Ngày 23-02-2024
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Mỗi Ngày Một Câu Danh Ngôn Của Các Thánh
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
02:40 23/02/2024

5. Đức Chúa Giê-su Ki-tô đã khen ngợi đức khiêm tốn, Ngài ở trong Thánh Thể xác thực và tuyên dương sự vô song của đức khiêm tốn, đức khiêm tốn này không coi thường bất cứ người nào, nhưng bằng lòng giống như người khách ngự trong bất cứ linh hồn nào đầy ân tình, thậm chí là tâm hồn của người đã ô nhiễm tội lỗi.

(Thánh Thomas Aquinas)

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Trích dịch từ tiếng Hoa trong "Cách ngôn thần học tu đức")


----------

http://www.vietcatholic.org

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://nhantai.info
 
Mỗi Ngày Một Câu Chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
02:43 23/02/2024
87. DI HOÀNH KHÓC RỐNG

Di Hoành có tài nhưng tính ngạo mạn.

Năm nọ, vì đắc tội với Tào Tháo mà suýt bị nguy hiểm, sau đó Tào Tháo đem ông ta dâng cho Lưu Biểu, trước khi đi, dân chúng đều tụ họp ở trong Thành Nam để tiễn biệt, lúc Di Hoành chưa đến thì mọi người bàn với nhau:

- “Hôm nay chúng ta phải làm cho Di Hoành nhục nhã, đợi khi ông ta đến thì tất cả chúng ta đều không mở miệng nói, có người nằm và có người ngồi...”

Di Hoành vừa tới nơi liền khóc rống lên thảm thiết, làm cho người nghe rất là thương tâm, mọi người vội vàng hỏi ông ta tại sao khóc thảm thiết như vậy, Di Hoành cười thầm trong bụng, nói:

- “Nhìn thấy người ngồi giống như nấm mồ, thấy người nằm giống như xác chết, giữa nấm mồ và xác chết có thể không khóc lóc thảm thương sao?”

(Cổ kim tiếu sử)

Suy tư 87:

Không ai thấy nấm mộ và tử thi mà không chạnh lòng: có người thương cảm, có người hối tội, có người than khóc, có người đau khổ.v.v... bởi vì con người ta được dựng nên bằng đất sét cho nên cũng sẽ chạnh lòng trước những tử thi và nấm mồ.

“Ngồi là nấm mồ, nằm là tử thi” là câu nói rất có ý nghĩa đối với những người Ki-tô hữu có đức tin, bởi vì khi họ phạm tội trọng là linh hồn của họ đã chết, mạch ân sủng dưỡng nuôi đời sống thiêng liêng của họ đã bị cắt đứt đoạn tuyệt với Thiên Chúa, cho nên dù họ sống thì cũng như đã chết, dù họ ngồi hay nằm thì giống như nấm mồ và tử thi...

Con người ta khi ngồi là một nấm mồ...sống, khi nằm thì là một tử thi...sống, chỉ có điều là nấm mổ biết đi và tử thi biết thở mà thôi.

Nấm mồ và tử thi thì người yếu bóng vía thấy và chạy ngay nên nó ít hại người, nhưng những người sống mà còn mang tội trọng trong mình thì đáng sợ vô cùng, vì những “nấm mồ và tử thi” này sẽ gây gương mù gương xấu cho người khác, bệnh truyền nhiễm này nặng nề hơn tất cả các ôn dịch do thời tiết gây nên.

Đáng sợ thật !

Xin Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn sủng của Ngài, để chúng ta khi nằm thì giống như giấc ngủ đầy sự bình an, khi ngồi thì giống như người đắm mình trong ơn nghĩa của Thiên Chúa.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)


---------

http://www.vietcatholic.org

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://nhantai.info
 
Để nên hoàn thiện
Lm. Minh Anh
15:05 23/02/2024
ĐỂ NÊN HOÀN THIỆN
“Hãy nên hoàn thiện, như Cha các con trên trời là Đấng hoàn thiện!”.

Steffens viết, “Không gì hoàn hảo trên thế giới! Bức tranh tuyệt nhất chưa được vẽ; vở kịch hay nhất chưa được viết; bài thơ vĩ đại nhất chưa được ngâm. Không ai hoàn hảo, không chi hoàn hảo! Vậy mà, Thiên Chúa lệnh cho con người phải hoàn thành mọi sự, và nó làm cách chậm chạp, sai lầm, những gì trong nháy mắt Ngài có thể hoàn tất tuyệt vời! Dẫu thế, nó phải hoàn thiện tất cả; ngay cả bản thân nó, nó được gọi ‘để nên hoàn thiện!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

Đúng với nhận định của Steffens, có mặt trên trần gian này, bất cứ ai cũng được gọi ‘để nên hoàn thiện’. Lời Chúa hôm nay cho biết, đó là ý muốn ngàn đời của Thiên Chúa.

Môsê mời gọi con cái Israel bước đi trong đường lối Chúa, nắm giữ huấn thị Ngài, “Để nên một dân thánh hiến cho Chúa” - bài đọc một - nghĩa là ‘để nên hoàn thiện’. Thánh Vịnh đáp ca bộc lộ nỗi vui tòng thuộc đó, “Hạnh phúc thay người noi theo luật pháp Chúa Trời!”.

‘Để nên hoàn thiện’ là ơn gọi chung ‘không hơn không kém’ của bất cứ ai theo Chúa Giêsu! Nếu chỉ nhắm đến mức ‘khá tốt’, bạn có thể trở thành thực sự ‘khá tốt’; nhưng ‘khá tốt’ vẫn ‘chưa đủ tốt’ đối với Chúa Giêsu. Ngài muốn những ai theo Ngài phải ‘thực sự tốt’, thực sự hoàn hảo! Đây là một lời mời ở cấp độ cao, ‘cấp độ nên thánh!’. Hoàn hảo, hoàn thiện có nghĩa là mỗi người cố gắng sống từng giây phút trong ân sủng. Tất cả chỉ có thế! ‘Ở đây và lúc này’, bạn đắm chìm trong ân sủng! Ngày mai chưa đến, hôm qua đã vĩnh viễn ra đi; tất cả những gì bạn có, là những khoảnh khắc hiện tại này. Đó là những khoảnh khắc ‘được thánh hoá’ để mỗi người nên giống Chúa Giêsu hơn, nghĩa là nên thánh.

Nói đến hoàn thiện, chúng ta thường nghĩ đến những gì thuộc về các thánh vĩ đại; thế nhưng, bên cạnh các ngài, chúng ta có hàng ngàn vị thánh khác chưa từng được nêu danh trong giáo sử, và nhiều vị thánh tương lai đang sống khắp nơi trên thế giới. Hãy tưởng tượng, ngày kia trên trời, chúng ta vui mừng gặp lại những vị thánh cao cả chúng ta đã từng biết; và sẽ ngạc nhiên biết bao khi nhìn thấy vô vàn khuôn mặt thánh thiện lạ lẫm chúng ta mới biết lần đầu. Đó là những thiện nam tín nữ thuộc mọi đấng bậc đã tìm cho mình con đường hạnh phúc; họ là những con người khám phá ra rằng, họ được gọi ‘để nên hoàn thiện’.

Anh Chị em,

“Để nên hoàn thiện!”. Qua thời gian, chúng ta cảm nghiệm rằng, càng sống trong ân sủng và càng cố gắng đầu phục từng giây phút theo ý muốn của Chúa, chúng ta càng trở nên mạnh mẽ và thánh thiện. Và dẫu như “bức tranh tuyệt vời nhất chưa được vẽ; vở kịch hay nhất chưa được viết; bài thơ vĩ đại nhất chưa được ngâm”, nhưng nếu chúng ta biết xây dựng dần dần những thói quen thánh hoá mọi khoảnh khắc để nên thánh, thì theo thời gian, những thói quen đó sẽ làm cho mỗi người trở nên những con người mà chúng ta phải trở thành. Và đâu là tiêu chuẩn? Chúa Giêsu tiết lộ, “Như Cha các con trên trời!”. Ngài là thước đo cho mọi cố gắng vươn lên của chúng ta. Ngài không nhìn vào kết quả, nhưng nhìn vào những nỗ lực khi mỗi người vượt lên chính mình từng ngày. Và đó là nên thánh!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giúp con cam kết dám sống từng giây cho đẹp lòng Chúa! Được như thế, ngày kia, thiên đàng nhất định sẽ có thêm một vị thánh. Tại sao không?”, Amen.

(Tgp. Huế)
 
Yêu dấu đáng yêu
Lm. Nguyễn Xuân Trường
15:09 23/02/2024
YÊU DẤU ĐÁNG YÊU

Lời Chúa tuần này nói những đến ngọn núi: Núi Ápraham dâng lễ toàn thiêu, núi Chúa Giêsu biến hình. Có thể gọi những ngọn núi ấy là núi tình vì ở đó đã bày tỏ một tình yêu tha thiết và những con người đáng yêu.

1. Yêu dấu. Ápraham yêu tha thiết đứa con một yêu dấu của ông là Ixaác. Chúa Cha yêu tha thiết Đức Giêsu là Con yêu dấu của Ngài. Thiên Chúa cũng bênh đỡ chúng ta, coi chúng ta là những người con yêu dấu đến độ trao ban Con Một Ngài cho chúng ta.

2. Đáng yêu. Đáp lại tình yêu tha thiết thì hãy trở nên người đáng yêu. Ápraham là mẫu gương người đáng yêu. Ông đáng yêu vì kính sợ Thiên Chúa; Ông đáng yêu vì vâng lời Thiên Chúa; Ông đáng yêu vì chẳng tiếc hiến dâng con một của mình cho Chúa. Từ trong đám mây trời, Chúa bảo chúng ta hãy trở nên đáng yêu bằng cách vâng nghe lời Chúa, và noi gương Ápraham, chúng ta hãy sống quảng đại hiến dâng, chẳng tiếc gì, kể cả điều quý báu nhất như con một yêu dấu của mình.

Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay Chúa vào sa mạc để dẫn chúng ta đi vào trong cõi thinh lặng của lòng mình để sám hối trở về. Chúa Nhật này Chúa lên núi để hướng chúng ta nâng tâm hồn lên, để sống vươn cao: vươn cao lên để gặp Thiên Chúa là Cha yêu ta tha thiết, vươn cao lên cho thoát khỏi thân mình ích kỷ để trở thành người đáng yêu sống quảng đại dâng hiến, một lối sống cao đẹp, cao thượng. Được như thế, cuộc đời mỗi người và cả thế giới này sẽ biến hình lung linh đẹp đẽ như Chúa Giêsu. Amen.
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Nhân vụ các nhà thờ bị lạm dụng, chủ nghĩa thực dụng Khai Sáng đã chia rẽ dư luận Kitô giáo ra sao
Vũ Văn An
14:11 23/02/2024

Gavin Ashenden, trên Catholic Herald của Anh, ngày 20 tháng 2 năm 2024, nhận định rằng những xáo trộn về những gì nên hay không nên xảy ra trong một nhà thờ đã gây chia rẽ quan điểm Kitô giáo ở Anh.

Phép lạ ở Lanciano


Điều này có lẽ một phần là do sự khác biệt giữa tâm trí người Thệ phản và Công Giáo rất sâu xa. Nó không chỉ bị thúc đẩy bởi sự khác biệt trong nội dung niềm tin mà còn bởi những quan điểm khác nhau: điều mà người ta có thể gọi là những cảnh quan đối lập của tâm trí.

Anh giáo Thệ phản ra đời trong nền văn hóa Khai sáng. Do đó, có lẽ không có gì ngạc nhiên khi những người Anh giáo hiện nay trông coi các thánh đường thời Trung cổ ở Anh coi chúng chủ yếu là những tòa nhà lớn được sử dụng cho sứ mệnh của nhà thờ của họ. Những thánh đường đó có thể tình cờ đẹp, nhưng mục đích lại trở thành đặc điểm chính của chúng. Về cơ bản chúng rất hữu ích. Mọi việc phải được thực hiện cho chúng và trong chúng.

Người Anh giáo cảm thấy ngạc nhiên khi thấy người Công Giáo muốn hạn chế những cách thức sử dụng chúng hoặc lo ngại về những gì diễn ra trong đó. Với chút thiếu kiên nhẫn, họ đưa ra ví dụ về các sự kiện hoặc cuộc họp khác nhau đã diễn ra thành công trong các thánh đường dưới sự giám hộ của họ, như thể để chứng minh khả năng linh hoạt của họ.

Giả định cơ bản là bất cứ điều gì xảy ra trong nhà thờ đều phục vụ Chúa. Người ta lo sợ rằng nó có thể mất đi mục đích vì trống rỗng và không có hoạt động.

Trong một cuộc phỏng vấn với những người phản đối điều được một số người mô tả là “Rave in the Nave” [nổi sóng ở gian giữa nhà thờ] ở Nhà thờ Canterbury, thánh địa nơi Thánh Thomas Becket tử đạo, Viện trưởng Canterbury nói rằng theo suy nghĩ của ngài, không có sự khác biệt thẩm mỹ giữa các màn trình diễn của nhạc sĩ nhạc rap người Mỹ Eminem và nhà soạn nhạc người Séc Dvořák.

Khi những người Công Giáo phản đối, những người đã yêu cầu gặp ngài, hỏi rằng liệu có điều gì mà ngài cấm diễn ra trong Nhà thờ hay không, thí dụ duy nhất mà ngài đưa ra là nếu ai đó khỏa thân xuất hiện, ngài sẽ phản đối, bởi vì điều đó sẽ phạm luật hình sự.

Đối với người Thệ phản, sự hữu ích là một đức tính cơ bản. Và đằng sau tình yêu hữu ích là cả một nền văn hóa được khai sinh bởi Thời đại Khai sáng. Nó dẫn đến cuộc cách mạng khoa học dựa trên kỹ năng khảo sát, đo lường mọi thứ và khám phá cách chúng hoạt động.

Nhưng tâm trí Công Giáo đã được hình thành khoảng 1,500 năm trước thời kỳ Khai sáng và trong khi bao gồm nó thì nó nhưng không bị hạn chế bởi nó.

Thời kỳ Khai sáng cảm thấy thoải mái nhất với những gì có thể kiểm chứng được bằng thực nghiệm. Tuy nhiên, điều này làm nghèo đi và mất cân bằng đối với một người Công Giáo. Nó tạo ra việc chỉ nói một thứ tiếng về mặt triết học. Nó giản lược toàn bộ hiện thực vào chỉ một ngôn ngữ – và một ngôn ngữ khó chịu và không thoải mái với đức tin và mầu nhiệm.

Có lẽ không có gì ngạc nhiên khi tâm trí Anh giáo không dễ dàng tính đến tính thánh thiêng của vật chất. Có một kiểu phân nhánh ngộ đạo tách biệt tinh thần khỏi vật chất, đó là hệ quả của dự án Khai sáng. Người ta trở nên mơ hồ hơn về tinh thần là gì thế nào, thì sự tập chú vào vật chất – cũng như cách bạn đo lường và sử dụng nó – ngày càng mãnh liệt hơn thế ấy.

Tâm trí Công Giáo, vốn tin vào thực tại của vật chất được Thánh Thần biến đổi mà nó gặp trong Thánh lễ, lại nhìn thực tại một cách khác. Về mặt thần học, nó bắt đầu với khái niệm Thiên Chúa (tinh thần) mặc lấy xác thịt (vật chất), sau đó chỉ đơn giản tiếp tục quỹ đạo của nguyên tắc Nhập thể bằng cách biến đổi vật chất (bánh) thành tinh thần (Chúa Giêsu).

Bản thân chủ nghĩa duy nghiệm không đủ linh hoạt để bao hàm bất cứ ý nghĩa nào nằm ngoài các chiều kích của vật chất.

Tom Holland, tác giả cuốn Dominion: The Making of the Western Mind [Thống trị: Việc Tạo nên Tâm trí Phương Tây] về ảnh hưởng của Kitô giáo ở và đối với phương Tây, lập luận rằng một trong những mối nguy hiểm của cuộc cải cách Thệ phản và tư duy đi kèm nó là nó đã dẫn đến sự phụ thuộc hoàn toàn vào duy nghiệm, đồng thời ngày càng trở nên điếc tai trước ý nghĩa: làm nảy sinh sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa vô thần.

Nếu bạn không xử lý bản năng tôn giáo một cách chính xác trong bối cảnh đúng đắn, bạn có thể thấy nó bị xử lý một cách tồi tệ khi nó tái xuất hiện dưới một hình thức khác trong bối cảnh khác.

Nassim Nicholas Taleb, tác giả cuốn The Black Swan [Thiên nga đen], phân tích cách các sự kiện không thể đoán trước thay đổi và nhào nặn thế giới của chúng ta đến mức độ mà chúng ta thường không hiểu được, đồng thời tự mô tả mình là “nhà nhận thức luận về tính ngẫu nhiên”, trình bày chi tiết việc yếu tố tái xuất hiện này xảy ra trong thế giới kinh tế và thống kê ra sao.

Ông cảnh báo về nguy cơ mất tiếp xúc với điều thánh thiêng và sự phụ thuộc quá mức vào chủ nghĩa duy nghiệm duy vật: “Những người theo chủ nghĩa duy hiện đại… từ chối tôn giáo trên cơ sở hữu lý, nhưng sau đó lại sa vào phía các nhà dự báo kinh tế, nhà phân tích thị trường chứng khoán và nhà tâm lý học”.

Ông nhắc nhở chúng ta về một sự thật khó chấp nhận này: “chúng ta biết rằng các dự báo kinh tế không có tác dụng tốt hơn chiêm tinh học”, và đổ lỗi cho nền tảng của văn hóa Khai sáng: “một khi tôn giáo thoát khỏi điều thánh thiêng, nó sẽ trở thành đối tượng của những niềm tin nhận thức luận”.

Là một người theo Chính thống giáo Hy Lạp, Taleb cảnh báo Giáo Hội Công Giáo rằng nó sẽ không thoát khỏi việc duy lý hóa và chủ nghĩa duy vật mà đạo Thệ phản đã sa vào, nếu nó tiếp nhận cùng một quan điểm. Ông gợi ý, có lẽ hơi quá thẳng thắn nhưng dù sao cũng có lý do nào đó, rằng Công đồng Vatican II đã bắt đầu thực hiện các bước theo hướng đó:

“Thực tế là, Công Giáo đã mất đi thẩm quyền đạo đức của mình ngay khi nó trộn lẫn niềm tin nhận thức luận và triết học [liên quan đến triết lý nhận thức] – phá vỡ mối liên hệ giữa thánh thiện và phàm tục”, mà Nassim cho rằng đó là điều đã xảy ra với “aggiornamento của Công đồng Vatican II”, vào đầu những năm 1960”, một điều “nhằm 'cập nhật' đạo Công Giáo”.

Ông nói thêm: “Nhưng một khi tôn giáo thoát khỏi sự thánh thiêng, nó sẽ trở thành đối tượng của những niềm tin nhận thức luận. Chủ nghĩa vô thần là đứa con của đạo Thệ phản, và Vatican II hóa ra là một cuộc cải cách thứ hai.”

Điều này có thể hơi vụng về và phiến diện, nhưng ông ấy đã đúng khi cảnh báo về quỹ đạo đã đi theo.

Chưa hết, ngay cả khi nền văn hóa của Giáo hội bắt đầu tạm thời mất đi định hướng, nhầm lẫn geist [tinh thần cá nhân hay nhóm] với pneuma [thần khí], Chúa Thánh Thần vẫn không bỏ rơi Giáo hội.

Giáo Hội Công Giáo được định hình và xác định bởi mối quan hệ của nó với điều lạ lùng. Nó đã được định hình bởi cuộc gặp gỡ với những mầu nhiệm này. Và phép lạ là trải nghiệm vật chất được tái cấu hình bởi lòng cảm thương của Chúa Thánh Thần.

Mặc dù thường bị các nhà quan sát thế tục hiểu lầm và đánh giá sai, nhưng trải nghiệm về phép lạ có một lịch sử sâu sắc và nhất quán trong trải nghiệm Công Giáo. Cho dù đó là việc hóa lỏng máu ở Lanciano, hay những bức tượng khóc trên khắp thế giới, vật chất này có những lỗ nhỏ thông với sự hiện diện của Thiên Chúa và có thể và đôi khi được Chúa Thánh Thần tái cấu hình cho các mục đích của Tin Mừng.

Có rất nhiều trò lừa bịp và cả tin là mặt trái của niềm tin bất cẩn, nhưng dù sao cũng có những khoảnh khắc để điều thánh thiêng xuất hiện. Một sự kiện trong lịch sử gần đây mang lại cái nhìn sâu sắc về sự sống động của vật chất (và được Giáo hội xác nhận), đã diễn ra ở Nhật Bản khi một bức tượng bất chấp các định luật vật lý trong cuộc Đức Mẹ hiện ra ở Akita.

Phóng sự về sự kiện này rất hấp dẫn và cảm động. Nó diễn ra vào tháng 5 năm 1974 tại Akita, một thành phố ở bờ biển phía tây đất nước. Cùng với việc tái tạo vết thương trên tay của Sơ Agnes, nữ tu đã chứng kiến sự hiện ra, bức tượng mà qua đó Đức Maria nói chuyện đã thay đổi màu sắc. Mặt, tay và chân của bức tượng chuyển sang màu đỏ sẫm một cách đột ngột. Nhiều người chứng kiến cảnh này đã khóc rất nhiều.

Như đã được tiên đoán trong các lần hiện ra, bệnh điếc của Sơ Agnes đã được chữa khỏi vào ngày 30 tháng 5 năm 1982. Nhưng trọng tâm của sự kiện không phải là việc biến đổi của bức tượng, mà là những thông điệp kêu gọi Giáo hội cầu nguyện, sám hối và hoán cải sâu sắc hơn. Đối với những người coi trọng việc kết hợp vật chất và Tinh thần, các hiện tượng chứng thực đã được quan sát trên khắp thế giới Chính thống giáo, đặc biệt là các biểu tượng về Đức Mẹ đang khóc và tạo ra một chất có mùi thơm như mộc dược.

Giáo hội có lý khi nghi ngờ tất cả những hiện tượng như vậy cho đến khi một cuộc điều tra diễn ra. Nhưng xét đến số lượng các sự kiện như vậy đã được chứng thực – đặc biệt là các phép lạ Thánh Thể kể từ năm 1994 – thì hiệu quả là làm sâu sắc thêm nhận thức của Công Giáo rằng vật chất có những lỗ nhỏ thông với tinh thần. Hơn thế nữa, dưới sự giám hộ của lời cầu nguyện và sự sám hối của chúng ta, vật chất có mục đích cộng hưởng với sự hiện diện của Thiên Chúa.

Kinh thánh chứa đầy những tài liệu tham khảo đầy chất thơ về việc tạo vật ca ngợi Thiên Chúa như thể nó có sẵn một khả năng đáp ứng tiềm ẩn. Nhưng chiều kích Kitô học của đức tin đưa chúng ta đi xa hơn. Trong thư Cô-lô-sê 1:17, Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta: “Trong Chúa Kitô, mọi sự đều tồn tại”.

Người Công Giáo bác bỏ chủ nghĩa phiếm thần ngoại giáo, nhưng sửa đổi nó thành chủ nghĩa phiếm tại [panentheism= mọi sự đều ở trong Thiên Chúa] được bản vị hóa sâu sắc hơn. Vật chất chỉ tồn tại bởi vì nó được truyền dẫn sự hiện diện của Thiên Chúa và có đặc tính do mục đích của Chúa ấn định.

Vật chất không bao giờ có thể thiếu ý nghĩa thần học. Nếu vật chất có lỗ thông hoặc có khả năng có lỗ thông (porous) với Chúa Thánh Thần, thì việc vật chất được cấu hình lại một cách cụ thể và có mục đích để phục vụ Thiên Chúa sẽ có được tiếng vang, mục đích và ý nghĩa sâu sắc hơn trong động lực của Vương quốc Thiên đàng.

Tuy nhiên, những người Thệ phản có xu hướng nổi loạn vì các thánh tích. Nhưng thánh tích đối với tâm trí Công Giáo và trong kinh nghiệm Công Giáo là sự kết hợp của vật chất được chiếu sáng bởi mục đích nhân ái và sự hiện diện chữa lành của Thiên Chúa.

Các thánh đường và nhiều nhà thờ được tạo hình theo hình hài của Chúa Kitô trên thập giá. Đi qua cổng đá là thực hiện một cuộc hành trình sâu hơn vào sự hiện diện của Chúa Kitô về mặt địa hình cũng như về mặt tâm linh. Đó là cố tình đưa cả vật chất của tòa nhà và vật chất của cơ thể mình vào một thao tác song hành và gắn kết giữa tinh thần và linh hồn.

Chỉ có một hình thức phân biệt chủng tộc thần học làm đá và các tòa nhà mất hết ý nghĩa thần học và tiềm năng thần khí mới có thể nhìn một thánh đường theo những thuật ngữ thực dụng nghiêm ngặt và miễn nhiễm với sự không hòa hợp về mặt tinh thần khi sử dụng nó cho chủ nghĩa khoái lạc và sự tự thỏa mãn bị thế tục hóa.

Có lẽ một phần của sự không hòa hợp được tạo ra ở Canterbury bởi dự án kinh doanh của Cha Sở vào ngành giải trí không chỉ dừng lại ở sở thích và tiền bạc. Đó cũng là hậu quả của sự xung đột giữa quan điểm Công Giáo về sự hợp nhất giữa vật chất và tinh thần đã mang lại cho thế giới một thánh đường thời Trung cổ - một biểu hiện của tình yêu, đức tin và mục đích mà vẻ đẹp của nó khiến người ta nghẹt thở - và một cách nhìn rất khác về thế giới. Thậm chí có lẽ một cách khác để trải nghiệm Thiên Chúa.

Tiện ích và mục đích bị tước đi vẻ đẹp và mầu nhiệm đã mang lại cho chúng ta những công viên bán lẻ. Chúng ta phải có khả năng nhận ra sự khác biệt.