Khác với Ngày Hòa Bình Thế Giới được tổ chức trên toàn thế giới đúng ngày 1 tháng Giêng hàng năm, Ngày Di Dân Thế Giới được các Hội Đồng Giám Mục của các nước chỉ định vào một ngày nào đó thuận tiện trong năm. Sứ điệp Ngày Di Dân Thế Giới đã được Phòng Báo Chí Tòa Thánh công bố vào ngày 23/12/2003 bằng Ý Ngữ và Pháp Ngữ. Bản dịch Việt Ngữ căn cứ theo bản tiếng Pháp.
1. Ngày di dân và tị nạn năm nay với chủ đề "Các cuộc di dân trong viễn tượng hòa bình" là cơ hội để suy tư về một đề tài rất quan trọng. Thật vậy, đề tài này thu hút sự chú ý của công luận về sự bó buộc phải di động của con người, nhất là những khía cạnh thời sự của vấn đề liên quan đến chiến tranh, bạo lực, khủng bố và đàn áp, kỳ thị và bất công ngày càng hiện diện nhiều hơn trong tin tức hàng ngày. Các phương tiện truyền thông xã hội đưa vào các gia đình những hình ảnh đau thương, bạo lực, và xung đột võ trang. Đó là những thảm trạng đang làm đảo lộn nhiều quốc gia và đại lục. Và thường khi những vùng bị thiệt hại nhiều nhất lại là những vùng nghèo nhất. Vì thế, thảm trạng này nối tiếp với thảm trạng khác.
Điều đáng tiếc là chúng ta phải quen nhìn thấy những hình ảnh của đoàn lũ người vô tận tản cư, những cuộc chạy trốn trong tuyệt vọng của dân tị nạn, những người di cư dùng đủ mọi phương tiện để vào những quốc gia giầu có hơn hầu tìm kiếm những giải pháp cho những nhu cầu của bản thân và của gia đình họ. Vì thế một câu hỏi được đặt ra là làm sao nói về hòa bình khi mà người ta liên tục nhận thấy có những tình trạng căng thẳng tại nhiều miền trên trái đất? và làm sao mà hiện tượng di dân có thể góp phần kiến tạo hòa bình giữa con người với nhau?
2. Không ai có thể chối cãi rằng khát vọng hòa bình ở trong tâm hồn của đại đa số nhân loại. Chính ước muốn nồng nhiệt ấy thôi thúc phải tìm mọi phương thế để thực hiện một tương lai tốt đẹp hơn cho mọi người. Ngày nay chúng ta càng xác tín rằng cần phải bài trừ tai ương chiến tranh tận gốc rễ của nó vì hòa bình không chỉ là tình trạng vắng bóng các xung đột nhưng còn là một tiến trình sinh động và dự phần về lâu về dài, bao gồm mọi thành phần xã hội từ gia đình đến học đường và các tổ chức khác, các cơ quan quốc gia và quốc tế. Cùng nhau chúng ta có thể và phải xây dựng một nền văn hóa hòa bình thích hợp để ngăn ngừa việc sử dụng võ khí và mọi hình thức bạo lực. Vì thế, cần phải khuyến khích các cử chỉ và nỗ lực cụ thể nhằm tha thứ và hòa giải. Cần vượt thắng những xung khắc và chia rẽ có thể kéo dài mà không có viễn tượng giải quyết. Chúng ta cũng cần phải mạnh mẽ tái khẳng định rằng không thể có một nền hòa bình đích thực nếu không có công lý và sự tôn trọng các quyền con người. Thật vậy, có một mối liên hệ chặt chẽ giữa công lý và hòa bình như ngôn sứ Isaia đã nêu rõ trong Cựu Ước "Opus iustitiae pax" ("công việc của công lý là hòa bình") (Is 32, 17).
3. Kiến tạo những điều kiện cụ thể để có hòa bình đối với những người di dân và tị nạn có nghĩa là dấn thân nghiêm chỉnh để bảo vệ trước tiên là quyền không phải di cư. Nghĩa là quyền được sống an bình xứng với phẩm giá con người tại chính quê hương của mình nhờ một sự cai trị sáng suốt tại địa phương và trên toàn quốc, nhờ một nền thương mại công bằng và sự hợp tác quốc tế trong tinh thần liên đới. Mỗi nước phải được giúp đỡ để có thể bảo đảm cho người dân của mình ngoài tự do ngôn luận và cư trú còn có khả năng thỏa mãn những nhu cầu căn bản như lương thực, sức khoẻ, công ăn việc làm, nhà ở, và giáo dục. Sự không thỏa mãn những nhu cầu này sẽ khiến cho nhiều người dân buộc phải tính đến chuyện di cư.
Điều chắc chắn là con người cũng có quyền di cư. Chân phước Gioan XXIII, trong thông điệp Mater et magistra (Mẹ và Thầy) đã nhắc nhở rằng căn bản của quyền di cư là sự kiện tài nguyên của trái đất này được dựng nên là để cho tất cả mọi người sử dụng. Dĩ nhiên là các chính quyền có nhiệm vụ điều phối làn sóng di dân trong niềm tôn trọng hoàn toàn nơi phẩm giá mỗi con người và các nhu cầu của gia đình họ, để ý đến những đòi hỏi của xã hội tiếp nhận người di dân. Các hiệp định quốc tế bảo vệ người di dân cũng như những người xin lánh nạn hay tị nạn chính trị tại một nước khác. Các hiệp định luôn luôn có thể kiện toàn hơn nữa.
4. Không ai được tỏ ra lãnh đạm trước những tình cảnh của vô số người di dân. Đây là những người bị các biến cố đưa đẩy và họ để lại đằng sau lưng những tình cảnh nhiều khi rất bi thảm. Các phương tiện truyền thông trình chiếu các hình ảnh đau thương và nhiều khi rùng rợn về những người ấy. Họ là những trẻ em, người trẻ, người lớn, người già với những khuôn mặt hốc hác, đôi mắt đầy đau buồn và cô đơn. Trong những trại nơi họ được tiếp nhận, họ bị hạn chế nghiêm nhặt. Nhưng về điểm này, cũng cần phải nhìn nhận những cố gắng đáng khen ngợi của những tổ chức công quyền cũng như tư nhân nhắm xoa dịu những tình trạng đáng quan ngại tại nhiều miền trên thế giới.
Chúng ta cũng không thể không tố giác hành động khai thác của những kẻ vô lương tâm, những kẻ bỏ mặc những người đang tuyệt vọng muốn tìm kiếm một tương lai đỡ bấp bênh hơn trên những con thuyền mong manh giữa biển khơi. Những người trong tình trạng đau thương ấy cần được cứu giúp ân cần và cụ thể.
5. Mặc dù có những vấn đề như tôi vừa nhắc đến trên đây, thế giới người di dân có thể đóng góp hữu hiệu cho việc củng cố hòa bình. Thực vậy, những cuộc di dân có thể tạo điều kiện dễ dàng cho sự gặp gỡ và cảm thông giữa những nền văn minh, cũng như giữa cá nhân và cộng đồng. Sự đối thoại phong phú này giữa các nền văn hóa tạo ra một con đường cần thiết để xây dựng một thế giới hòa giải như tôi đã viết trong thông điệp ngày Hòa Bình Thế Giới năm 2001. Điều đó xảy ra khi những người di dân được đối xử trong niềm tôn trọng phẩm giá của mỗi người và khi người ta dùng mọi phương thế để cổ võ cho một nền văn hóa hiếu khách, và một nền văn hóa hòa bình biết hòa hợp những khác biệt và tìm kiếm đối thoại miễn là không ngả theo những hình thức dửng dưng lãnh đạm khi đương đầu với những vấn đề liên quan đến giá trị. Sự cởi mở trong tinh thần liên đới như thế trở thành một đóng góp và cũng là một điều kiện để có hòa bình.
Nếu người ta tạo điều kiện dễ dàng cho sự hội nhập từ từ của người di dân trong niềm tôn trọng căn tính của họ và đồng thời bảo tồn gia sản văn hóa của đất nước đón tiếp người di dân thì sẽ giảm bớt nguy cơ người di dân sống tập trung vào những ghetto bị cô lập với môi trường xã hội chung quanh, và rốt cục nhiều người ước muốn dần dần chinh phục lãnh thổ.
Khi những khác biệt dần dần hội nhập thì sẽ mở đường cho sự sống chung giữa những khác biệt. Người ta tái khám phá những giá trị chung của mọi nền văn hóa có khả năng liên kết chứ không chia rẽ, những giá trị đào sâu căn cội cho những điểm chung của nhân loại. Điều đó giúp phát triển một sự đối thoại hữu ích để kiến tạo một con đường bao dung đối với nhau, con đường thực tiễn và tôn trọng những đặc thù của mỗi người. Với những điều kiện như thế hiện tượng di dân sẽ góp phần vun trồng "một giấc mơ" về một tương lai hòa bình cho toàn thể nhân loại.
6. Phúc cho những người xây dựng hòa bình! Chúa đã nói như thế (x. Mt 5, 9a). Đối với các tín hữu Kitô, sự tìm kiếm hiệp thông huynh đệ giữa con người với nhau tìm được nguồn mạch và mẫu gương nơi Thiên Chúa, Đấng có một bản tính duy nhất và ba ngôi vị. Tôi thành tâm cầu mong rằng mỗi cộng đoàn Giáo Hội gồm những người di dân và tị nan, và những người đón tiếp họ kín múc được những động lực khích lệ nơi nguồn mạch ân thánh, dấn thân không ngừng để xây dựng hòa bình. Ước gì không một ai cam chịu bất công hay để cho mình nản chí vì những khó khăn và khó chịu.
Nếu "ước mơ" một thế giới thanh bình là điều biết bao người đều mong muốn và nếu người ta đề cao giá trị những đóng góp của người di dân và tị nạn thì nhân loại ngày càng có thể trở thành một gia đình của mọi người và trái đất của chúng ta thực sự trở thành "mái nhà chung".
7. Chúa Giêsu qua cuộc sống và nhất là cái chết của Ngài trên thập giá đã chỉ cho chúng ta đâu là con đường phải theo. Với sự phục sinh của Ngài, Chúa đảm bảo với chúng ta rằng sự thiện luôn chiến thắng sự ác và mọi nỗ lực cũng như cơ cực của chúng ta được dâng lên Chúa Cha trên trời hiệp với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu đều góp phần vào việc thực hiện kế hoạch cứu độ cho tất cả mọi người.
Với xác tín này, tôi mời gọi tất cả mọi người có liên hệ đến lãnh vực di dân hãy trở thành những người kiến tạo hòa bình. Tôi đặc biệt nhớ đến họ trong kinh nguyện và trong khi cầu khẩn sự chuyển cầu của Mẹ Maria, Mẹ của Con Duy Nhất của Thiên Chúa đã xuống thế làm người, tôi gởi đến mọi người và từng người phép lành của tôi.
Vatican, ngày 15/12/2003.
+ Gioan Phaolô II, Giáo Hoàng.
Sứ điệp Ngày Di Dân Thế Giới Lần Thứ 90 (2004) của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
Các cuộc di dân trong viễn tượng hòa bình
Các cuộc di dân trong viễn tượng hòa bình
1. Ngày di dân và tị nạn năm nay với chủ đề "Các cuộc di dân trong viễn tượng hòa bình" là cơ hội để suy tư về một đề tài rất quan trọng. Thật vậy, đề tài này thu hút sự chú ý của công luận về sự bó buộc phải di động của con người, nhất là những khía cạnh thời sự của vấn đề liên quan đến chiến tranh, bạo lực, khủng bố và đàn áp, kỳ thị và bất công ngày càng hiện diện nhiều hơn trong tin tức hàng ngày. Các phương tiện truyền thông xã hội đưa vào các gia đình những hình ảnh đau thương, bạo lực, và xung đột võ trang. Đó là những thảm trạng đang làm đảo lộn nhiều quốc gia và đại lục. Và thường khi những vùng bị thiệt hại nhiều nhất lại là những vùng nghèo nhất. Vì thế, thảm trạng này nối tiếp với thảm trạng khác.
Điều đáng tiếc là chúng ta phải quen nhìn thấy những hình ảnh của đoàn lũ người vô tận tản cư, những cuộc chạy trốn trong tuyệt vọng của dân tị nạn, những người di cư dùng đủ mọi phương tiện để vào những quốc gia giầu có hơn hầu tìm kiếm những giải pháp cho những nhu cầu của bản thân và của gia đình họ. Vì thế một câu hỏi được đặt ra là làm sao nói về hòa bình khi mà người ta liên tục nhận thấy có những tình trạng căng thẳng tại nhiều miền trên trái đất? và làm sao mà hiện tượng di dân có thể góp phần kiến tạo hòa bình giữa con người với nhau?
2. Không ai có thể chối cãi rằng khát vọng hòa bình ở trong tâm hồn của đại đa số nhân loại. Chính ước muốn nồng nhiệt ấy thôi thúc phải tìm mọi phương thế để thực hiện một tương lai tốt đẹp hơn cho mọi người. Ngày nay chúng ta càng xác tín rằng cần phải bài trừ tai ương chiến tranh tận gốc rễ của nó vì hòa bình không chỉ là tình trạng vắng bóng các xung đột nhưng còn là một tiến trình sinh động và dự phần về lâu về dài, bao gồm mọi thành phần xã hội từ gia đình đến học đường và các tổ chức khác, các cơ quan quốc gia và quốc tế. Cùng nhau chúng ta có thể và phải xây dựng một nền văn hóa hòa bình thích hợp để ngăn ngừa việc sử dụng võ khí và mọi hình thức bạo lực. Vì thế, cần phải khuyến khích các cử chỉ và nỗ lực cụ thể nhằm tha thứ và hòa giải. Cần vượt thắng những xung khắc và chia rẽ có thể kéo dài mà không có viễn tượng giải quyết. Chúng ta cũng cần phải mạnh mẽ tái khẳng định rằng không thể có một nền hòa bình đích thực nếu không có công lý và sự tôn trọng các quyền con người. Thật vậy, có một mối liên hệ chặt chẽ giữa công lý và hòa bình như ngôn sứ Isaia đã nêu rõ trong Cựu Ước "Opus iustitiae pax" ("công việc của công lý là hòa bình") (Is 32, 17).
3. Kiến tạo những điều kiện cụ thể để có hòa bình đối với những người di dân và tị nạn có nghĩa là dấn thân nghiêm chỉnh để bảo vệ trước tiên là quyền không phải di cư. Nghĩa là quyền được sống an bình xứng với phẩm giá con người tại chính quê hương của mình nhờ một sự cai trị sáng suốt tại địa phương và trên toàn quốc, nhờ một nền thương mại công bằng và sự hợp tác quốc tế trong tinh thần liên đới. Mỗi nước phải được giúp đỡ để có thể bảo đảm cho người dân của mình ngoài tự do ngôn luận và cư trú còn có khả năng thỏa mãn những nhu cầu căn bản như lương thực, sức khoẻ, công ăn việc làm, nhà ở, và giáo dục. Sự không thỏa mãn những nhu cầu này sẽ khiến cho nhiều người dân buộc phải tính đến chuyện di cư.
Điều chắc chắn là con người cũng có quyền di cư. Chân phước Gioan XXIII, trong thông điệp Mater et magistra (Mẹ và Thầy) đã nhắc nhở rằng căn bản của quyền di cư là sự kiện tài nguyên của trái đất này được dựng nên là để cho tất cả mọi người sử dụng. Dĩ nhiên là các chính quyền có nhiệm vụ điều phối làn sóng di dân trong niềm tôn trọng hoàn toàn nơi phẩm giá mỗi con người và các nhu cầu của gia đình họ, để ý đến những đòi hỏi của xã hội tiếp nhận người di dân. Các hiệp định quốc tế bảo vệ người di dân cũng như những người xin lánh nạn hay tị nạn chính trị tại một nước khác. Các hiệp định luôn luôn có thể kiện toàn hơn nữa.
4. Không ai được tỏ ra lãnh đạm trước những tình cảnh của vô số người di dân. Đây là những người bị các biến cố đưa đẩy và họ để lại đằng sau lưng những tình cảnh nhiều khi rất bi thảm. Các phương tiện truyền thông trình chiếu các hình ảnh đau thương và nhiều khi rùng rợn về những người ấy. Họ là những trẻ em, người trẻ, người lớn, người già với những khuôn mặt hốc hác, đôi mắt đầy đau buồn và cô đơn. Trong những trại nơi họ được tiếp nhận, họ bị hạn chế nghiêm nhặt. Nhưng về điểm này, cũng cần phải nhìn nhận những cố gắng đáng khen ngợi của những tổ chức công quyền cũng như tư nhân nhắm xoa dịu những tình trạng đáng quan ngại tại nhiều miền trên thế giới.
Chúng ta cũng không thể không tố giác hành động khai thác của những kẻ vô lương tâm, những kẻ bỏ mặc những người đang tuyệt vọng muốn tìm kiếm một tương lai đỡ bấp bênh hơn trên những con thuyền mong manh giữa biển khơi. Những người trong tình trạng đau thương ấy cần được cứu giúp ân cần và cụ thể.
5. Mặc dù có những vấn đề như tôi vừa nhắc đến trên đây, thế giới người di dân có thể đóng góp hữu hiệu cho việc củng cố hòa bình. Thực vậy, những cuộc di dân có thể tạo điều kiện dễ dàng cho sự gặp gỡ và cảm thông giữa những nền văn minh, cũng như giữa cá nhân và cộng đồng. Sự đối thoại phong phú này giữa các nền văn hóa tạo ra một con đường cần thiết để xây dựng một thế giới hòa giải như tôi đã viết trong thông điệp ngày Hòa Bình Thế Giới năm 2001. Điều đó xảy ra khi những người di dân được đối xử trong niềm tôn trọng phẩm giá của mỗi người và khi người ta dùng mọi phương thế để cổ võ cho một nền văn hóa hiếu khách, và một nền văn hóa hòa bình biết hòa hợp những khác biệt và tìm kiếm đối thoại miễn là không ngả theo những hình thức dửng dưng lãnh đạm khi đương đầu với những vấn đề liên quan đến giá trị. Sự cởi mở trong tinh thần liên đới như thế trở thành một đóng góp và cũng là một điều kiện để có hòa bình.
Nếu người ta tạo điều kiện dễ dàng cho sự hội nhập từ từ của người di dân trong niềm tôn trọng căn tính của họ và đồng thời bảo tồn gia sản văn hóa của đất nước đón tiếp người di dân thì sẽ giảm bớt nguy cơ người di dân sống tập trung vào những ghetto bị cô lập với môi trường xã hội chung quanh, và rốt cục nhiều người ước muốn dần dần chinh phục lãnh thổ.
Khi những khác biệt dần dần hội nhập thì sẽ mở đường cho sự sống chung giữa những khác biệt. Người ta tái khám phá những giá trị chung của mọi nền văn hóa có khả năng liên kết chứ không chia rẽ, những giá trị đào sâu căn cội cho những điểm chung của nhân loại. Điều đó giúp phát triển một sự đối thoại hữu ích để kiến tạo một con đường bao dung đối với nhau, con đường thực tiễn và tôn trọng những đặc thù của mỗi người. Với những điều kiện như thế hiện tượng di dân sẽ góp phần vun trồng "một giấc mơ" về một tương lai hòa bình cho toàn thể nhân loại.
6. Phúc cho những người xây dựng hòa bình! Chúa đã nói như thế (x. Mt 5, 9a). Đối với các tín hữu Kitô, sự tìm kiếm hiệp thông huynh đệ giữa con người với nhau tìm được nguồn mạch và mẫu gương nơi Thiên Chúa, Đấng có một bản tính duy nhất và ba ngôi vị. Tôi thành tâm cầu mong rằng mỗi cộng đoàn Giáo Hội gồm những người di dân và tị nan, và những người đón tiếp họ kín múc được những động lực khích lệ nơi nguồn mạch ân thánh, dấn thân không ngừng để xây dựng hòa bình. Ước gì không một ai cam chịu bất công hay để cho mình nản chí vì những khó khăn và khó chịu.
Nếu "ước mơ" một thế giới thanh bình là điều biết bao người đều mong muốn và nếu người ta đề cao giá trị những đóng góp của người di dân và tị nạn thì nhân loại ngày càng có thể trở thành một gia đình của mọi người và trái đất của chúng ta thực sự trở thành "mái nhà chung".
7. Chúa Giêsu qua cuộc sống và nhất là cái chết của Ngài trên thập giá đã chỉ cho chúng ta đâu là con đường phải theo. Với sự phục sinh của Ngài, Chúa đảm bảo với chúng ta rằng sự thiện luôn chiến thắng sự ác và mọi nỗ lực cũng như cơ cực của chúng ta được dâng lên Chúa Cha trên trời hiệp với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu đều góp phần vào việc thực hiện kế hoạch cứu độ cho tất cả mọi người.
Với xác tín này, tôi mời gọi tất cả mọi người có liên hệ đến lãnh vực di dân hãy trở thành những người kiến tạo hòa bình. Tôi đặc biệt nhớ đến họ trong kinh nguyện và trong khi cầu khẩn sự chuyển cầu của Mẹ Maria, Mẹ của Con Duy Nhất của Thiên Chúa đã xuống thế làm người, tôi gởi đến mọi người và từng người phép lành của tôi.
Vatican, ngày 15/12/2003.
+ Gioan Phaolô II, Giáo Hoàng.