Được biết rằng, sau sách Thánh vịnh, sách cầu nguyện thực sự và thích hợp của dân Israel và sau này của Giáo hội, còn có một loại khác sách Thánh vịnh rải rác trong những trang sách lịch sử, ngôn sứ và khôn ngoan trong Kinh thánh. Sách Thánh vịnh đó cũng gòm có những thánh thi, những lời cầu xin, những lời ngợi khen và cầu khẩn, thường có vẻ đẹp lớn và cường độ thiêng liêng.

Trong cuộc hành trình của chúng ta qua những kinh nguyện phụng vụ giờ kinh, chúng ta đã thấy nhiều bài hát này rải rác qua các trang sách thánh. Bây giờ chúng ta sẽ suy nghĩ về một bài hát thực sự tuyệt diệu, tác phẩm của Isaiah, một trong những ngôn sứ lớn nhất của Israel, sống thế kỷ thứ 8 trước Chúa Kitô. Ngôn sứ là chứng nhân những giờ khó khăn mà vương quốc Judah trải qua, nhưng cũng là một thi sĩ ca ngợi niềm hy vọng cứu thế trong một ngôn ngữ thi thơ rất cao

2. Đây là trường hợp của Thánh ca chúng ta vừa nghe và được đặt hầu nhử ở đầu quyển sách của ngài, trong những câu đầu Chương 2, trước Thánh ca có một ghi chú của chủ bút: Đây là điều mà ngôn sứ Isaiah, con ông Amoz, thấy liên quan tới Judah và Jerusalem (Isaiah 2:1). Bài Thánh thi được hình thành, do đó, như là một thị kiến ngôn sứ, diễn tả sự cuối cùng mà lịch sử Israel chuyển động tới trong hy vọng. Không phải ngẫu nhiên mà những lời nói đầu là: trong những ngày sắp tới (c. 2), nghĩa là trong thời viên mãn. Do đó, đây là một lời mời đừng có nhìn thẳng vào hiện tại, khốn cùng dường ấy, nhưng phải biết nhìn, trong vòng những biến cố hằng ngày, sự hiện diện mầu nhiệm của hành động thần linh, đưa lịch sử tới một chân trời ánh sáng và hòa bình khác.

Thị kiến này có mùi vị cứu tinh sau này sẽ được tiếp tục trong Chương 60 của cùng một quyển sách trong một phong cảnh rộng hơn, dấu chỉ một suy gẫm xa hơn về những lời thiết yếu và sắc bén của ngôn sứ, chính xác đó là những lời của Thánh ca mới công bố. Ngôn sứ Micah (x. 4: 1-3), sẽ lấy cũng một thánh vịnh, mặc dầu với một mục đích khác (x. 4: 4-5) với mục đích của lời nói ngôn sứ Isaiah (x. Isaiah 2:5).

3. Tại trung tâm thị kiến của Isaiah nổi lên núi Zion, cách bóng bẩy núi này sẽ nổi cao hơn tất cả các núi khác, vì có Chúa ở đó, do đó đây là nơi tiếp xúc với trời (x. 1 V 8:22-53). Từ núi này, theo như Isaiah nói nói trong 60:1-6, một ánh sáng sẽ phát ra, xé tan và làm tan biến tình trạng đen tối và từ mọi góc địa cầu những đoàn rước kiệu dân chúng sẽ kéo tới đó.

Sức mạnh hấp dẫn của núi Zion dựa trên hai thực tại phát xuất từ núi thánh Jerusalem: Luật và Lời Chúa. Trên thực tế, hai điều này chỉ làm nên một thực tại, thực tại đó là nguồn mạch sự sống, ánh sáng và hoà bình, những diễn tả mầu nhiệm của Chúa và ý muốn của Người. Khi các nước lên tới đỉnh Zion, nơi có đền thờ Chúa dựng lên, bấy giờ sẽ xảy ra phép lạ mà loài người đã luôn luôn chờ đợi và ước ao. Dân chúng sẽ hạ vũ khí khỏi tay mình, những vũ khí đó được thu tập để rèn thành những dụng cụ hòa bình để làm việc. Các lưỡi gươm biến thành những lưỡi cày, và những cái giáo thành những cái móc. Như vậy xuất hiện một chân trời hòa bình, chân trời Shalom (x. Isaiah 60:17), như nói theo tiếng Hy bá, một tiếng mà thần học cứu tinh rất thích. Cuối cùng bức màn hạ xuống mãi mãi trên chiến tranh và hận thù.

4. Lời nói ngôn sứ Isaiah kết thúc với một tiếng kêu, tiến g kêu đó theo đường hướng linh đạo của những bài hát hành hương tới Jerusalem: Hãy đến đây, nhà Giacob hỡi, ta cùng đi, nhờ ánh sáng Đức Chúa soi đường (Is 2: 5). Israel không nên làm người quan sát sự biến đổi lịch sự triệt dể này, không thể tách mình ra khởi lời mời vang dội ngay từ đầu trên miệng lưỡi của dân: Đến đây, ta cùng lên núi Chúa (c. 3).

Chúng ta, người Kitô hữu, chúng ta cũng bị thách đố bởi Thánh ca này của Isaiah. Khi bình luận về Thánh ca này, các Giáo phụ thế kỷ thứ bốn và thứ năm (Basil Cả, Gioan Kim khẩu, Theodoret thành Cyrus, Cyril thành Alexandria) thấy Thánh ca đó hoàn thành khi Chúa Kitô đến. Do đó, các ngài nhận ra trong Giáo hội núi của đền thờ Chúa... xây dựng trên đỉnh các núi, từ đó Lời Chúa xuất phát và dân ngoại đổ xô về đó, trong thời kỳ đổi mới hòa bình do Tin Mừng mở đầu.

5. Thánh tử đạo Justin, trong Prima Apologia của ngài, viết lối năm 153. đã công bố sự hoàn thành câu Thánh ca nói tử Jerusalem lời Đức Chúa phán truyền (x. c. 3). Ngài viết: Từ Jerusalem những người nam sẽ đi ra tới thế giới, số 12, và các ngài dốt nát, các ngài không biết phải nói làm sao, nhưng nhờ quyền phép của Chúa các ngài nói cho toàn thể nhân loại biết Chúa Kitô sai các ngài rao giảng Lời Chúa cho mọi người. Và chúng tôi , trước kia chúng tôi quen chém giết nhau, bây giờ không còn giao chiến với kẻ thù nữa, nhưng cũng không nói láo và phỉnh phờ những kẻ hỏi chúng tôi, những người sẵn sàng chết tuyên xưng Chúa Kitô (Prima Apologia, 39, 3: Gli apologeti greci, Rome, 1986, p. 118).

Vì điều này, một cách đặc biệt, chúng tôi, những Kitô hữu, hoan hô tiếng kêu ngôn sứ và tìm đặt nền móng của nền văn minh tình yêu và hoà bình này, nơi không còn chiến tranh nữa, sẽ không còn sự chết cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất (Kh 21: 4).

[Cuối buổi triều yết, Đức Giáo hoàng nói tóm tắt bằng tiếng Anh]

Anh chị em thân mến,

Bài đọc hôm nay trích từ Thánh ca ngôn sứ Isaiah là một thị kiến có tính ngôn sứ về những ngày cuối cùng, khi tất cả các nước sẽ chảy về núi Chúa. Rồi sau cùng thế giới sẽ gặp hòa bình trong sự vâng phục luật và lời Chúa. Thị kiến là một tiếng kêu hy vọng và tin cậy vào chương trình cứu độ của Chúa. Người Kitô hữu thấy hy vọng này hoàn thành trong Chúa Giêsu Kitô và trong Giáo hội. Trong mầu nhiệm Giáo hội tất cả nhân loại kéo gần tới Chúa và chia sẻ trong hòa bình do Chúa Kitô mang đến. Đồng thời, mọi người đều được kêu gọi kiến tạo một thế giới của sự hoà giải, công lý và hoà bình mãi lớn hơn.

Tôi vui mừng chào những vận động viên điền kinh và đại diện Liên đoàn Khmer Kampuchea Krom. Tôi cũng chân tình hoan hô các Anh em Capuchin từ Phi châu đang tham gia trong một chương trình đổi mới thiêng liêng. Tôi câu xin niềm vui và hòa bình trong Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta, xuống trên tất cả những khách thăm viếng nói tiếng Anh hiện diện trong buổi triều yết hôm nay, cách riêng những người đến từ Ireland, Malta, Philippimes. Nam Phi và Hoa kỳ.

[Bản văn tiếng Anh phân phát do Cơ quan Báo chí Vatican]