Về "Những Đêm Tối" của Mẹ Teresa
VATICAN (Zenit.org). Phần hai bài suy niệm thứ hai mùa Vọng của Cha Dòng Capuchin, Lm Raniero Cantalamessa giảng phòng cho Giáo Triều tại Vatican vào ngày Thứ Sáu 12/12, trước sự hiện diện của Đức Giáo Hoàng và những giáo sĩ Giáo Triều Roma.
* * *
Linh Mục Raniero Cantalamessa
Mùa Vọng 2003 tại Hộ Giáo Hoàng
Bài giảng thứ hai (tiếp theo)
"Dầu tôi bước đi trong Thung lũng tối.. . "
4. Về phía các người vô thần
Đúng hơn đối với các thánh "thời xưa", các nhà thần bí là những người hiện đại nhất trong các thánh. Thế giới ngày nay biết có một hạng người mới: những kẻ vô thần có lòng ngay, họ là những kẻ sống cách đau thương trong những hoàn cảnh thinh lặng của Chúa, ho không tin Chúa nhưng không khoe khoang về sự này; đúng hơn họ kinh nghiệm sự âu lo hiện sinh và sự thiếu ý nghĩa của mọi sự; theo cách của họ, họ cũng sống trong đêm tối tinh thần. Albert Camus đã gọi họ là "những ông thánh không có Chúa." Những nhà thần bí hiện hữu hơn hết là vì họ; những người thần bí là những người đồng hành và đồng bàn với họ. Như Chúa Giêsu, các người thần bí ngồi vào bàn những người tội lỗi và ăn với họ." (x. Lc 15:2).
Điều này giải thích sự say mê mà một số người vô thần một khi trở lại, đã quy vào trong những bài viết về các nhà thần bí: Claudel, Bernanos, hai Maritains, L.Bloy, văn sĩ J.K.Huysmans và nhiều ngưiờ khác quy vào những bài viết về Angela Foligno; T.S. Eliot quy vào những bài viết về Julian of Norwich. Ở đó họ gặp lại cũng một quan cảnh mà họ đã rời bỏ, nhưng lần này được mặt trời soi sáng. Năm nay là kỷ niệm năm thứ 50 đến cuốn phim đầu tiên "Waiting for Godot," thảm kịch tiêu biểu nhất thuộc kịch bản của sự phi lý, nhưng ít người biết rằng tác giả là Sanuel Beckett, trong lúc rảnh rỗi đã đọc về Thánh Gioan Thánh Giá.
Tiếng "vô thần" có thể có một nghĩa tích cực và tiêu cực. Tiếng đó có thể chỉ một người bỏ Chúa, nhưng cũng chỉ đến người bị Chúa bỏ rơi. Trong trường hợp đầu, đó là một thuyết vô thần đáng trách (khi nó không có lòng ngay), trong trường hợp thứ hai đó là một thuyết vô thần của sự buồn nản hay của sự đền tội. Theo nghĩa sau chúng ta có thể nói những người vô thần, trong đêm tinh thần, là "những a-tei,", những người không có Chúa. Mẹ Teresa có những lời nói mà không một ai có thể nghi là của Mẹ:
"Người ta nói kẻ dưới hỏa ngục chịu đau khổ đời đời vì mất Chúa.. . Trong linh hồn con, con cảm thấy chính sự đau đớn kinh khủng vì sự mất mát, vì Chúa không muốn con, vi Chúa không phải là Chúa, vì Chúa không thật sự hiện hữu. Lạy Chúa Giêsu xin tha thứ cho sự phạm thượng này." 916)
Nhưng người ta ý thức về bản tính khác biệt, về tình liên đới và về sự đền tội, về "thuyết vô thần" này của Mẹ
"Con muốn sống trong thế giới này, thế giới rất xa Chúa, thế giới đã quay lưng rất nhiều khỏi ánh sáng Chúa Giêsu, để giúp đỡ họ--để nhận lấy trên con một phần đau khổ của họ." [17]
Những nhà thần bí chỉ cách một bước với thế giới của những kẻ sống không Thiên Chúa; các vị đó đã kinh nghiệm sự choáng váng lao mình xuống. Một lần nữa, Mẹ Tereesa đã viết cho cha linh hướng:
"Con đã súyt nói--Không.. . Con cảm giác dường như một cái gì đó một ngày nào đó sẽ đổ gãy trong con.. . Xin cầu nguyện cho con đừng từ chối Chúa trong giờ này--Con không muốn làm điều đó, nhưng con sợ con có thể làm điều đó" [18]
Do đó những nhà thần bí là những nhà truyền Giáo lý tưởng trong thế giới hậu-cận đại, nơi người ta sống "etsi Deus no daretur," dường như Chúa không hiện hữu. Các nhà thần bí nhắc những người vô thần lương thiện nhớ rằng họ không "xa nước Thiên Chúa"; rằng chỉ cần nhảy qua phía những nhà thần bí, nhảy qua từ sự hư vô tới đấng TẤT CẢ.. Karl Rahner nói đúng: "Kitô Giáo của tương lai, hoặc là có tính thần bí hay là không là gì hết." Padre Pio và Mẹ Teresa là câu đáp ứng cho dấu chỉ này của thời đại. Chúng ta không nên "phí" các thánh, bằng cách chỉ coi các ngài là những kẻ phân phối các ân sủng hay những gương lành.
5. Đêm tối nhỏ bé của chúng ta
Nhưng, những nhà thần bí cũng có một cái gì để nói với chúng ta là những người tin, chớ không phải đối với những người vô thần. Các ngài không phải là một luật trừ, hay là một hạng biệt lập với người Kitô hữu. Đúng hơn, các ngài chứng tỏ một cách sâu rộng sự lớn lên toàn vẹn của sự sống ân sủng là gì. Một điều hơn hết mà chúng ta học từ đêm tối của những nhà thần bí và nhất là đối với Mẹ Teresa: phải ứng xử thế nào trong những lúc khô khan, khi sự cầu nguyện trở nên một trận chiến, một cố gắng, một cái đập đầu vào một "bức tường than khóc."
Không cần nhấn mạnh đến sự cầu nguyện của Mẹ Teresa trong tất cả những năm trải qua đêm tối, hình ảnh của Mẹ khi cầu nguyện là một hình ảnh chúng ta vẫn còn trước mắt chúng ta. Một loạt những kinh rất đẹp thuộc di sản quí báu nhất Mẹ đã để lại cho các con cái của Mẹ và cho Giáo hội. Về Chúa Giêsu, Thánh sử Luca nói rằng: "Người lâm cơn xao xuyến bối rối, nên càng khẩn thiết nài xin," "factus in agonia prolixius orabat" (Lc 22: 44). Đó là điều cũng được nhật thấy trong đời sống của những linh hồn này.
Sự khô khan khi cầu nguyện, khi nó không phải là hậu quả của sự phung phí và của những thỏa hiệp cho xác thịt, nhưng vì Chúa cho phép là hình thức giảm nhẹ và thông thường mà đêm tối biểu thị đến hầu hết những người hướng về sự thánh thiện. Trong hoàn cảnh này, điều quan trọng là không chịu thua và bắt đầu từ bỏ sự cầu nguyện để lao vào việc làm, vì nhận thấy việc cầu nguyện mang lại hiệu quả rất ít. Khi Chúa không có ở đó, điều quan trọng ít nhất là chỗ của Người trống vắng nhưng không nên để cho một ngãu tượng nào thay thế vào, nhất là ngẫu tượng được được cho là có sự hoạt động..
Muốn tránh điều này xãy ra thì thỉnh thoảng nên ngưng việc làm để nâng một ý nghĩ lên cùng Chúa, hay là chỉ hy sinh một chút thời gian cho Người. Trong thời gian khô khan điều cần thiết là tìm một kiểu cách riêng để cầu nguỵên mà Chân phước Angela tại Foligno gọi đó là sự cầu nguyện cưỡng bách và thánh nhân cho biết thánh nhân đã làm như vậy.
"Điều tốt đẹp và rất đẹp lòng Chúa là anh em cầu nguyện với sự sốt sắng trong ân sủng Chúa, là anh em tỉnh thức và cố gắng thực hiện mọi việc lành, nhưng điều làm cho Chúa vui thích và chấp nhận hơn nếu khi nhận lãnh ân sủng thì ít nhất anh em không được giảm bớt đi sự cầu nguyện, những canh thức và những việc lành của anh em. Hãy hành động không ân sủng, cũng như anh em đã hành động khi có ân sủng.. . Hỡi con , con hãy làm phần của con, và Chúa sẽ làm phần của Người. Sự cầu nguyện cưỡng bách, bạo hành rất đẹp lòng Chuá." [19].
Đó là một sự cầu nguyện có thể thực hiện với thể xác và với tâm trí. Đó là một giao ước bí mật giữa ý muốn và thân xác và điều cần là xử dụng nó dể bắt tâm trí.. . tùng phục lý trí. Dầu khi ý muốn chúng ta không thể khiến tâm trí có hay không có một vài ý nghĩ, nó có thể điều khiển thân xác: bái gối, chắp tay, mở miệng lưỡi ra và đọc một đôi lời; ví dụ:"Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần."
Một nhà thàn bí phương Đông Isaac the Syrian nói rằng: "Khi con tim chết và chúng ta không còn một lời kinh sau cùng, cũng không có một lời cầu khẩn nào, ước gì Thiên Chúa đến và và gặp chúng ta khi chúng ta sấp mặt xuống đất mãi mãi." Mẹ Teresa cũng biết sư cầu nguyện "cưỡng bách " này
"Ngày kia con không thể nói cho cha biết con cảm thấy xấu hổ là dường nào--có một lúc con gần như từ chối chấp nhận-- con quyết tâm đọc kinh Mân côi và đọc rất chậm không suy gẫm cũng không nghĩ--Con đọc kinh đó chậm rãi và bình tỉnh." [20]
Công việc đơn giản là ở lại trong nhà thờ, hay là chọn một nơi để cầu nguyện, con đường duy nhất củaviệc cầu nguyện đơn giản lúc này là tiếp tục bền đỗ trong sự cầu nguyện. Chúa biết chúng ta có thể đi làm một trăm chuyện hữu ích mà có thể làm ho chúng ta thích thú hơn, nhưng chúng ta ở đó, tận dụng mọi thời gian trong thời biểu của chúng ta dành cho Chúa, hay là do sự dốc quyết của chúng ta.
Với một đệ tử hay than phiền không thể cầu nguyện vì những sự lo ra cho một đan sĩ cao niên, vị đan sĩ này trả lời: "Hãy để ý nghĩ của anh đi đâu mặc nó, nhưng đừng để thân xác anh đi ra khỏi phòng!" [21]. Đó là một lời khuyên cũng còn có giá trị cho chúng ta, khi chúng ta thấy mình trong những hoàn cảnh lo ra kinh niên mà chúng ta không còn kiềm chế được nữa. Chúng ta hãy để ý nghĩ chúng ta đi đâu thì tùy ý nó, nhưng hãy để thân xác chúng ta trong sự cầu nguyện!
Trong lúc khô khan chúng ta phải nhớ những lời rất ngọt ngào của vị Tông đồ: " Thần khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn" (Rm 8:26 ff.) Thần khi, đang khi chúng ta không ý thức, làm tràn đầy những lời nói và những thở dài của chúng ta với sư ao ước được Chúa, được khiêm tốn, được yêu. Bây giờ Đấng An ủi trở thành sức mạnjh của sự cầu nguyện "yếu đuối" của chúng ta, ánh sáng của sự cầu nguyện bị dập tắt của chúng ta, nói tóm lại là linh hồn của sự cầu nguyện của chúng ta. Thật vậy, như Ca tiếp liên nói, Người "tưới những gì khô cằn," "rigat quod est aridum."
Tất cả sự này đến với chúng ta qua đức tin. Tôi chỉ cần nói: "Lạy Cha, Cha đã ban cho con Thần khí Chúa Giêsu; do đó, đang khi làm thành 'chỉ một Thần khí' với Người, con đọc Thánh vịnh này, con cử hành Thánh lễ này, hay là con chỉ thinh lặng, ở đây trước mặt Cha. Con muốn dâng cho Cha vinh quang này mà Chúa Giêsu muốn dâng cho Cha, nếu Người cầu nguyện trở lại từ mặt đất. "Với sự chắc chắn này chúng ta kết thúc suy tư của chúng ta bằng kinh nguyện sau đây:
"Lạy Chúa Thánh Thần, Chúa là Đấng cầu bàu trong con tim những kẻ tin với những lời than khôn tả, xin Chúa gõ cửa con tim của rất nhiều người đồng thời với chúng con sống mà không có Chúa và tuyệt vọng trong thế giới này. Xin Chúa soi sáng lòng trí của những kẻ trong giây phút này đang phát họa gương mặt tương lai lục địa chúng con, xin làm cho họ hiểu rằng Chúa Kitô không phải là một sự đe doạ cho bất cứ ai, nhưng là một người anh em của mọi người. Xin cho những người nghèo, những người thấp bé, nhưng người bị bắt bớ và những người bị loại trừ của châu Âu ngày mai không bị mất đi, vì sự thinh lặng có lỗi, mà sự bảo đảm đã mang lại cho tới ngày nay nhất là đã bảo vệ họ khỏi những sự tùy hứng và khỏi sự gian khổ trong cuộc sống: danh của người đầu tiên trong họ là Chúa Giêsu thành Nazareth!"
* * *
[16] "They say people in hell suffer eternal pain because of the loss of God.. .. In my soul I feel just this terrible pain of loss, of God not wanting me, of God not being God, of God not really existing. Jesus, please forgive the blasphemy," cf. Father Joseph Neuner, S.J., "On Mother Teresa's Charism," Review for Religious, September-October 2001, vol. 60, No. 5 [following abbreviation: JN].
[17] "I wish to live in this world which is so far from God, which has turned so much from the light of Jesus, to help them -- to take upon myself something of their suffering" (JN).
[18] "I have been on the verge of saying -- No. .. I feel as if something will break in me one day." "Pray for me that I may not refuse God in this hour -- I don't want to do it, but I am afraid I may do it," cf. Father A. Huart, S.J., "Mother Teresa: Joy in the Night," Review for Religious, September-October 2001, vol. 60, No. 5 [following abbreviation: AH].
[19] "Il libro della Beata Angela da Foligno," ed. Quaracchi, Grottaferrata, 1985, p. 576 s.
[20] "The other day I can't tell you how bad I felt -- there was a moment when I nearly refused to accept -- deliberately I took the Rosary and very slowly without even meditating or thinking -- I said it slowly and calmly" (AH).
[21] "Apophtegmi dei Padri," from the Coislin manuscript 126, No. 205 (ed. F. Nau, in Revue de l'Orient Chrtien, 13, 1908, p. 279).
VATICAN (Zenit.org). Phần hai bài suy niệm thứ hai mùa Vọng của Cha Dòng Capuchin, Lm Raniero Cantalamessa giảng phòng cho Giáo Triều tại Vatican vào ngày Thứ Sáu 12/12, trước sự hiện diện của Đức Giáo Hoàng và những giáo sĩ Giáo Triều Roma.
* * *
Linh Mục Raniero Cantalamessa
Mùa Vọng 2003 tại Hộ Giáo Hoàng
Bài giảng thứ hai (tiếp theo)
"Dầu tôi bước đi trong Thung lũng tối.. . "
4. Về phía các người vô thần
Đúng hơn đối với các thánh "thời xưa", các nhà thần bí là những người hiện đại nhất trong các thánh. Thế giới ngày nay biết có một hạng người mới: những kẻ vô thần có lòng ngay, họ là những kẻ sống cách đau thương trong những hoàn cảnh thinh lặng của Chúa, ho không tin Chúa nhưng không khoe khoang về sự này; đúng hơn họ kinh nghiệm sự âu lo hiện sinh và sự thiếu ý nghĩa của mọi sự; theo cách của họ, họ cũng sống trong đêm tối tinh thần. Albert Camus đã gọi họ là "những ông thánh không có Chúa." Những nhà thần bí hiện hữu hơn hết là vì họ; những người thần bí là những người đồng hành và đồng bàn với họ. Như Chúa Giêsu, các người thần bí ngồi vào bàn những người tội lỗi và ăn với họ." (x. Lc 15:2).
Điều này giải thích sự say mê mà một số người vô thần một khi trở lại, đã quy vào trong những bài viết về các nhà thần bí: Claudel, Bernanos, hai Maritains, L.Bloy, văn sĩ J.K.Huysmans và nhiều ngưiờ khác quy vào những bài viết về Angela Foligno; T.S. Eliot quy vào những bài viết về Julian of Norwich. Ở đó họ gặp lại cũng một quan cảnh mà họ đã rời bỏ, nhưng lần này được mặt trời soi sáng. Năm nay là kỷ niệm năm thứ 50 đến cuốn phim đầu tiên "Waiting for Godot," thảm kịch tiêu biểu nhất thuộc kịch bản của sự phi lý, nhưng ít người biết rằng tác giả là Sanuel Beckett, trong lúc rảnh rỗi đã đọc về Thánh Gioan Thánh Giá.
Tiếng "vô thần" có thể có một nghĩa tích cực và tiêu cực. Tiếng đó có thể chỉ một người bỏ Chúa, nhưng cũng chỉ đến người bị Chúa bỏ rơi. Trong trường hợp đầu, đó là một thuyết vô thần đáng trách (khi nó không có lòng ngay), trong trường hợp thứ hai đó là một thuyết vô thần của sự buồn nản hay của sự đền tội. Theo nghĩa sau chúng ta có thể nói những người vô thần, trong đêm tinh thần, là "những a-tei,", những người không có Chúa. Mẹ Teresa có những lời nói mà không một ai có thể nghi là của Mẹ:
"Người ta nói kẻ dưới hỏa ngục chịu đau khổ đời đời vì mất Chúa.. . Trong linh hồn con, con cảm thấy chính sự đau đớn kinh khủng vì sự mất mát, vì Chúa không muốn con, vi Chúa không phải là Chúa, vì Chúa không thật sự hiện hữu. Lạy Chúa Giêsu xin tha thứ cho sự phạm thượng này." 916)
Nhưng người ta ý thức về bản tính khác biệt, về tình liên đới và về sự đền tội, về "thuyết vô thần" này của Mẹ
"Con muốn sống trong thế giới này, thế giới rất xa Chúa, thế giới đã quay lưng rất nhiều khỏi ánh sáng Chúa Giêsu, để giúp đỡ họ--để nhận lấy trên con một phần đau khổ của họ." [17]
Những nhà thần bí chỉ cách một bước với thế giới của những kẻ sống không Thiên Chúa; các vị đó đã kinh nghiệm sự choáng váng lao mình xuống. Một lần nữa, Mẹ Tereesa đã viết cho cha linh hướng:
"Con đã súyt nói--Không.. . Con cảm giác dường như một cái gì đó một ngày nào đó sẽ đổ gãy trong con.. . Xin cầu nguyện cho con đừng từ chối Chúa trong giờ này--Con không muốn làm điều đó, nhưng con sợ con có thể làm điều đó" [18]
Do đó những nhà thần bí là những nhà truyền Giáo lý tưởng trong thế giới hậu-cận đại, nơi người ta sống "etsi Deus no daretur," dường như Chúa không hiện hữu. Các nhà thần bí nhắc những người vô thần lương thiện nhớ rằng họ không "xa nước Thiên Chúa"; rằng chỉ cần nhảy qua phía những nhà thần bí, nhảy qua từ sự hư vô tới đấng TẤT CẢ.. Karl Rahner nói đúng: "Kitô Giáo của tương lai, hoặc là có tính thần bí hay là không là gì hết." Padre Pio và Mẹ Teresa là câu đáp ứng cho dấu chỉ này của thời đại. Chúng ta không nên "phí" các thánh, bằng cách chỉ coi các ngài là những kẻ phân phối các ân sủng hay những gương lành.
5. Đêm tối nhỏ bé của chúng ta
Nhưng, những nhà thần bí cũng có một cái gì để nói với chúng ta là những người tin, chớ không phải đối với những người vô thần. Các ngài không phải là một luật trừ, hay là một hạng biệt lập với người Kitô hữu. Đúng hơn, các ngài chứng tỏ một cách sâu rộng sự lớn lên toàn vẹn của sự sống ân sủng là gì. Một điều hơn hết mà chúng ta học từ đêm tối của những nhà thần bí và nhất là đối với Mẹ Teresa: phải ứng xử thế nào trong những lúc khô khan, khi sự cầu nguyện trở nên một trận chiến, một cố gắng, một cái đập đầu vào một "bức tường than khóc."
Không cần nhấn mạnh đến sự cầu nguyện của Mẹ Teresa trong tất cả những năm trải qua đêm tối, hình ảnh của Mẹ khi cầu nguyện là một hình ảnh chúng ta vẫn còn trước mắt chúng ta. Một loạt những kinh rất đẹp thuộc di sản quí báu nhất Mẹ đã để lại cho các con cái của Mẹ và cho Giáo hội. Về Chúa Giêsu, Thánh sử Luca nói rằng: "Người lâm cơn xao xuyến bối rối, nên càng khẩn thiết nài xin," "factus in agonia prolixius orabat" (Lc 22: 44). Đó là điều cũng được nhật thấy trong đời sống của những linh hồn này.
Sự khô khan khi cầu nguyện, khi nó không phải là hậu quả của sự phung phí và của những thỏa hiệp cho xác thịt, nhưng vì Chúa cho phép là hình thức giảm nhẹ và thông thường mà đêm tối biểu thị đến hầu hết những người hướng về sự thánh thiện. Trong hoàn cảnh này, điều quan trọng là không chịu thua và bắt đầu từ bỏ sự cầu nguyện để lao vào việc làm, vì nhận thấy việc cầu nguyện mang lại hiệu quả rất ít. Khi Chúa không có ở đó, điều quan trọng ít nhất là chỗ của Người trống vắng nhưng không nên để cho một ngãu tượng nào thay thế vào, nhất là ngẫu tượng được được cho là có sự hoạt động..
Muốn tránh điều này xãy ra thì thỉnh thoảng nên ngưng việc làm để nâng một ý nghĩ lên cùng Chúa, hay là chỉ hy sinh một chút thời gian cho Người. Trong thời gian khô khan điều cần thiết là tìm một kiểu cách riêng để cầu nguỵên mà Chân phước Angela tại Foligno gọi đó là sự cầu nguyện cưỡng bách và thánh nhân cho biết thánh nhân đã làm như vậy.
"Điều tốt đẹp và rất đẹp lòng Chúa là anh em cầu nguyện với sự sốt sắng trong ân sủng Chúa, là anh em tỉnh thức và cố gắng thực hiện mọi việc lành, nhưng điều làm cho Chúa vui thích và chấp nhận hơn nếu khi nhận lãnh ân sủng thì ít nhất anh em không được giảm bớt đi sự cầu nguyện, những canh thức và những việc lành của anh em. Hãy hành động không ân sủng, cũng như anh em đã hành động khi có ân sủng.. . Hỡi con , con hãy làm phần của con, và Chúa sẽ làm phần của Người. Sự cầu nguyện cưỡng bách, bạo hành rất đẹp lòng Chuá." [19].
Đó là một sự cầu nguyện có thể thực hiện với thể xác và với tâm trí. Đó là một giao ước bí mật giữa ý muốn và thân xác và điều cần là xử dụng nó dể bắt tâm trí.. . tùng phục lý trí. Dầu khi ý muốn chúng ta không thể khiến tâm trí có hay không có một vài ý nghĩ, nó có thể điều khiển thân xác: bái gối, chắp tay, mở miệng lưỡi ra và đọc một đôi lời; ví dụ:"Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần."
Một nhà thàn bí phương Đông Isaac the Syrian nói rằng: "Khi con tim chết và chúng ta không còn một lời kinh sau cùng, cũng không có một lời cầu khẩn nào, ước gì Thiên Chúa đến và và gặp chúng ta khi chúng ta sấp mặt xuống đất mãi mãi." Mẹ Teresa cũng biết sư cầu nguyện "cưỡng bách " này
"Ngày kia con không thể nói cho cha biết con cảm thấy xấu hổ là dường nào--có một lúc con gần như từ chối chấp nhận-- con quyết tâm đọc kinh Mân côi và đọc rất chậm không suy gẫm cũng không nghĩ--Con đọc kinh đó chậm rãi và bình tỉnh." [20]
Công việc đơn giản là ở lại trong nhà thờ, hay là chọn một nơi để cầu nguyện, con đường duy nhất củaviệc cầu nguyện đơn giản lúc này là tiếp tục bền đỗ trong sự cầu nguyện. Chúa biết chúng ta có thể đi làm một trăm chuyện hữu ích mà có thể làm ho chúng ta thích thú hơn, nhưng chúng ta ở đó, tận dụng mọi thời gian trong thời biểu của chúng ta dành cho Chúa, hay là do sự dốc quyết của chúng ta.
Với một đệ tử hay than phiền không thể cầu nguyện vì những sự lo ra cho một đan sĩ cao niên, vị đan sĩ này trả lời: "Hãy để ý nghĩ của anh đi đâu mặc nó, nhưng đừng để thân xác anh đi ra khỏi phòng!" [21]. Đó là một lời khuyên cũng còn có giá trị cho chúng ta, khi chúng ta thấy mình trong những hoàn cảnh lo ra kinh niên mà chúng ta không còn kiềm chế được nữa. Chúng ta hãy để ý nghĩ chúng ta đi đâu thì tùy ý nó, nhưng hãy để thân xác chúng ta trong sự cầu nguyện!
Trong lúc khô khan chúng ta phải nhớ những lời rất ngọt ngào của vị Tông đồ: " Thần khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn" (Rm 8:26 ff.) Thần khi, đang khi chúng ta không ý thức, làm tràn đầy những lời nói và những thở dài của chúng ta với sư ao ước được Chúa, được khiêm tốn, được yêu. Bây giờ Đấng An ủi trở thành sức mạnjh của sự cầu nguyện "yếu đuối" của chúng ta, ánh sáng của sự cầu nguyện bị dập tắt của chúng ta, nói tóm lại là linh hồn của sự cầu nguyện của chúng ta. Thật vậy, như Ca tiếp liên nói, Người "tưới những gì khô cằn," "rigat quod est aridum."
Tất cả sự này đến với chúng ta qua đức tin. Tôi chỉ cần nói: "Lạy Cha, Cha đã ban cho con Thần khí Chúa Giêsu; do đó, đang khi làm thành 'chỉ một Thần khí' với Người, con đọc Thánh vịnh này, con cử hành Thánh lễ này, hay là con chỉ thinh lặng, ở đây trước mặt Cha. Con muốn dâng cho Cha vinh quang này mà Chúa Giêsu muốn dâng cho Cha, nếu Người cầu nguyện trở lại từ mặt đất. "Với sự chắc chắn này chúng ta kết thúc suy tư của chúng ta bằng kinh nguyện sau đây:
"Lạy Chúa Thánh Thần, Chúa là Đấng cầu bàu trong con tim những kẻ tin với những lời than khôn tả, xin Chúa gõ cửa con tim của rất nhiều người đồng thời với chúng con sống mà không có Chúa và tuyệt vọng trong thế giới này. Xin Chúa soi sáng lòng trí của những kẻ trong giây phút này đang phát họa gương mặt tương lai lục địa chúng con, xin làm cho họ hiểu rằng Chúa Kitô không phải là một sự đe doạ cho bất cứ ai, nhưng là một người anh em của mọi người. Xin cho những người nghèo, những người thấp bé, nhưng người bị bắt bớ và những người bị loại trừ của châu Âu ngày mai không bị mất đi, vì sự thinh lặng có lỗi, mà sự bảo đảm đã mang lại cho tới ngày nay nhất là đã bảo vệ họ khỏi những sự tùy hứng và khỏi sự gian khổ trong cuộc sống: danh của người đầu tiên trong họ là Chúa Giêsu thành Nazareth!"
* * *
[16] "They say people in hell suffer eternal pain because of the loss of God.. .. In my soul I feel just this terrible pain of loss, of God not wanting me, of God not being God, of God not really existing. Jesus, please forgive the blasphemy," cf. Father Joseph Neuner, S.J., "On Mother Teresa's Charism," Review for Religious, September-October 2001, vol. 60, No. 5 [following abbreviation: JN].
[17] "I wish to live in this world which is so far from God, which has turned so much from the light of Jesus, to help them -- to take upon myself something of their suffering" (JN).
[18] "I have been on the verge of saying -- No. .. I feel as if something will break in me one day." "Pray for me that I may not refuse God in this hour -- I don't want to do it, but I am afraid I may do it," cf. Father A. Huart, S.J., "Mother Teresa: Joy in the Night," Review for Religious, September-October 2001, vol. 60, No. 5 [following abbreviation: AH].
[19] "Il libro della Beata Angela da Foligno," ed. Quaracchi, Grottaferrata, 1985, p. 576 s.
[20] "The other day I can't tell you how bad I felt -- there was a moment when I nearly refused to accept -- deliberately I took the Rosary and very slowly without even meditating or thinking -- I said it slowly and calmly" (AH).
[21] "Apophtegmi dei Padri," from the Coislin manuscript 126, No. 205 (ed. F. Nau, in Revue de l'Orient Chrtien, 13, 1908, p. 279).