Bài giảng của Linh Mục Cantalamessa trước sự hiện diện của Đức Giáo hoàng và Giáo triều Roma
VATICAN(ZENIT.org).-Chủ đề bài suy niệm của linh mục giảng thuyết trong Phủ Giáo Hoàng mà Cha Raniero Cantalamessa Dòng Capuchine đã giảng cho Mùa Vọng chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh năm nay cho Đức Gioan Phaolô II và giáo triều Roma là: 'Ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh (1 Tx. 4: 3): Những suy tư về sự thánh thiện Kitô hữu theo ánh sáng kinh nghiệm của Mẹ Teresa Calcutta."
* * *
Cha Raniero Cantalamessa
Mùa Vọng 2003 trong Phủ Giáo Hoàng
Bài giảng thứ nhất
"Hãy đi khỏi xứ sở của anh và hãy xem"
Kính thưa Đức Thánh Cha, các Cha Đáng Kính và quý anh chị em
Lễ phong chân phước cho Mẹ Teresa Calcutta vào ngày 19/10 vừa qua, đề cao sự kiện là chỉ có một sự cao cả đich thực trong thế giới đó là sự thánh thiện. Sự thật này thật hiển nhiên khi nhìn thấy đoàn lũ đám đông đứng đầy mọi nơi tại Quảng trường Thánh Phêrô và dọc theo Ðại Lộ Hòa Giải vừa đúng lúc ảnh của vị chân phước được vén lên và ca đoàn hát Alleluia. Còn có người nào trong thế giới này được sùng kính đến thế? Một đoàn lũ đông đảo thể ấy, tự ý tập hợp không có theo một mệnh lệnh bắt buộc nào, như thường xảy ra nơi các chế độ độc tài, nhưng được tỏ hiện chỉ vì lòng khâm phục và tình yêu của con người.
Đó là một sư khẳng định đến chân lý tư tưởng thời danh của Thánh Paschal: Trong thế giới có ba trật tự hay thứ bậc của sự cao cả: trật tự theo thân xác theo đó những người giàu có, những hoa khôi khác thường hay là những người có một dáng điệu thể lý nổi bật; trật tự theo lý trí và thiên tài theo đó họ là những nghệ sĩ, những văn sĩ và những khoa học gia nổi bật; và trật tự thánh thiện sau Ðức Kitô là sự nổi bật của Đức trinh Nữ và các thánh ("Pensées" 793 Br).
Thánh Pascal viết hầu như có một khoảng cách vô định phân chia trật tự thứ hai với trật tự thứ nhất, nhưng ắt hẳn có một khoảng cách vô cùng định phân chia giữa trật tự thứ ba với trật tự thứ hai là bậc thánh thiện với bậc thiên tài. Nhạc sĩ Gounod viết "Một giọt thánh thiện đáng giá hơn một đại dương thiên tài." Vinh quang của sự thánh thiện không chấm dứt theo thời gian, nhưng tồn tại muôn đời. Lý thuyết của các thánh mà chúng ta có ảnh của các Ngài trước mặt chúng ta trong tiền đường nhà nguyện này nhắc nhở chúng ta chính xác về sự kiện này, và đồng hành với chúng ta trong bài suy niệm này, khuyên răn chúng ta nối gót theo các ngài.
Trong tông thư "Novo Millennio Ineunte," Đưc Thánh Cha nói rằng sự thánh thiện " là viễn ảnh trong đó phải đặt toàn diện sự cố gắng mục vụ của Giáo hội." Ngài giải thích sự thánh thiện này hơn hết mọi sự phải là một mục tiêu để Ðức Kitô có thể thực hiện nơi chúng ta qua cái chết cứu độ của Người, và chúng ta đã được nhận lãnh trong bí tích rửa tội, nhưng Ðức Thánh Cha nói thêm, "ân ban đó lại được chuyển thành một "sự cam kết" phải chi phối đến toàn thể cuộc sống Kitô hữu." [I]
Trong những dịp khác tôi đã suy tư về sự thánh thiện của Chúa Kitô như là một ân huệ nhưng không, phải chiếm đoạt nhờ đức tin, bằng cách thực hiện điều mà tôi thích gọi là "cú mạo hiểm" trong đời sống thiêng liêng; lần này theo bước chân Mẹ Teresa, tôi muốn nhấn mạnh sự thánh thiện của Chúa Kitô như là một kiểu mẫu phải "bắt chước" trong đời sống.
Muốn đạt tới mục đích này, một tư tưởng của Mẹ Teresa được trích dẫn ghi trong thiệp mời tham dự những bài giảng mùa Vọng này. Tư tưởng đó là: "Ngày nay Giáo hội cần những người thánh. Điều này kêu gọi chúng ta phấn đấu chống trả sự quyến luyến với những tiện nghi mà nó dẫn chúng ta tới sự chọn lựa môt sư thoải mái thấp hèn và vô nghĩa. Mỗi người trong chúng ta có khả năng làm thánh, và con đường đi tới sự thánh thiện là sự cầu nguyện. Sự thánh thiện đơn thuần là một nhiệm vụ đối với mỗi người chúng ta."
1. Tới nguồn mạch sự thánh thiện.
Trong cuộc đời Mẹ Teresa chúng ta khám phá những gì là hành vi đầu tiên từ đó phát sinh sự nghiệp dũng cảm của sự thánh thiện, là "viên đá thứ nhất" của tòa nhà. Điều an ủi cho chúng ta là chúng ta khám phá ra hành động này có thể xảy ra bất cứ lứa tuổi nào trong cuộc sống. Nói một cách khác là không bao giờ quá muộn màng để khởi sự trở nên thánh. Thánh Teresa Avila đã sống một cuộc sống hoàn toàn bình thường trong nhiều năm, không phải là không có những sửa đổi, một khi sự thay đổi xảy ra đã làm thánh nhân trở nên những gì như chúng ta đã được biết đến.
Cũng một sự kiện đã xảy ra trong đời sống của một người trùng tên, tức là Mẹ Teresa Calcutta. Cho tởi 36 tuổi mẹ mới làm tu sĩ Dòng Lorecto, chăc chắn Mẹ đã trung thành với ơn gọi và hiến mình cho công việc của mẹ, nhưng trong đời của Mẹ hoàn toàn không báo trước cho sự lạ thường xảy ra.
Trong một chuyến đi bằng hỏa xa từ Calcutta tới Darjeeling để tham dự tỉnh tâm hàng năm của Mẹ mà biết cố đó đã thay đổi cuộc đời của mẹ. Tiêng nói mầu nhiệm của Chúa đưa ra một lời mời gọi rõ rệt cho mẹ. Hãy từ bỏ dòng tu của con, từ bỏ nếp sống cũ của con, và sãn sàng nhận lấy một việc làm Cha sẽ chỉ cho con. Trong số các nữ tử của Mẹ Teresa, ngày hôm đó là ngày 10/9 được ghi nhớ với cái tên là "ngày linh hứng."
Ngày nay, nhờ những tài liệu được đưa ra ánh sáng trong quá trình phong chân phước, chúng ta biết những lời chính xác Chúa Giêsu nói với mẹ: "Cha muốn tu sĩ Ấn độ, những Thừa sai Bác ái, họ sẽ là những người nên ngọn lửa tình yêu của Cha giữa những kẻ nghèo khổ nhất, giữa những người ốm đau, những người hấp hối, những trẻ bụi đời. Cha cần con mang người nghèo đến với Cha.. . Con có từ chối làm điều đó cho Cha không? Và Chúa còn nói: Có những tu viện với nhiều tu sĩ lo cho người giàu và những người ưu đãi, nhưng tuyệt đối không ai lo cho những người nghèo khổ của Cha.
Chính lúc đó, kinh nghiệm của Abraham được tái diễn trong đời sống Mẹ Teresa, một hôm Chúa nói với ông: "Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi" (St 12:1). Tiếng nói với Abraham "Hãy rời bỏ" thì khác với mệnh lệnh nói với ông Lot rời bỏ thành Sodom sau này (x.St 19:15). Không có gì tỏ cho thấy thành Ur của người Chalđê có một môi trường đặc biệt xấu xa và không có gì tỏ cho thấy Abraham sẽ không được cứu nếu ông ở lại. Trong "Tranh Lụa Ba Tấm Roma” Roman Triptych, là một tập thơ được phổ biến năm nay, Đức Giáo hoàng suy tư đến những tâm tình có thể Abraham đã cảm nghiệm trước lời đề nghị của Chúa: "Tại sao tôi phải đi khỏi đây? Tại sao tôi phải bỏ thành Ur của người Chalđê?" [2]
Chúng ta biết Mẹ Teresa cũng tự hỏi câu hỏi đó. Đó là một sự xé lòng nội tâm mà Mẹ đã tâm sự lại với Tổng Giám mục Perier: " Là một tu sĩ Dòng Loreto con vẫn còn rất hài lòng, để rồi bỏ đi điều con yêu mến và liều mình chịu những khắc nghiệt và những đau khổ sẽ là điều cao cả”. Hướng về phía Chúa Giêsu Mẹ thưa: "Tại sao con không thể làm một tu sĩ trọn lành Loreto?.. . Tại sao con không như mọi người khác?.. . Điều Chúa đòi hỏi nơi con thật quá to lớn đối với con.. . Xin Chúa hãy tìm một tâm hồn đáng giá và quảng đại hơn con. "
Cũng xin lập lại một cái gì thường xảy ra trong Kinh Thánh. Ông Maisen nói: "Con không lợi khẩu" (Xh 10), và Jemiah: "Con đây còn quá trẻ.. . " (Jeremiah 1, 6). Nhưng đối với người Chúa kêu gọi, Người phân biệt đến những lời từ chối phát xuất từ một ý chí, hay từ chối vì sợ phỉnh gạt hay không đủ sức cho sứ vụ. Cho nên Chúa không bị xúc phạm khi họ xin Người giải thích.
Chúa không ngạc nhiên về câu hỏi của Đức Maria, "Sự đó xảy đến thế nào được?" đang khi Chúa quở trách Zechriah và bắt ông bị câm cũng vì một câu hỏi (x. Lc 1: 18). Câu hỏi của Đức Maria không phát xuất từ sự ngờ vực, nhưng từ vì muốn biết chính xác phải làm gì để hoàn thành điều Chúa xin Mẹ làm.
Sau cùng Mẹ Teresa cũng như Đức Maria, nói tiếng "fiat" trọn vẹn với Thiên Chúa, "xin vâng." Đức Maria nói tiếng đó bằng những việc làm chúng ta biết và nói cách vui vẻ. Tiếng Hy lạp được chuyển dịch qua tiếng Latin "fiat" là "genoito." Tiếng đó nói trong thể ao ước, chớ không thoái nhượng như "fiat": Tiếng đó không diễn tả sự đồng ý hay sự cam chịu đơn thuần một sự gì xảy đến, dường như nói: "Nếu không thể làm được bằng cách khác, con bằng lòng, "Fiat voluntas tua--vâng ý Cha!" Ngược lại, tiếng đó diễn tả lòng ao ước, sự thiếu kiên nhẫn, niềm vui khi có một sự gì xảy đến. Đó là lý do tại sao gọi là thể ao ước. "Chúa yêu người vui vẻ chấp nhận" (2 Co 9,7): một lời nói mà Mẹ Teresa luôn luôn lặp lại cho những nử tữ của mình nhưng hơn bao giờ hết Mẹ đã tỏ ra với một nụ cười suốt cuộc đời mình.
2. Hột giống cây lựu.
Về điểm này hành vi cơ bản đã rõ ràng, "viên đá đầu tiên" này trên đó sự thánh thiện của Mẹ Teresa và xây dựng tất cả sự thánh thiện Kitô hữu: đó là sự đáp ứng một tiếng gọi, sư vâng lời đối với một sự linh hứng thần linh, được phân định và được công nhận là thế. Simone Weil, người không phải là một vị thánh nhưng tuyệt đối khâm phục sự thánh thiện, đã nói về "sự ưng thuận mà linh hồn đưa ra trong những lúc này với Chúa, như là một cái gì không thể thấy, giữa những nghiên chiều xác thịt, là một hột giống bé tí của cây lụu, nhưng quyết định vận mạng của nó mãi mãi."
Tất cả những công trình to lớn của Kinh Thánh và của lịch sử Giáo hội phụ thuộc vào một tiếng "xin vâng" nói với Chúa lúc Người đích thân mạc khải ý muốn của Người với một ai đó. Do sự vâng phục-đức tin của Abraham, KinhThánh có toàn thể lịch sử tiếp diễn của Dân Ưu tuyển: "Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ cầu chúc cho nhau được phúc như dòng dõi ngươi, chính bơi vì ngươi đã vâng lời Ta" (St 22: 18); do sự vâng phục-đức tin của Đức Maria, Chúa muốn có sự bắt đầu của một giao ước mới và vĩnh cửu
Trong quyển sách tự truyện của Ðức Thánh Cha "Hồng Ân và Bí Nhiệm" Đức Gioan Phaolô II, viết: "Múa thu năm 1942 tôi có "quyết định cuối cùng để vào chủng viện (4): chữ thảo trong bản văn chứng tỏ nhiều sự giải thích không được nêu ra, nhưng có thể đoán ra được Một tiếng gọi đi trước quyết định này; đó là quyết định đáp ứng một lời mời, như tất cả ơn gọi linh mục. Bây giờ chúng ta biết Chúa đã xây dựng trên quyết định này, trên tiếng nói :Này con đây, con xin đi," đã được công bố từ lâu trong năm 1942.
Tôi có thể tưởng tương sự kinh ngạc và sự thán phục của Mẹ Teresa vào lúc cuối đời khi mẹ nhớ lại chuyến du hành trên chuyến xe lửa. Điều gì Chúa đã có khả năng làm với tiếng "xin vâng" tầm thường và chịu đau khổ lâu dài của Mẹ! Một chương trình vĩ đại dường bao mà Chúa đã có hoạch định mà Mẹ không biết! Tôi không thể nghĩ tới linh hồn của mẹ lúc cuối đời mà Mẹ lại không hát một kinh đầy kinh ngạc và bị khuất phục: "Linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa...vì Đấng Toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả."
Đầu năm nay Dòng Thừa Sa Bác Ái đã dành cho tôi vinh dự để giảng Tỉnh Tâm chuẩn bị cho TổngTu nghị sẽ tổ chức tại Calcutta—nhưng trên thực tế họ là những người đã giảng Tỉnh tâm cho tôi với sự nghiêm nghị lạ thường, sự nghèo khó, và sự cầu nguyện liên lỉ của họ.
Ngay từ đầu, đối với tôi dường như từ trời Mẹ Teresa thông báo Tổng Tu nghị đầu tiên tổ chức sau khi mẹ chết, phải là dịp chứng tỏ điều gì Chúa đã thực hành trong đời sống của Mẹ và tiếp tục thực hiện trong đời sống của các chị em. Tôi nói điều này cách đơn sơ với những người có mặt và sau khi kết thúc Tổng Tu Nghị, Nữ tu Nirmala, Mẹ Bề Trên đã tâm sự rằng Tổng Tu nghị để nói một cách chính xác chính là sự này.
Trong đời sống của mỗi người chúng ta cũng như trong đời sống của Mẹ Terecsa đã có một tiếng gọi; bằng không chúng ta không có ngồi ở đây. Tiếng "Xin Vâng " của chúng ta, có lẽ, la một tiếng "Xin Vâng" trong đêm tối, không biết nó dẫn chúng ta đi đâu. Qua những năm sau đó chúng ta có lẽ không sợ để công nhận những gì Chúa ban cho khả năng qua tiếng "Xin Vâng" tầm thường đó, mặc dầu những chống đối và những thất tín của chúng ta, và, chúng ta cũng phải hát bài ca "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa" đầy xúc động và biết ơn để dâng lên Chúa
* * *
1 "Novo Millennio Ineunte," 30.
2 John Paul II, "Roman Triptych," III. Mount in the Region of Moriah, 1 (Vatican Press Library), 2003, tr. 35.
3. S. Weil, "Intuitions pr-chrtiennes," Paris, 1967 (Bản dịch tiếng Ý, "La Grecia e le intuizioni prechristiane," Turin, 1967, tr. 113.s.).
4 John Paul II, "Gift and Mystery," Vatican Press Library, Rome, 1996, tr. 21.
VATICAN(ZENIT.org).-Chủ đề bài suy niệm của linh mục giảng thuyết trong Phủ Giáo Hoàng mà Cha Raniero Cantalamessa Dòng Capuchine đã giảng cho Mùa Vọng chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh năm nay cho Đức Gioan Phaolô II và giáo triều Roma là: 'Ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh (1 Tx. 4: 3): Những suy tư về sự thánh thiện Kitô hữu theo ánh sáng kinh nghiệm của Mẹ Teresa Calcutta."
* * *
Cha Raniero Cantalamessa
Mùa Vọng 2003 trong Phủ Giáo Hoàng
Bài giảng thứ nhất
"Hãy đi khỏi xứ sở của anh và hãy xem"
Kính thưa Đức Thánh Cha, các Cha Đáng Kính và quý anh chị em
Lễ phong chân phước cho Mẹ Teresa Calcutta vào ngày 19/10 vừa qua, đề cao sự kiện là chỉ có một sự cao cả đich thực trong thế giới đó là sự thánh thiện. Sự thật này thật hiển nhiên khi nhìn thấy đoàn lũ đám đông đứng đầy mọi nơi tại Quảng trường Thánh Phêrô và dọc theo Ðại Lộ Hòa Giải vừa đúng lúc ảnh của vị chân phước được vén lên và ca đoàn hát Alleluia. Còn có người nào trong thế giới này được sùng kính đến thế? Một đoàn lũ đông đảo thể ấy, tự ý tập hợp không có theo một mệnh lệnh bắt buộc nào, như thường xảy ra nơi các chế độ độc tài, nhưng được tỏ hiện chỉ vì lòng khâm phục và tình yêu của con người.Đó là một sư khẳng định đến chân lý tư tưởng thời danh của Thánh Paschal: Trong thế giới có ba trật tự hay thứ bậc của sự cao cả: trật tự theo thân xác theo đó những người giàu có, những hoa khôi khác thường hay là những người có một dáng điệu thể lý nổi bật; trật tự theo lý trí và thiên tài theo đó họ là những nghệ sĩ, những văn sĩ và những khoa học gia nổi bật; và trật tự thánh thiện sau Ðức Kitô là sự nổi bật của Đức trinh Nữ và các thánh ("Pensées" 793 Br).
Thánh Pascal viết hầu như có một khoảng cách vô định phân chia trật tự thứ hai với trật tự thứ nhất, nhưng ắt hẳn có một khoảng cách vô cùng định phân chia giữa trật tự thứ ba với trật tự thứ hai là bậc thánh thiện với bậc thiên tài. Nhạc sĩ Gounod viết "Một giọt thánh thiện đáng giá hơn một đại dương thiên tài." Vinh quang của sự thánh thiện không chấm dứt theo thời gian, nhưng tồn tại muôn đời. Lý thuyết của các thánh mà chúng ta có ảnh của các Ngài trước mặt chúng ta trong tiền đường nhà nguyện này nhắc nhở chúng ta chính xác về sự kiện này, và đồng hành với chúng ta trong bài suy niệm này, khuyên răn chúng ta nối gót theo các ngài.
Trong tông thư "Novo Millennio Ineunte," Đưc Thánh Cha nói rằng sự thánh thiện " là viễn ảnh trong đó phải đặt toàn diện sự cố gắng mục vụ của Giáo hội." Ngài giải thích sự thánh thiện này hơn hết mọi sự phải là một mục tiêu để Ðức Kitô có thể thực hiện nơi chúng ta qua cái chết cứu độ của Người, và chúng ta đã được nhận lãnh trong bí tích rửa tội, nhưng Ðức Thánh Cha nói thêm, "ân ban đó lại được chuyển thành một "sự cam kết" phải chi phối đến toàn thể cuộc sống Kitô hữu." [I]
Trong những dịp khác tôi đã suy tư về sự thánh thiện của Chúa Kitô như là một ân huệ nhưng không, phải chiếm đoạt nhờ đức tin, bằng cách thực hiện điều mà tôi thích gọi là "cú mạo hiểm" trong đời sống thiêng liêng; lần này theo bước chân Mẹ Teresa, tôi muốn nhấn mạnh sự thánh thiện của Chúa Kitô như là một kiểu mẫu phải "bắt chước" trong đời sống.
Muốn đạt tới mục đích này, một tư tưởng của Mẹ Teresa được trích dẫn ghi trong thiệp mời tham dự những bài giảng mùa Vọng này. Tư tưởng đó là: "Ngày nay Giáo hội cần những người thánh. Điều này kêu gọi chúng ta phấn đấu chống trả sự quyến luyến với những tiện nghi mà nó dẫn chúng ta tới sự chọn lựa môt sư thoải mái thấp hèn và vô nghĩa. Mỗi người trong chúng ta có khả năng làm thánh, và con đường đi tới sự thánh thiện là sự cầu nguyện. Sự thánh thiện đơn thuần là một nhiệm vụ đối với mỗi người chúng ta."
1. Tới nguồn mạch sự thánh thiện.
Trong cuộc đời Mẹ Teresa chúng ta khám phá những gì là hành vi đầu tiên từ đó phát sinh sự nghiệp dũng cảm của sự thánh thiện, là "viên đá thứ nhất" của tòa nhà. Điều an ủi cho chúng ta là chúng ta khám phá ra hành động này có thể xảy ra bất cứ lứa tuổi nào trong cuộc sống. Nói một cách khác là không bao giờ quá muộn màng để khởi sự trở nên thánh. Thánh Teresa Avila đã sống một cuộc sống hoàn toàn bình thường trong nhiều năm, không phải là không có những sửa đổi, một khi sự thay đổi xảy ra đã làm thánh nhân trở nên những gì như chúng ta đã được biết đến.
Cũng một sự kiện đã xảy ra trong đời sống của một người trùng tên, tức là Mẹ Teresa Calcutta. Cho tởi 36 tuổi mẹ mới làm tu sĩ Dòng Lorecto, chăc chắn Mẹ đã trung thành với ơn gọi và hiến mình cho công việc của mẹ, nhưng trong đời của Mẹ hoàn toàn không báo trước cho sự lạ thường xảy ra.
Trong một chuyến đi bằng hỏa xa từ Calcutta tới Darjeeling để tham dự tỉnh tâm hàng năm của Mẹ mà biết cố đó đã thay đổi cuộc đời của mẹ. Tiêng nói mầu nhiệm của Chúa đưa ra một lời mời gọi rõ rệt cho mẹ. Hãy từ bỏ dòng tu của con, từ bỏ nếp sống cũ của con, và sãn sàng nhận lấy một việc làm Cha sẽ chỉ cho con. Trong số các nữ tử của Mẹ Teresa, ngày hôm đó là ngày 10/9 được ghi nhớ với cái tên là "ngày linh hứng."
Ngày nay, nhờ những tài liệu được đưa ra ánh sáng trong quá trình phong chân phước, chúng ta biết những lời chính xác Chúa Giêsu nói với mẹ: "Cha muốn tu sĩ Ấn độ, những Thừa sai Bác ái, họ sẽ là những người nên ngọn lửa tình yêu của Cha giữa những kẻ nghèo khổ nhất, giữa những người ốm đau, những người hấp hối, những trẻ bụi đời. Cha cần con mang người nghèo đến với Cha.. . Con có từ chối làm điều đó cho Cha không? Và Chúa còn nói: Có những tu viện với nhiều tu sĩ lo cho người giàu và những người ưu đãi, nhưng tuyệt đối không ai lo cho những người nghèo khổ của Cha.
Chính lúc đó, kinh nghiệm của Abraham được tái diễn trong đời sống Mẹ Teresa, một hôm Chúa nói với ông: "Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi" (St 12:1). Tiếng nói với Abraham "Hãy rời bỏ" thì khác với mệnh lệnh nói với ông Lot rời bỏ thành Sodom sau này (x.St 19:15). Không có gì tỏ cho thấy thành Ur của người Chalđê có một môi trường đặc biệt xấu xa và không có gì tỏ cho thấy Abraham sẽ không được cứu nếu ông ở lại. Trong "Tranh Lụa Ba Tấm Roma” Roman Triptych, là một tập thơ được phổ biến năm nay, Đức Giáo hoàng suy tư đến những tâm tình có thể Abraham đã cảm nghiệm trước lời đề nghị của Chúa: "Tại sao tôi phải đi khỏi đây? Tại sao tôi phải bỏ thành Ur của người Chalđê?" [2]
Chúng ta biết Mẹ Teresa cũng tự hỏi câu hỏi đó. Đó là một sự xé lòng nội tâm mà Mẹ đã tâm sự lại với Tổng Giám mục Perier: " Là một tu sĩ Dòng Loreto con vẫn còn rất hài lòng, để rồi bỏ đi điều con yêu mến và liều mình chịu những khắc nghiệt và những đau khổ sẽ là điều cao cả”. Hướng về phía Chúa Giêsu Mẹ thưa: "Tại sao con không thể làm một tu sĩ trọn lành Loreto?.. . Tại sao con không như mọi người khác?.. . Điều Chúa đòi hỏi nơi con thật quá to lớn đối với con.. . Xin Chúa hãy tìm một tâm hồn đáng giá và quảng đại hơn con. "
Cũng xin lập lại một cái gì thường xảy ra trong Kinh Thánh. Ông Maisen nói: "Con không lợi khẩu" (Xh 10), và Jemiah: "Con đây còn quá trẻ.. . " (Jeremiah 1, 6). Nhưng đối với người Chúa kêu gọi, Người phân biệt đến những lời từ chối phát xuất từ một ý chí, hay từ chối vì sợ phỉnh gạt hay không đủ sức cho sứ vụ. Cho nên Chúa không bị xúc phạm khi họ xin Người giải thích.
Chúa không ngạc nhiên về câu hỏi của Đức Maria, "Sự đó xảy đến thế nào được?" đang khi Chúa quở trách Zechriah và bắt ông bị câm cũng vì một câu hỏi (x. Lc 1: 18). Câu hỏi của Đức Maria không phát xuất từ sự ngờ vực, nhưng từ vì muốn biết chính xác phải làm gì để hoàn thành điều Chúa xin Mẹ làm.
Sau cùng Mẹ Teresa cũng như Đức Maria, nói tiếng "fiat" trọn vẹn với Thiên Chúa, "xin vâng." Đức Maria nói tiếng đó bằng những việc làm chúng ta biết và nói cách vui vẻ. Tiếng Hy lạp được chuyển dịch qua tiếng Latin "fiat" là "genoito." Tiếng đó nói trong thể ao ước, chớ không thoái nhượng như "fiat": Tiếng đó không diễn tả sự đồng ý hay sự cam chịu đơn thuần một sự gì xảy đến, dường như nói: "Nếu không thể làm được bằng cách khác, con bằng lòng, "Fiat voluntas tua--vâng ý Cha!" Ngược lại, tiếng đó diễn tả lòng ao ước, sự thiếu kiên nhẫn, niềm vui khi có một sự gì xảy đến. Đó là lý do tại sao gọi là thể ao ước. "Chúa yêu người vui vẻ chấp nhận" (2 Co 9,7): một lời nói mà Mẹ Teresa luôn luôn lặp lại cho những nử tữ của mình nhưng hơn bao giờ hết Mẹ đã tỏ ra với một nụ cười suốt cuộc đời mình.
2. Hột giống cây lựu.
Về điểm này hành vi cơ bản đã rõ ràng, "viên đá đầu tiên" này trên đó sự thánh thiện của Mẹ Teresa và xây dựng tất cả sự thánh thiện Kitô hữu: đó là sự đáp ứng một tiếng gọi, sư vâng lời đối với một sự linh hứng thần linh, được phân định và được công nhận là thế. Simone Weil, người không phải là một vị thánh nhưng tuyệt đối khâm phục sự thánh thiện, đã nói về "sự ưng thuận mà linh hồn đưa ra trong những lúc này với Chúa, như là một cái gì không thể thấy, giữa những nghiên chiều xác thịt, là một hột giống bé tí của cây lụu, nhưng quyết định vận mạng của nó mãi mãi."
Tất cả những công trình to lớn của Kinh Thánh và của lịch sử Giáo hội phụ thuộc vào một tiếng "xin vâng" nói với Chúa lúc Người đích thân mạc khải ý muốn của Người với một ai đó. Do sự vâng phục-đức tin của Abraham, KinhThánh có toàn thể lịch sử tiếp diễn của Dân Ưu tuyển: "Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ cầu chúc cho nhau được phúc như dòng dõi ngươi, chính bơi vì ngươi đã vâng lời Ta" (St 22: 18); do sự vâng phục-đức tin của Đức Maria, Chúa muốn có sự bắt đầu của một giao ước mới và vĩnh cửu
Trong quyển sách tự truyện của Ðức Thánh Cha "Hồng Ân và Bí Nhiệm" Đức Gioan Phaolô II, viết: "Múa thu năm 1942 tôi có "quyết định cuối cùng để vào chủng viện (4): chữ thảo trong bản văn chứng tỏ nhiều sự giải thích không được nêu ra, nhưng có thể đoán ra được Một tiếng gọi đi trước quyết định này; đó là quyết định đáp ứng một lời mời, như tất cả ơn gọi linh mục. Bây giờ chúng ta biết Chúa đã xây dựng trên quyết định này, trên tiếng nói :Này con đây, con xin đi," đã được công bố từ lâu trong năm 1942.
Tôi có thể tưởng tương sự kinh ngạc và sự thán phục của Mẹ Teresa vào lúc cuối đời khi mẹ nhớ lại chuyến du hành trên chuyến xe lửa. Điều gì Chúa đã có khả năng làm với tiếng "xin vâng" tầm thường và chịu đau khổ lâu dài của Mẹ! Một chương trình vĩ đại dường bao mà Chúa đã có hoạch định mà Mẹ không biết! Tôi không thể nghĩ tới linh hồn của mẹ lúc cuối đời mà Mẹ lại không hát một kinh đầy kinh ngạc và bị khuất phục: "Linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa...vì Đấng Toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả."
Đầu năm nay Dòng Thừa Sa Bác Ái đã dành cho tôi vinh dự để giảng Tỉnh Tâm chuẩn bị cho TổngTu nghị sẽ tổ chức tại Calcutta—nhưng trên thực tế họ là những người đã giảng Tỉnh tâm cho tôi với sự nghiêm nghị lạ thường, sự nghèo khó, và sự cầu nguyện liên lỉ của họ.
Ngay từ đầu, đối với tôi dường như từ trời Mẹ Teresa thông báo Tổng Tu nghị đầu tiên tổ chức sau khi mẹ chết, phải là dịp chứng tỏ điều gì Chúa đã thực hành trong đời sống của Mẹ và tiếp tục thực hiện trong đời sống của các chị em. Tôi nói điều này cách đơn sơ với những người có mặt và sau khi kết thúc Tổng Tu Nghị, Nữ tu Nirmala, Mẹ Bề Trên đã tâm sự rằng Tổng Tu nghị để nói một cách chính xác chính là sự này.
Trong đời sống của mỗi người chúng ta cũng như trong đời sống của Mẹ Terecsa đã có một tiếng gọi; bằng không chúng ta không có ngồi ở đây. Tiếng "Xin Vâng " của chúng ta, có lẽ, la một tiếng "Xin Vâng" trong đêm tối, không biết nó dẫn chúng ta đi đâu. Qua những năm sau đó chúng ta có lẽ không sợ để công nhận những gì Chúa ban cho khả năng qua tiếng "Xin Vâng" tầm thường đó, mặc dầu những chống đối và những thất tín của chúng ta, và, chúng ta cũng phải hát bài ca "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa" đầy xúc động và biết ơn để dâng lên Chúa
* * *
1 "Novo Millennio Ineunte," 30.
2 John Paul II, "Roman Triptych," III. Mount in the Region of Moriah, 1 (Vatican Press Library), 2003, tr. 35.
3. S. Weil, "Intuitions pr-chrtiennes," Paris, 1967 (Bản dịch tiếng Ý, "La Grecia e le intuizioni prechristiane," Turin, 1967, tr. 113.s.).
4 John Paul II, "Gift and Mystery," Vatican Press Library, Rome, 1996, tr. 21.