MỘT SỰ DẤN THÂN LUÔN CÓ TÍNH THỜI SỰ: GIÁO DỤC VỀ HÒA BÌNH

Xin ngỏ lời với quý vị,

Những Nhà Lãnh Đạo của các nước, những người có nghĩa vụ đề cao hòa bình!

Những Luật Gia, là những người dấn thân vạch ra những con đường cảm thông hòa bình, khi soạn thảo những quy ước và hiệp định nhằm tăng cường luật pháp thế giới.

Những Thầy Cô Giáo của thế hệ trẻ, là những người hoạt động không mệt mỏi trên tất cả các đại lục để giúp hình thành lương tâm hướng theo con đường hiểu biết và đối thoại!

Tôi cũng ngỏ lời với anh chị em, là những người nam nữ đang bị lôi cuốn quay sang những cách thế không thể chấp nhận được là khủng bố, đó là điều đang làm lung lay tận gốc rễ chính lý do vì đó mà các bạn chiến đấu!

Tất cả quý vị, xin lắng nghe lời kêu gọi khiêm tốn của người Kế Vị Thánh Phêrô mà hôm nay đây, ngày đầu tiên của Năm Mới 2004, một lần nữa đang kêu lên rằng: hòa bình vẫn là điều có thể. Và nếu hòa bình là có thể, đó cũng là một bổn phận!

Một sáng kiến thực tiễn

1. Sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới đầu tiên của tôi, vào ngày đầu tháng Giêng năm 1979, đã tập trung vào chủ đề: “Để có hòa bình, hãy giáo dục về hòa bình”. Sứ điệp Năm Mới đó đã tiếp nối con đường vạch ra bởi Đức Giáo Hoàng đáng kính Phaolô Đệ Lục, người đã mong muốn cử hành Ngày Hòa Bình Thế Giới vào ngày mùng 1 tháng Giêng hàng năm. Tôi nhớ lại lời của Đức Cố Giáo Hoàng vào năm 1968: "Chúng tôi mong ước rằng việc cử hành này diễn ra hàng năm như một dấu chỉ của hy vọng và một lời hứa, ở ngày đầu tiên của niên lịch, ngày hoạch định và hướng dẫn hành trình của đời người theo thời gian, sao cho Hòa Bình, với sự ổn định tốt đẹp và hữu ích của nó, sẽ ngự trị lịch sử đang hé mở" 1

Trung thành với những ước nguyện được bầy tỏ bởi vị tiền nhiệm đáng kính của tôi trên Ngai Tòa Thánh Phêrô, mỗi năm tôi đã tiếp tục truyền thống cao đẹp này bằng cách dành ngày đầu tiên của một năm cho việc suy niệm và cầu nguyện cho hòa bình thế giới. Trong hai mươi lăm năm triều Giáo Hoàng mà Thiên Chúa đã ban cho tôi đến nay, tôi đã không ngừng tuyên bố trước Giáo Hội và thế giới, mời gọi các tín hữu và những người thiện chí xiển dương hòa bình, và góp phần đem lại điều thiện căn bản này, qua đó bảo đảm một tương lai tốt đẹp hơn cho thế giới, một tương lai được đánh dấu bởi sự sống chung hòa bình và tôn trọng lẫn nhau.

Năm nay cũng vậy, tôi cảm thấy phải lên tiếng mời gọi mọi người nam nữ, trên mỗi đại lục, hãy cử hành Ngày Hòa Bình Thế Giới. Nhân loại hơn bao giờ hết cần tái khám phá con đường thương thảo đang bị chà đạp bởi ích kỷ và hận thù, bởi khát khao quyền lực và lòng ao ước trả thù.

Khoa học của hòa bình

2. Mười một Sứ Điệp gởi cho thế giới của Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục lần lượt vẽ ra con đường phải theo đuổi nhằm đạt đến lý tưởng hòa bình. Tuy chậm nhưng chắc chắn, Vị Giáo Hoàng vĩ đại này đã đưa ra những chương khác nhau của một nền "khoa học thực sự cho hòa bình". Thật là hữu ích khi ôn lại những chủ điểm trong các Sứ Điệp mà Đức Thánh Cha Phaolô Đệ Lục đã để lại cho chúng ta trong dịp này. 2Mỗi Sứ Điệp này, hôm nay đây, vẫn rất hợp thời. Thực vậy, trước thảm trạng của những cuộc chiến mà ở đầu Ngàn Năm Thứ Ba vẫn đang gây ra đổ máu khắp thế giới, đặc biệt tại Trung Đông, những sứ điệp này từng nơi từng lúc là những lời cảnh báo có tính tiên tri.

Nhập môn về hòa bình

3. Về phần tôi, xuyên suốt hai mươi lăm năm triều Giáo Hoàng của mình, tôi đã tìm cách tiến theo con đường đã được vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi đặt ra. Ở buổi rạng đông mỗi năm, tôi đã mời gọi những người thiện chí suy tư, dưới ánh sáng của lý trí và đức tin, về những khía cạnh khác nhau của một sự sống chung trong trật tự.

Thế là đã hình thành một tổng hợp giáo huấn về hòa bình, một thứ có tính nhập môn về chủ đề căn bản này: một sự nhập môn đơn sơ dễ hiểu với những ai đã rất đồng thuận, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi rất nhiều với những người nhạy cảm với tương lai của nhân loại 3.

Những sắc màu khác nhau của lăng kính hòa bình đến nay đã được trình bày bao quát. Nay là lúc phải hoạt động để lý tưởng sống chung hòa bình, với những yêu sách cụ thể, đi vào lương tâm của các cá nhân và dân tộc. Chúng tôi, các tín hữu Kitô cảm thấy cần phải dấn thân giáo dục bản thân và tha nhân về hòa bình như là một điều nằm chính ngay trung tâm của đạo chúng tôi. Thực vậy, đối với Kitô hữu, rao giảng hòa bình là rao giảng Chúa Kitô, Đấng là "hòa bình của chúng ta" (Eph 2:14); đó cũng là loan báo Tin Mừng của Ngài, một "Tin Mừng hòa bình"(Eph 6:15); là kêu gọi mọi người hãy sống mối phúc thật được làm “những người kiến tạo hòa bình” (x. Mt 5:9).

Giáo dục về hòa bình

4. Trong Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới hôm 1 Tháng Giêng Năm 1979, tôi đã đưa ra lời kêu gọi: Để có hòa bình, hãy giáo dục hòa bình . Ngày nay, lời kêu gọi ấy còn khẩn thiết hơn bao giờ, bởi vì con người, khi đứng trước những thảm trạng đang tiếp tục gây tổn thương cho nhân loại, đang bị cám dỗ khuất phục chủ nghĩa định mệnh, coi hòa bình như một lý tưởng không thế nào đạt được.

Giáo Hội, ngược lại, đã luôn luôn dạy và hôm nay đây vẫn tiếp tục dạy một châm ngôn rất đơn sơ: hòa bình là điều có thể . Thật vậy, Giáo Hội không ngừng lập lại rằng hòa bình là một nghĩa vụ . Hòa bình phải được xây dựng trên bốn cột trụ đã được Chân Phước Gioan XXIII nêu rõ trong thông điệp Pacem in Terris (Hòa bình dưới thế), đó là: sự thật, công lý, tình yêu và tự do. Một nghĩa vụ được đề ra cho tất cả những ai yêu mến hòa bình là nghĩa vụ giáo dục thế hệ trẻ về các lý tưởng hòa bình ấy cho các thế hệ trẻ , để chuẩn bị cho một tương lai sán lạn hơn của nhân loại.

Giáo dục về tinh thần tôn trọng luật pháp

5. Trong nghĩa vụ giáo dục về hòa bình này, điều đặc biệt cấp thiết là phải hướng dẫn cá nhân và các dân tộc tôn trọng trật tự thế giới và tuân giữ các cam kết đã được chính quyền đại diện hợp pháp của các dân tộc đề ra. Hòa bình và công pháp quốc tế có liên hệ mật thiết với nhau: luật pháp dọn đường cho hòa bình .

Từ đầu nền văn minh, các cộng đồng nhân loại đang phát triển đã tìm kiếm việc thiết lập các thỏa hiệp và hiệp định để tránh việc sử dụng võ lực tùy tiện và cho phép họ đi đến một giải pháp ôn hòa cho bất cứ cuộc tranh chấp nào có thể nảy sinh. Bên cạnh các hệ thống pháp luật riêng của các dân tộc, dần dần hình thành một bộ các quy luật khác được gọi là ius gentium (công pháp quốc tế). Với thời gian, các luật lệ này được cụ thể hóa hơn và được kiện toàn dưới ánh sáng những diễn tiến lịch sử của các dân tộc khác nhau.

Tiến trình này đã được đẩy mạnh với sự khai sinh của các Quốc Gia tân tiến. Từ thế kỷ thứ 16, các luật gia, triết gia, thần học gia đã dấn thân trong việc soạn thảo các chương khác nhau của công pháp quốc tế và làm cho chúng ăn rễ sâu vào những định đề căn bản của luật tự nhiên. Tiến trình này đẩy mạnh sự hình thành các nguyên tắc phổ quát ưu tiên hơn và có thế giá hơn cả luật nội bộ của Quốc Gia , để ý đến sự thống nhất và ơn gọi chung của gia đình nhân loại.

Trung tâm điểm của tất cả những điều này chắc chắn là nguyên tắc pacta sunt servanda : những hiệp ước tự do ký nhận phải được tôn trọng. Đó chính là điểm căn bản và là điều không thể tránh né được trong các quan hệ giữa những thành phần ký kết hiệp ước với tinh thần trách nhiệm. Sự vi phạm các hiệp ước chỉ tạo ra một tình trạng bất hợp pháp, từ đó nảy sinh những bất thuận và chống đối mà chắc chắn sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực và lâu dài. Vì vậy, cần phải nhắc lại quy luật căn bản ấy, nhất là lúc người ta nhận thấy cám dỗ muốn sử dụng luật của sức mạnh hơn là sức mạnh của luật.

Một trong những thời điểm này chắc chắn là thảm trạng mà nhân loại đã kinh qua trong Thế Giới Chiến Tranh Lần Thứ Hai: một vực thẳm bạo lực, tàn phá và chết chóc chưa từng thấy.

Tôn trọng luập pháp

6. Thế Chiến Thứ Hai với những kinh hoàng và những vụ chà đạp kinh khủng trên phẩm giá con người đã phát sinh một sự canh tân sâu xa luật pháp quốc tế . Sự bảo vệ và thăng tiến hòa bình được đặt nơi trọng tâm của một hệ thống những chuẩn mực và định chế được cập nhật rộng rãi. Nghĩa vụ canh chừng hòa bình và an ninh thế giới, khích lệ cố gắng của các quốc gia trong việc duy trì và bảo đảm những thiện ích căn bản ấy của nhân loại đã được Chính Phủ các nước trao phó cho một tổ chức quốc tế được thành lập với mục đích chuyên biệt này, đó là Liên Hiệp Quốc- với một Hội Đồng Bảo An được trao cho một quyền hành rộng rãi. Trung tâm của hệ thống này là việc cấm sử dụng võ lực. Theo chương VII rất nổi tiếng của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, việc cấm đoán ấy dự trù hai biệt lệ. Điều thứ nhất khẳng định quyền tự nhiên được tự vệ hợp pháp, được thực thi trong những cách thế đặc biệt và trong khuôn khổ của Liên Hiệp Quốc: và vì thế trong những giới hạn truyền thống của sự cần thiết, và sự tương xứng.

Biệt lệ thứ hai liên quan đến hệ thống an ninh chung, dành cho Hội Đồng Bảo An thẩm quyền và trách nhiệm duy trì hòa bình với những quyền quyết định và thẩm định rộng rãi.

Hệ thống do Hiến Chương Liên Hiệp Quốc đề ra nhằm mục đích "bảo vệ các thế hệ mai sau khỏi tai ương chiến tranh, mà đã hai lần trong một đời người gây ra những đau khổ khôn tả cho nhân loại".4Tuy nhiên, trong những thập niên tiếp theo, sự chia rẽ cộng đồng quốc tế thành những khối đối nghịch nhau, cuộc chiến tranh lạnh trên một phần của thế giới, sự bùng nổ những tranh chấp bạo động trong những miền đất khác và hiện tượng khủng bố đã tạo ra sự xa rời dần những ý tưởng và mong đợi của thời kỳ ngay sau chiến tranh.

Một trật tự thế giới mới

7. Nhưng cũng cần nhìn nhận rằng Liên Hiệp Quốc, dù có những giới hạn và chậm trễ phần nhiều là do những thiếu sót của các nước thành viên, đã tạo ra một đóng góp cao quý cho sự thăng tiến việc tôn trọng phẩm giá con người, tự do của các dân tộc và những yêu cầu của phát triển, và vì thế chuẩn bị về nền móng văn hóa và luật lệ cho việc kiến tạo hòa bình.

Hoạt động của Liên Hiệp Quốc được khích lệ lớn lao với nhận thức rằng những lý tưởng của Liên Hiệp Quốc đã thấm sâu rộng rãi, đặc biệt qua những dấu chỉ cụ thể của tình liên đới và hòa bình do các cá nhân tham gia trong các tổ chức Phi Chính Phủ và trong các Phong Trào đấu tranh cho nhân quyền thực hiện.

Điều này tiêu biểu cho một nguyện vọng tha thiết muốn tái tổ chức lại Liên Hiệp Quốc để tổ chức này hành xử hiệu quả hơn theo mục đích đã được đề ra, một mục đích vẫn giữ nguyên giá trị: "nhân loại hôm nay đang sống trong một thời đại mới đầy khó khăn trong sự phát triển chân thật của mình. Nhân loại cần đến một mức độ cao hơn của trật tự quốc tế .5 Các quốc gia cần xem xét mục tiêu này như một nghĩa vụ luân lý và chính trị rõ ràng đòi hỏi sự thận trọng và quyết tâm. Ở đây, tôi muốn lập lại những lời khích lệ mà tôi đã tuyên bố năm 1995: "Liên Hiệp Quốc cần vươn lên hơn nữa để vượt lên khỏi tình trạng lạnh lùng của một cơ chế quản trị hành chánh và ngày càng phải trở nên một trung tâm luân lý nơi tất cả các nước trên thế giới cảm thấy như ở nhà mình và phát triển một nhận thức chung, như đã từng có trước đây, là cùng thuộc về một gia đình các dân nước.6

Tai ương nghiêm trọng của khủng bố

8. Ngày nay công pháp quốc tế khó lòng đưa ra những giải pháp cho các tình huống xung đột đang nổi lên từ bối cảnh đổi thay của thế giới đương đại. Các tình huống xung đột thường liên quan đến những tác nhân mà tự chúng không phải là Nhà Nước nhưng là những thực thể xuất phát từ sự sụp đổ của các Nhà Nước, hay có liên quan đến những phong trào độc lập, hoặc những tổ chức tội phạm quốc tế có cơ cấu huấn luyện.

Một hệ thống pháp lý thiết lập từ những chuẩn mực đã có từ hàng thế kỷ như một phương thế giữ kỷ cương cho các mối quan hệ giữa các Nước có chủ quyền khó lòng đối phó nổi với những cuộc xung đột trong đó cũng liên quan đến những thực thể không thể được coi là Nhà Nước theo nghĩa truyền thống. Điều này đặc biệt đúng với trường hợp của các nhóm khủng bố.

Tai ương khủng bố đã trở nên ngày càng nghiêm trọng trong những năm gần đây và đã gây ra nhiều cuộc thảm sát dã man, mà đến lượt lại gây ra những trở ngại lớn lao hơn cho con đường đối thoại và thương thảo, gia tăng những căng thẳng và chồng chất thêm vấn đề, đặc biệt là tại Thánh Địa.

Dù có thắng được đi nữa, cuộc chiến chống khủng bố không thể chỉ hạn chế trong các cuộc hành quân đàn áp hay trừng phạt. Điều thiết yếu là việc dùng đến vũ lực, ngay cả khi cần thiết, phải kèm theo một sự phân tích can đảm và minh bạch những động lực đằng sau những cuộc tấn công khủng bố. Cuộc chiến chống khủng bố cần phải được tiến hành trên các bình diện chính trị và giáo dục: một mặt loại trừ những lý do sâu xa của những tình trạng bất công thường xuyên đẩy con người đến những hành động tuyệt vọng hơn và bạo động hơn; và một mặt, kiên quyết theo đuổi một nền giáo dục linh hứng bởi lòng tôn trọng mạng sống con người trong mọi hoàn cảnh: sự đoàn kết của loài người là một thực tại mạnh mẽ hơn bất kỳ những bất đồng tạm thời chia cách những cá nhân và dân tộc.

Trong cuộc chiến cần thiết để chống nạn khủng bố, công pháp quốc tế được kêu gọi để đưa ra các phương thế luật pháp trang bị với những phương tiện ngăn chặn, giám sát và khống chế tội ác. Trong bất kỳ biến cố nào, các chính phủ dân chủ cần hiểu rõ rằng việc dùng vũ lực để chống lại những kẻ khủng bố không thể biện minh cho sự khước từ những nguyên tắc về vai trò chủ đạo của luật pháp. Những quyết định chính trị sẽ không thể được chấp nhận nếu chúng tìm kiếm thành công mà không đếm xỉa gì đến những nhân quyền căn bản, vì cứu cánh không bao giờ có thể biện minh cho phương tiện

Sự đóng góp của Giáo Hội

9. “Phúc cho những ai kiến tạo hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5:9). Làm sao lời này, một lời mời gọi hoạt động trong cánh đồng hòa bình bao la, tìm thấy một tiếng vang mạnh mẽ trong con tim nhân loại nếu không có một ao ước không đè nén nổi và một niềm hy vọng đang thôi thúc trong ta? Và còn lý do nào khác để gọi những người kiến tạo hòa bình là con Thiên Chúa trừ ra lý do chính Thiên Chúa tự bản chất là Chủ Tể của hòa bình? Chính vì lý do này, trong thông điệp cứu độ mà Giáo Hội loan báo khắp thế giới, có những yếu tố tín lý nền tảng quan trọng đối với việc hình thành những nguyên tắc cần thiết cho sự chung sống hòa bình giữa các dân nước.

Lịch sử dạy rằng việc kiến tạo hòa bình không thể tách rời tinh thần thượng tôn đạo lý và trật tự pháp lý, như câu ngạn ngữ xa xưa “Serva ordinem et ordo servabit te” (giữ gìn luật lệ để luật lệ sẽ giữ gìn bạn). Luật pháp quốc tế cần phải bảo đảm rằng luật của kẻ mạnh không lấn lướt kẻ khác. Mục đích thiết yếu là thay thế "sức mạnh vật chất của vũ lực bằng sức mạnh luân lý của luật", 7 và đưa ra những hạn chế thích hợp cho kẻ vi phạm và sự đền bù thích đáng cho các nạn nhân. Điều này cũng phải được áp dụng với các chính phủ vi phạm phẩm giá và nhân quyền mà không bị trừng phạt vì họ viện dẫn một chiêu bài không thể chấp nhận được cho rằng đó chỉ là chuyện nội bộ của quốc gia họ.

Trong một bài Diễn Văn tôi đã đọc trước Ngoại Giao Đoàn cạnh Tòa Thánh hôm 13/1/1997, tôi đã nhận xét rằng công pháp quốc tế là phương tiện đầu tiên để theo đuổi hòa bình: "Trong một thời gian dài, công pháp quốc tế đã là một bộ luật cho chiến tranh và hòa bình. Tôi tin rằng nó được kêu gọi để càng ngày càng trở nên một bộ luật chuyên biệt hơn cho hòa bình, được thai nghén trong công lý và tình liên đới. Và trong bối cảnh đó luân lý phải linh hướng luật pháp; luân lý có thể đảm đươmg một vai trò dẫn dắt trong việc hình thành luật pháp, đến độ nó chỉ ra con đường nào là đúng, là tốt đẹp".8

Qua hàng thế kỷ, giáo huấn của Giáo Hội, rút ra từ suy tư triết học và thần học của nhiều nhà chiêm niệm Kitô Giáo, đã tạo ra một đóng góp đáng kể trong việc hướng dẫn công pháp quốc tế theo thiện ích chung của toàn thể gia đình nhân loại. Đặc biệt, những thời điểm gần đây, các Đức Giáo Hoàng đã không ngần ngại nhấn mạnh đến tầm quan trọng của công pháp quốc tế như một bảo chứng hòa bình, trong niềm xác tín rằng "Người xây dựng hoà bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hoà bình" ( Gcb 3:18 ). Đây là con đường mà Giáo Hội, với những phương thế phù hợp, cam kết theo đuổi, dưới ánh sáng bất tận của Tin Mừng cùng với sự trợ giúp không thể thiếu của lời cầu nguyện.

Nền văn minh tình thương

10. Kết luận cho những suy tư này, tôi cảm thấy cần thiết phải lập lại rằng, để thiết lập một nền hòa bình chân chính cho thế giới, công lý phải được bổ túc bằng đức bác ái. Dĩ nhiên luật pháp là con đường đầu tiên phải theo để đạt đến hòa bình, và các dân tộc phải được giáo dục để tôn trọng luật pháp. Tuy nhiên, người ta sẽ không đi đến cuối đường nếu công lý không được bổ túc bằng tình thương. Công lý và tình thương đôi khi có vẻ như hai thế lực đối nghịch nhau. Nhưng thực ra, chúng chỉ là hai mặt của cùng một thực tại, hai chiều kích của đời sống con người phải bổ túc cho nhau. Kinh nghiệm lịch sử củng cố điều đó cho chúng ta. Nó cho thấy công lý thường khó giải thoát mình khỏi sự oán hận, thù ghét và cả sự tàn bạo nữa. Chỉ có công lý mà thôi thì chưa đủ. Thật thế, công lý có thể đi đến chỗ phản lại chính mình nếu nó không cởi mở đón nhận sức mạnh sâu xa hơn là tình thương.

Vì lý do này, tôi đã thường nhắc các Kitô hữu và tất cả những người thiện chí về sự cần thiết phải tha thứ để giải quyết các vấn đề giữa các cá nhân và các dân tộc. Không có hòa bình, nếu không có tha thứ! Tôi lập lại điều này ở đây trong lúc tâm trí tôi hướng đặc biệt về cuộc khủng hoảng đang tiếp tục hoành hành tại Palestine và Trung Đông: một giải pháp cho những vấn đề nghiêm trọng đã gây đau thương quá lâu cho các dân tộc sống trong vùng sẽ không thể tìm được bao lâu người ta chưa quyết định vượt qua luận lý của công lý thuần túy để có thể cởi mở đón nhận lý lẽ của sự thứ tha.

Kitô hữu biết điều này là tình thương chính là lý do Thiên Chúa đi vào trong mối quan hệ với con người. Và Ngài chờ đợi tình thương như một câu trả lời của con người. Vì thế, tình thương cũng là hình thức cao cả và cao thượng nhất trong tương quan giữa con người. Tình thương, vì thế, phải linh hoạt mọi lãnh vực trong đời sống con người và cũng mở rộng sang lãnh vực quốc tế nữa. Chỉ có một nhân loại trong đó "nền văn minh tình thương" hiển trị mới có thể hưởng được một nền hòa bình chân chính và lâu dài.

Trước thềm Năm Mới, tôi muốn nhắc nhở cho mọi người thuộc mọi ngôn ngữ, mọi tôn giáo và mọi nền văn hóa câu châm ngôn cổ kính: “Omnia vincit amor” (Tình yêu chiến thắng tất cả). Đúng vậy, Anh Chị Em ở khắp nơi trên thế giới thân mến, sau cùng tình thương sẽ chiến thắng! Uớc gì mọi người dấn thân làm cho giờ phút chiến thắng ấy mau đến. Vì đó là niềm hy vọng thâm sâu nhất trong tâm hồn mọi người.

Từ Vatican, 8 Tháng Mười Hai Năm 2003.

+GIOAN PHAOLÔ II

CHÚ THÍCH

(1 ) Insegnamenti, V (1967), 620.

(2 ) 1968: 1 Tháng Giêng: Ngày Hòa Bình Thế Giới

1969: Thăng tiến nhân quyền, con đường đưa đến hòa bình

1970: Giáo dục hòa bình qua con đường hòa giải

1971: Mỗi người đều là anh em tôi

1972: Nếu bạn muốn hòa bình, hãy hoạt động cho công lý

1973: Hòa bình là có thể

1974: Hòa bình cũng tùy thuộc vào bạn nữa

1975: Hòa giải: con đường đưa đến hòa bình

1976: Vũ khí thực sự của hòa bình

1977: Nếu muốn hòa bình, hãy bảo vệ sự sống

1978: Nói không với bạo lực và nói vâng với hòa bình

(3 ) Đây là chủ đề chính của các Ngày Hòa Bình Thế Giới trong 25 triều đại Giáo Hoàng của Đức Gioan Phaolô II:

1979: Để đạt đến hòa bình, hãy giáo dục hòa bình

1980: Chân lý, sức mạnh của hòa bình

1981: Muốn có hòa bình, hãy tôn trọng tự do

1982: Hòa bình: món quà Thiên Chúa ký thác nơi ta!

1983: Đối thoại vì hòa bình: một thách đố cho thời đại chúng ta

1984: Từ một Quả Tim Mới, Hòa Bình ló dạng

1985: Hòa bình và tuổi trẻ sánh bước bên nhau

1986: Hòa bình là một Giá Trị không Biên Giới: Nam-Bắc, Đông-Tây:Chỉ có một thứ hòa bình..

1987: Phát triển và liên đới: hai chìa khóa cho hòa bình

1988: Tự do tôn giáo: Điều kiện cho hòa bình

1989: Để kiến tạo hòa bình: hãy tôn trọng những người thiểu số

1990: Peace with God the Creator, Peace with All of Creation

1991: Nếu bạn muốn hòa bình, hãy tôn trọng lương tâm mọi người

1992: Các tín hữu đoàn kết xây đắp hòa bình

1993: Nếu muốn hòa bình hãy bước đến với người nghèo

1994: Gia đình kiến tạo hòa bình cho gia đình nhân loại

1995: Phụ nữ: Thày dạy của hòa bình

1996: Hãy cho con cháu chúng ta một tương lai hòa bình

1997: Tha thứ để nhận lại hòa bình

1998: Từ công lý cho mỗi người đến hòa bình cho mọi người

1999: Tôn trọng Nhân Quyền: Bí quyết của hòa bình đích thực

2000: “Bình an dưới thế cho người Chúa thương!”

2001: Hòa bình: Đối thoại giữa các nền văn hóa cho một nền văn minh yêu thương và hòa bình

2002: Không có hòa bình thì không có công lý, không có công lý thì không có hòa bình

(4 ) Dẫn Nhập. < br>(5 ) Gioan Phaolô II, Sứ điệp Sollicitudo Rei Socialis, 43: AAS

80 (1988), 575.

(6 ) Diễn văn đọc trước kỳ họp thứ 50 của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc New York (5 /10/1995), 14: Insegnamenti, XVIII/2 (1995), 741.

(7 ) BENEDICT XV, Lời thỉnh cầu đến các nhà lãnh đạo các nước đang gây chiến, 1/8/1917: AAS 9 (1917), 422.

(8 ) No. 4: Insegnamenti, XX/1 (1997), 97.