Patrick Neve, thần học gia từ giáo phận Pittsburgh, Hoa Kỳ có bài nhận định nhan đề “The two swords: when temporal and spiritual power clash”, nghĩa là “Hai thanh gươm: Khi quyền lực thế tục và quyền lực tâm linh xung đột”.
Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.
Sự kiện đó là cuộc ly giáo Acacian, một cuộc tranh chấp trong đó hoàng đế đã ủng hộ một thỏa hiệp thần học với những người dị giáo Monophysite và mong muốn Giáo hội sẽ tuân theo. Đức Giáo Hoàng Gelasius đã từ chối. Trong bức thư của mình, được biết đến với những lời mở đầu là Duo Sunt (Hai mặt), ngài đã trình bày giáo lý nền tảng của Công Giáo về mối quan hệ giữa quyền lực tinh thần và quyền lực thế tục:
'Có hai quyền lực chính chi phối thế giới này: đó là quyền lực thiêng liêng của các giáo hoàng và quyền lực hoàng gia. Trong số đó, quyền lực của các thầy tế lễ có trọng lượng hơn cả, vì họ phải chịu trách nhiệm trước Chúa về cả các vị vua.'
Đức Giáo Hoàng Gelasius không tin vào sự tách biệt giữa Giáo Hội và nhà nước theo nghĩa tự do hiện đại, mà là sự phân biệt giữa hai quyền lực được Chúa ban cho với những mục đích khác nhau trong một trật tự Kitô giáo thống nhất. Như Tiến sĩ Andrew Willard Jones lập luận trong cuốn Trước Nhà thờ và Nhà nước, trong nhiều thế kỷ, các nhà thần học Công Giáo không thấy sự phân biệt giữa nhà thờ và nhà nước. Là những người Kitô hữu, các vị vua chúa cai trị vương quốc của họ với tư cách là thành viên của nhà thờ đối với các thành viên khác.
Vì quyền lực tinh thần chi phối vận mệnh vĩnh hằng, nên nó tất yếu có ưu thế hơn quyền lực thế tục. Các nhà thần học sau này, đáng chú ý nhất là Bernard xứ Clairvaux và Đức Giáo Hoàng Boniface VIII trong thông điệp Unam Sanctam, đã phát triển thêm giáo lý này, lập luận rằng cả hai thanh gươm cuối cùng đều thuộc về Đại diện của Chúa Kitô: thanh gươm tinh thần do Giáo hội trực tiếp sử dụng, và thanh gươm thế tục do các vị vua chúa sử dụng dưới sự chỉ đạo đạo đức của Giáo hội.
Kể từ khi được nêu ra lần đầu tiên, học thuyết này đã là nguồn gốc của vô số xung đột giữa các giáo hoàng và các vị vua chúa Kitô giáo. Hôm Chúa Nhật, một chương khác trong cuộc xung đột đó đã diễn ra trên mạng xã hội. Tổng thống Trump, trong một bài đăng dài trên nền tảng mạng xã hội Truth Social của mình, đã chỉ trích Đức Giáo Hoàng Lêô XIV là “yếu kém trong việc chống tội phạm” và “tệ hại trong chính sách đối ngoại”. Ông cho rằng Đức Giáo Hoàng Lêô có được nhiệm kỳ giáo hoàng của mình vì nhiệm kỳ tổng thống của Trump. Ông nói với Giáo hoàng hãy “ngừng chiều theo phe Cánh tả cực đoan” và tập trung vào việc trở thành “một vị Giáo hoàng vĩ đại, chứ không phải một chính trị gia”.
Đức Giáo Hoàng Lêô, khi trả lời phóng viên, nói: “Tôi không sợ chính quyền Trump, cũng không sợ việc lên tiếng mạnh mẽ về thông điệp của Phúc Âm.” Ngài từ chối tranh luận với tổng thống, chỉ đơn giản nói: “Tôi không phải là chính trị gia.”
Trong nhiều năm, mối quan hệ giữa Vatican và Tòa Bạch Ốc hoạt động thông qua những ám chỉ bóng gió. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã đưa ra những lời bóng gió về Tổng thống Trump, như câu nói nổi tiếng “xây cầu chứ không phải xây tường”. Trong nhiệm kỳ của mình, Tổng thống Biden phần lớn đã phớt lờ mâu thuẫn rõ ràng giữa đức tin Công Giáo của ông và sự ủng hộ của ông đối với những tội ác như phá thai. Sự tế nhị đó tạo cảm giác thoải mái – nhưng cũng không trung thực.
Thời đại đó đã qua rồi. Giờ đây, Đức Giáo Hoàng và nhà lãnh đạo nhà nước đang công khai bất đồng quan điểm. Tuy nhiên, người Công Giáo không nên lo lắng về điều này. Bất chấp những vũ khí mới và hình thức liên lạc mới, đây chỉ là sự trở lại của căng thẳng cổ xưa và dai dẳng giữa hai thế lực này. Thay vào đó, người Công Giáo nên tận dụng cơ hội này để thảo luận về cách giải quyết những căng thẳng này khi chúng chắc chắn sẽ nảy sinh.
Sự căng thẳng giữa hai thanh kiếm này lặp đi lặp lại bởi vì động lực tiềm ẩn không bao giờ thay đổi: để phục vụ mục đích riêng của mình, quyền lực thế tục, do bản chất sa ngã của nó, luôn tìm cách khuất phục quyền lực tâm linh.
Điều này rất giống với sự căng thẳng giữa thể xác và linh hồn của con người. Thể xác và linh hồn là hai sức mạnh riêng biệt, được tạo ra để hợp tác hướng tới một mục đích duy nhất, trong đó linh hồn đúng đắn cai quản thể xác. Nhưng kể từ khi Sa ngã, thể xác đã gây chiến với linh hồn, khẳng định dục vọng của nó lấn át những gì lý trí và đức tin biết là đúng. Cũng vậy với quyền lực thế tục và quyền lực tâm linh. Thanh gươm thế tục, nếu được sử dụng đúng đắn, phục vụ cho mục đích tâm linh. Nhưng cám dỗ của quyền lực luôn là đảo ngược trật tự này và đòi hỏi Giáo hội phải tuân theo chương trình nghị sự của nhà vua hơn là nhà vua phải tuân theo giáo huấn của Giáo hội.
Sự phân biệt của Thánh Augustinô giữa Thành phố của Chúa và Thành phố của Nhân loại cung cấp một khuôn khổ thích hợp. Một người cai trị hướng quyền lực của mình vào việc thờ phượng Chúa và lợi ích chung sẽ đưa quốc gia của mình vào Thành phố của Chúa. Một người cai trị hướng quyền lực của mình vào sự kiêu ngạo, dục vọng hoặc tự tôn vinh sẽ xây dựng Thành phố của Nhân loại trong biên giới của mình. Gia đình, cộng đồng và quốc gia luôn đứng trước ngã ba đường này.
Về bản chất của cuộc xung đột hiện tại, lập trường của Đức Giáo Hoàng Lêô là không thể chê vào đâu được. Đức Giáo Hoàng có bổn phận phải lên tiếng về các vấn đề chiến tranh và hòa bình. Nước Thiên Chúa, như tiên tri Isaia đã nói, là một vương quốc mà gươm đao được rèn thành lưỡi cày và các quốc gia không còn huấn luyện chiến tranh nữa (Is 2:4). Viễn cảnh cánh chung của Kitô giáo là hòa bình. Đức Giáo Hoàng, với tư cách là Đại diện của Chúa Kitô, gánh vác trách nhiệm làm cho Nước Thiên Chúa hiện diện trong thế giới. Đó chính là thanh gươm thiêng liêng đang được sử dụng.
Trong thần học luân lý Công Giáo, chiến tranh, ở mức tốt nhất, là một điều tốt mang tính khắc phục, được cho phép trong những điều kiện nghiêm ngặt, không bao giờ được ca ngợi, và luôn luôn phải hướng tới việc khôi phục một nền hòa bình công bằng. Ngay cả những cuộc chiến tranh do Chúa truyền dạy trong Cựu Ước cũng mang tính khắc phục, nhằm mục đích thiết lập dân giao ước ở Đất Hứa hoặc bảo vệ nó. Cuộc chiến ở Iran là phi nghĩa, nhưng cho dù người ta có thể cưỡng từ đoạt lý mà cho rằng cuộc chiến ở Iran đáp ứng các tiêu chuẩn của một cuộc chiến tranh chính nghĩa đi nữa, người ta vẫn không thể lập luận rằng Đức Giáo Hoàng sai khi kêu gọi hòa bình. Đó là nhiệm vụ của ngài. Trong khi chiến tranh có thể bảo vệ Thành phố của Chúa khỏi sự tấn công từ Thành phố của Nhân loại, chỉ có hòa bình mới thực sự thúc đẩy Thành phố của Chúa tiến lên.
Câu hỏi khó chịu hơn đối với những người Công Giáo ủng hộ Tổng thống Trump không phải là liệu Đức Giáo Hoàng có nên lên tiếng về chính sách đối ngoại hay không. Mà là liệu họ đã nhìn nhận một cách trung thực về cách thức chính quyền này quảng bá cho Thành phố phàm trần hay chưa.
Tổng thống Trump đã ký các sắc lệnh hành pháp mở rộng quyền tiếp cận thụ tinh trong ống nghiệm, gọi tắt là IVF và tự xưng là “cha đẻ của IVF”, một thủ tục liên quan đến việc phá hủy phôi người và vi phạm phẩm giá của hành vi vợ chồng. Ông đã hoàn toàn nhượng bộ về việc công nhận hợp pháp hôn nhân đồng giới. Những sự nhượng bộ này đã giúp ông nhận được sự ủng hộ rộng rãi, nhưng lại là những hành vi xúc phạm trực tiếp đến trật tự đạo đức và đặc trưng của Thành phố của Nhân loại.
Người Công Giáo chỉ nên ủng hộ nhà lãnh đạo chính trị của mình chừng nào người đó thúc đẩy các điều kiện để Thành phố của Chúa phát triển thịnh vượng: đó là bảo vệ tự do tôn giáo, che chở những người dễ bị tổn thương và thúc đẩy thiện ích chung. Chúng ta nên bỏ phiếu cho những chính trị gia có khả năng nhất đưa quốc gia chúng ta đến Thành phố đó; và người Công Giáo cũng phải công khai và dứt khoát phản đối bất kỳ nhà lãnh đạo nào chừng nào người đó thúc đẩy Thành phố của Nhân loại, bất kể đảng phái nào.
Giáo hội đã tồn tại trước khi nền cộng hòa Mỹ ra đời và sẽ còn tồn tại lâu dài sau đó. Cả hai thanh gươm đều thuộc về Chúa Kitô. Người Công Giáo không cần phải sợ nói ra điều đó, ngay cả khi nhà vua phản đối.
Source:Catholic Herald