1. 40 Bài Tĩnh Tâm Mùa Chay: Thứ Ba Tuần Thứ 5 Mùa Chay, Ngày 24 Tháng 3 Năm 2026

Ds 21:4-9

Tv 101(102):2-3, 16-21

Ga 8:21-30

Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu (Ga 8:28)

Chúng ta nghĩ gì khi nghe rằng Chúa yêu thương chúng ta? Mùa Chay mời gọi chúng ta khám phá lại chiều sâu của chân lý này. Khi chúng ta hướng đến Lễ Phục Sinh, lời của Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta rằng Ngài sẵn sàng làm mọi điều để bày tỏ tình yêu của Cha dành cho chúng ta.

Chúa Giêsu phán: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu” (Ga 8:28). Những lời này hướng chúng ta trực tiếp đến Thập tự giá. Việc “giương cao” Chúa Giêsu không chỉ là sự đóng đinh Ngài, mà còn là sự tôn vinh Ngài. Khoảnh khắc tưởng chừng như là sự thất bại của Ngài lại trở thành sự mặc khải về danh tính thực sự của Ngài: Con là Đấng đồng nhất với Cha.

Chúng ta bị thu hút bởi việc chiêm ngưỡng Chúa Kitô chịu đóng đinh và học hỏi ý nghĩa đích thực của tình yêu. Từ thập giá, chúng ta thấy rằng Ngài không làm gì tự mình, mà làm mọi sự theo ý muốn của Chúa Cha. Sự khiêm nhường của Ngài không phải là yếu đuối, mà là lòng tin tưởng – lòng tin tưởng được sinh ra từ việc biết được tình yêu của Chúa Cha dành cho Ngài và cho tất cả con cái Ngài. Khi chiêm ngưỡng Chúa Giêsu, Đấng hiến dâng trọn vẹn cho chúng ta, chúng ta khám phá ra chiều sâu của tình yêu thương của Chúa Cha. Trái tim rộng mở, bị đâm thủng của Chúa Kitô bày tỏ tình yêu thương của Chúa Cha cho chúng ta.

Chúa Giêsu biết rằng Chúa Cha không bỏ rơi Ngài.

Ngay cả trong cơn đau đớn tột cùng của cuộc khổ nạn, khi bị bạn bè bỏ rơi và kẻ thù chế giễu, Chúa Cha vẫn luôn hiệp nhất với Con mình. Niềm tin chắc chắn này đã cho Ngài sức mạnh để phó thác.

Khi đón nhận tình yêu này, chúng ta được mời gọi cùng phó thác bản thân. Chúng ta thường hành động “theo ý mình”, dựa vào sức mạnh của chính mình hoặc bám víu vào những kế hoạch riêng. Tuy nhiên, Thập tự giá chỉ ra một con đường khác: đó là sống trong sự phụ thuộc vào tình yêu của Cha. Khi chúng ta kết hợp những nỗ lực và sự vâng phục của mình với Chúa Kitô, chúng ta cũng khám phá ra rằng Cha không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Nhìn ngắm Con được “giương cao” là biết rằng chúng ta là những người con yêu dấu của Cha.

Lạy Chúa Giêsu, Đấng được treo cao trên thập giá, xin kéo con vào mầu nhiệm tình yêu của Chúa Cha. Xin dạy con biết tin tưởng như Chúa đã tin tưởng, biết phó thác như Chúa đã phó thác, và sống như một người con yêu dấu của Chúa Cha. Amen.

Kate Atkins MGL


Source:VietCatholic

2. Mâu thuẫn giữa Giáo Hoàng người Mỹ và Tổng thống Mỹ càng ngày càng sâu sắc. Tổng thống Trump đáp trả lời kêu gọi ngừng bắn ở Iran của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV: “Chúng tôi không có ý định làm điều đó”.

Tổng thống Trump cho biết Tòa Bạch Ốc “không tìm cách” ban hành lệnh ngừng bắn trong cuộc chiến tranh Iran đang diễn ra sau khi Giáo hoàng Lêô XIV kêu gọi đối thoại thay vì xung đột.

Phóng viên Tòa Bạch Ốc của EWTN News, Owen Jensen, đã hỏi tổng thống về lời kêu gọi ngừng bắn của Đức Thánh Cha vào ngày 15 tháng 3 trong cuộc chiến tranh Trung Đông mới nhất. Đức Thánh Cha Lêô đã kêu gọi “những người chịu trách nhiệm về cuộc xung đột này” hãy “ngừng bắn và mở lại các con đường đối thoại”.

“Chúng ta có thể đối thoại, nhưng tôi không muốn ngừng bắn”, tổng thống đảng Cộng hòa đáp lại.

“Bạn không thể thực hiện lệnh ngừng bắn khi bạn đang tiêu diệt hoàn toàn phía bên kia,” Tổng thống Trump nói tiếp.

“Iran không có hải quân, không có không quân, không có bất kỳ trang thiết bị nào, không có trinh sát, không có pháo phòng không, không có radar, và tất cả các nhà lãnh đạo của họ đều đã bị giết ở mọi cấp bậc”, tổng thống nói.

“Chúng tôi không tìm cách ngừng bắn,” ông nói thêm.

Xung đột ở Iran bùng nổ vào ngày 28 tháng 2 khi Mỹ và Israel cùng nhau tiến hành các cuộc tấn công nhằm vào quốc gia Trung Đông này. Lãnh đạo tối cao Iran Ali Khamenei đã thiệt mạng trong cuộc oanh tạc kéo dài, cùng với nhiều quan chức cao cấp khác của Iran.

Iran đã đáp trả bằng cách phát động các cuộc tấn công vào các căn cứ của Mỹ và Israel. Cuộc xung đột đã làm gián đoạn các cuộc hành hương của người Công Giáo trong khu vực và khiến người Công Giáo phải vội vã di tản khỏi vùng chiến sự.

Trả lời phỏng vấn MS Now ngày 20 tháng 3, Tổng thống Trump cho biết Mỹ dự định tiếp tục cuộc xung đột ở Iran để bảo đảm nước này “không bao giờ có thể tái thiết” sau chiến tranh.

“Nếu chúng ta rời đi ngay bây giờ, họ sẽ mất ít nhất 10 năm để xây dựng lại, nhưng họ sẽ xây dựng lại thôi,” Tổng thống Trump nói với đài truyền hình.

Đức Giáo Hoàng Lêô đã nhiều lần kêu gọi chấm dứt chiến tranh và xung đột, cả ở Trung Đông lẫn Ukraine và nhiều nơi khác đang phải chịu đựng chiến tranh.

Chúa nhật tuần trước, Đức Giáo Hoàng nói:

Hai tuần qua, người dân Trung Đông đã phải chịu đựng bạo lực khủng khiếp của chiến tranh. Hàng ngàn người vô tội đã thiệt mạng, và vô số người khác buộc phải rời bỏ nhà cửa. Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc nhất đến tất cả những người đã mất người thân trong các cuộc tấn công nhằm vào trường học, bệnh viện và khu dân cư.

Các quan sát viên cho rằng lời kêu gọi hòa bình của Đức Giáo Hoàng không chỉ dựa trên niềm tin sâu sắc của Giáo Hội rằng bạo lực không bao giờ dẫn đến hòa bình, mà còn dựa vào thực tại lịch sử chính trị Hoa Kỳ. Hoa Kỳ có thể thắng trong các cuộc chiến ngắn ngày, nhưng khi cuộc chiến kéo dài, chi phí tăng cao, đến một lúc nào đó Quốc Hội phân cực sẽ quyết định cắt giảm đột ngột ngân sách khiến nó kết thúc một cách thảm hại như đã xảy ra trong chiến tranh Việt Nam, Iraq, và Afghanistan.

Ít người dám lạc quan tin rằng chiến tranh Iran sẽ kết thúc nhanh chóng. Thật vậy, địa hình của Iran về cơ bản khó khăn hơn nhiều so với Iraq. Với diện tích 1,65 triệu km², Iran lớn gấp khoảng bốn lần Iraq và được bao phủ bởi những dãy núi cao hơn 4.400 mét. Dân số Iran khoảng 90 triệu người, con số này lớn hơn nhiều so với 25 triệu người của Iraq vào năm 2003. Quân đội Iran, xếp hạng thứ 16 trên thế giới, sở hữu các cơ sở ngầm phân tán, hệ thống phòng không tiên tiến và một mạng lưới lực lượng ủy nhiệm trải rộng nhiều quốc gia.

Bên cạnh đó, tác động của cuộc chiến Iran sẽ rất khốc liệt với kinh tế toàn cầu. Mỗi người chúng ta ngay bây giờ cũng đã cảm nhận được tác động của nó.


Source:National Catholic Register

3. Việc Đức Giáo Hoàng Lêô trở lại căn hộ Giáo hoàng đã khắc phục một sự bất thường.

Linh mục Raymond J. de Souza, là chủ bút tập san Công Giáo Convivium của Canada. Ngài vừa có bài viết nhan đề “Pope Leo’s Return to the Papal Apartment Corrects an Anomaly”, nghĩa là “Việc Đức Giáo Hoàng Lêô trở lại căn hộ Giáo Hoàng đã khắc phục một sự bất thường.” Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.

Trong một tuyên bố ngắn gọn nhất, Văn phòng Báo chí Tòa Thánh hôm thứ Bảy cho biết Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã nhận phòng tại căn hộ Giáo hoàng trong Điện Tông Tòa, chuyển đến “những căn phòng mà các vị tiền nhiệm của ngài đã sử dụng” - một cách nói ngoại giao để nhấn mạnh rằng mọi vị Giáo hoàng kể từ Giáo hoàng Thánh Piô X đều đã sống ở đó, ngoại trừ sự lựa chọn đặc biệt của vị tiền nhiệm trực tiếp, cố Giáo hoàng Phanxicô.

Giờ đây khi Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã chuyển về căn hộ Giáo hoàng, liệu Thánh Phêrô cũng sẽ trở về? Mặc dù hầu như bị lãng quên, nhưng Giáo hoàng Phanxicô đã di dời hài cốt của Thánh Phêrô khỏi nhà nguyện riêng vào năm 2019 và gửi chúng đến Constantinople.

Việc Đức Lêô trở lại căn hộ của Giáo hoàng là một động thái vô cùng quan trọng, nhất là bởi vì trước đó người ta đã nhấn mạnh việc Giáo hoàng Phanxicô không sống ở đó mà quyết định sống trong một phòng khách sạn tại Domus Sanctae Marthae, là nhà khách của Vatican được sử dụng trong thời gian Cơ Mật Viện Hồng Y dành cho các Hồng Y và vào những thời điểm khác, cho các vị khách đến Rôma vì công việc của Vatican. Hầu hết các bài cáo phó thế tục về Giáo hoàng Phanxicô năm ngoái đều nhấn mạnh sự lựa chọn nơi ở của ngài, được coi là một dấu hiệu mạnh mẽ về tinh thần nghèo khó và lối sống giản dị của ngài.

Chính Đức Giáo Hoàng Phanxicô chưa bao giờ đưa ra lập luận đó, ngài chỉ lưu ý rằng căn hộ của Giáo hoàng rộng rãi nhưng không sang trọng, và giải thích quyết định của mình dựa trên tính cách cá nhân, thích được ở trong không gian nhộn nhịp của nhà khách hơn là một gia đình nhỏ, ổn định. Mặc dù Đức Giáo Hoàng Phanxicô thỉnh thoảng có bình luận về tâm lý của mình, nhưng ngài chưa bao giờ giải thích lý do kỳ lạ khi chọn sống trong phòng khách sạn suốt 12 năm.

Cần phải nhấn mạnh rằng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô chưa bao giờ tuyên bố quyết định của ngài có liên quan đến sự nghèo khó hay giản dị, bởi ngài biết rõ rằng lựa chọn đó vô cùng tốn kém. Khách sạn Sanctae Marthae đã mất toàn bộ tầng hai với số phòng cho thuê, gây thiệt hại hàng triệu đô la doanh thu, chưa kể chi phí cao để bảo đảm an ninh cho Giáo hoàng tại một khách sạn được thiết kế để đón tiếp lượng khách lạ liên tục ra vào.

Về phần mình, Đức Giáo Hoàng Lêô đã khéo léo không giải thích quyết định của mình dựa trên lý do chi phí, không viện dẫn rằng Tòa Thánh đang thiếu tiền không còn đủ khả năng chi trả cho sự xa hoa khi dành hàng chục triệu euro cho việc chăm sóc giáo hoàng trong suốt nhiệm kỳ. Trên thực tế, ngài không hề giải thích quyết định của mình, chỉ đơn giản là chuyển đến nơi được cung cấp chỗ ở cho giáo hoàng.

Việc chuyển địa điểm đã bị trì hoãn khoảng 10 tháng do công tác cải tạo quy mô lớn. Khi Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 được bầu vào năm 2005, những công tác cải tạo tương tự đã được thực hiện, nhưng trong thời gian ngắn hơn, vì Đức Bênêđíctô sống trong khu nhà tạm ở Vườn Vatican — là điều mà Giáo hoàng Thánh Gioan XXIII cũng đã làm vào năm 1958.

Lần này, Vatican không cần vội vàng vì Đức Giáo Hoàng Lêô XIV là vị giáo hoàng đầu tiên kể từ Giáo hoàng Pius XII, được bầu chọn năm 1939, đã sống bên trong Thành Vatican. Là nhà lãnh đạo Bộ Giám Mục, Đức Hồng Y Robert Prevost đã cư trú tại Rôma, không giống như Đức Gioan XXIII, người chuyển đến từ Venice, Thánh Giáo hoàng Phaolô Đệ Lục, người chuyển đến từ Milan, Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô I (từ Venice), và Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II từ Kraków.

Đức Hồng Y Joseph Ratzinger đã sống gần 25 năm ở Rôma trước khi được bầu làm giáo hoàng, nhưng nơi ở của ngài nằm ngay bên ngoài Thành Vatican, trên một quảng trường nhỏ đông đúc khách du lịch, nơi không thể sống an toàn với tư cách là giáo hoàng. Ngược lại, Đức Lêô đã ở một vị trí dễ dàng được bảo vệ bên trong các bức tường thành. Do đó, quá trình cải tạo kéo dài 10 tháng diễn ra khá thong thả.

Việc lựa chọn sống ở nơi được dành riêng cho các giáo hoàng là một ví dụ khác cho thấy Đức Giáo Hoàng Lêô cho rằng con người phải thích nghi với chức vụ hơn là chức vụ phải thích nghi với con người. Do đó, ngài đã lựa chọn trang phục, sử dụng các dinh thự của giáo hoàng — bao gồm cả Castel Gandolfo — và tuân thủ các truyền thống phụng vụ của giáo hoàng, quan trọng nhất là khi dâng các Thánh lễ công khai.

Việc Đức Thánh Cha sống trong căn nhà dành cho Giáo hoàng không có gì đáng ngạc nhiên, cũng giống như việc tổng thống Mỹ sống ở Tòa Bạch Ốc hay thủ tướng Anh sống ở số 10 phố Downing. Điều không thể tưởng tượng nổi là bất kỳ ai trong số họ lại chọn sống ở một khách sạn gần đó, điều này càng làm nổi bật sự đặc biệt khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô sống tại Sanctae Marthae.

Việc trở lại trạng thái bình thường đã đánh dấu quãng thời gian ngắn ngủi Đức Lêô làm giáo hoàng đòi hỏi một đợt sửa chữa khác đối với chính căn nhà của giáo hoàng.

Có vấn đề về nhà nguyện riêng, nơi lưu giữ những mảnh xương nhỏ của Thánh Tông đồ Phêrô. Trong số những thánh tích quý giá nhất thuộc sở hữu của Tòa Thánh, một số mảnh xương được lưu giữ trong nhà nguyện riêng của Giáo hoàng để ngài tôn kính.

Năm 1968, hài cốt của Thánh Phêrô được xác định qua khảo cổ học là nằm dưới bàn thờ chính trong Đền Thờ Thánh Phêrô. Phần lớn xương được tìm thấy vẫn ở nguyên vị trí. Nhưng Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã lấy chín mảnh nhỏ và đặt chúng vào một hộp đựng hài cốt đặc biệt, được cất giữ trong nhà nguyện ở căn hộ của Giáo hoàng. Ngài mong muốn lời cầu nguyện hằng ngày của Người kế vị Thánh Phêrô được nuôi dưỡng bởi sự hiện diện hữu hình của Hoàng tử các Tông đồ và rằng hài cốt của Thánh Phêrô sẽ bảo vệ Giáo hoàng và sứ vụ của ngài.

Những người kế nhiệm ngài đã duy trì phong tục này, không bao giờ di dời hộp đựng thánh tích để công chúng tôn kính. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã trưng bày thánh tích để công chúng tôn kính vào cuối Năm Đức Tin vào tháng 11 năm 2013, sau đó chúng được lưu giữ trong nhà nguyện riêng của căn hộ Giáo hoàng.

Năm 2019, theo lời kể của chính ngài, chỉ cân nhắc ý tưởng này chưa đầy 24 giờ, ngài đã trao các thánh tích cho phái đoàn đại diện cho Thượng phụ Đại kết Constantinople Bácthôlômêô I, tại Lễ trọng kính Thánh Phêrô và Thánh Phaolô ở Rôma.

“ Tôi không còn sống trong Điện Tông Tòa, tôi chưa bao giờ sử dụng nhà nguyện này, tôi chưa bao giờ cử hành Thánh lễ ở đây, và chúng ta có hài cốt Thánh Phêrô trong chính vương cung thánh đường, vì vậy sẽ tốt hơn nếu những hài cốt này được lưu giữ ở Constantinople,” Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói khi trao món quà cho phái đoàn đang kinh ngạc. “Đây là món quà của tôi dành cho Giáo hội Constantinople. Xin hãy nhận lấy hộp đựng hài cốt này và trao cho anh em tôi, Đức Thượng phụ Bácthôlômêô. Món quà này không phải từ tôi; đó là món quà từ Thiên Chúa.”

Giờ đây, khi Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã trở lại căn nhà của Giáo hoàng, điều còn lại là ngài cần âm thầm chỉ ra rằng hài cốt của Thánh Phêrô nên được đưa trở lại nhà nguyện của Giáo hoàng. Có khả năng Đức Thượng Phụ Đại Kết Bácthôlômêô sẽ đồng ý, và việc chuyển giao có thể được sắp xếp vào tháng Sáu, khi phái đoàn của ngài thực hiện chuyến thăm hàng năm tới Rôma để thăm Thánh Phêrô và Thánh Phaolô.

Việc Đức Giáo Hoàng không sống trong căn nhà của Giáo Hoàng suốt 12 năm là một điều bất thường mà Đức Thánh Cha nay đã sửa chữa. Còn việc chính Thánh Phêrô vắng mặt thì vẫn cần được sửa chữa.


Source:National Catholic Register

4. Giám mục người Bỉ tuyên bố kế hoạch phong chức linh mục cho những người đàn ông đã kết hôn.

Đức Cha Johan Bonny của Giáo phận Antwerp đã công bố vào ngày 20 tháng 3 một văn kiện nêu rõ việc áp dụng thượng hội đồng về tính đồng nghị trong giáo phận của mình. Trong đó, ngài nói rằng “vấn đề không còn là liệu Giáo hội có thể phong chức linh mục cho những người đàn ông đã kết hôn hay không, mà là khi nào Giáo hội sẽ làm điều đó và ai sẽ làm điều đó.”

“Thật ảo tưởng khi nghĩ rằng một tiến trình truyền giáo-thượng hội đồng nghiêm chỉnh ở phương Tây vẫn còn cơ hội thành công nếu không phong chức linh mục cho những người đàn ông đã kết hôn”, ngài nói thêm trong thư của mình.

Trong thư, Đức Cha Bonny viết rằng mặc dù các linh mục nước ngoài giúp bù đắp sự thiếu hụt ở nhiều giáo phận và “làm phong phú đời sống Giáo hội của chúng ta với một liều lượng lành mạnh của tính phổ quát và Công Giáo”, nhưng họ “đến để giúp chúng ta, chứ không phải để thay thế chúng ta. Hơn nữa, sẽ không công bằng nếu đặt gánh nặng thiếu hụt linh mục lên vai họ.”

“Nhiều giáo phận đang thiếu hụt linh mục địa phương trầm trọng. Số lượng nam giới độc thân muốn trở thành linh mục đã giảm xuống gần bằng không,” ngài nói thêm.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhiều lần khẳng định rằng Thượng hội đồng về tính đồng nghị không nhằm mục đích thay đổi giáo lý Công Giáo, mà là để thúc đẩy sự lắng nghe và tham gia trong Giáo hội. Khi được hỏi về vấn đề này vào năm 2024, ngài nói rằng “Thượng hội đồng không phải là một nghị viện”, và coi những suy đoán về sự thay đổi giáo lý là vấn đề ý thức hệ.

Mặc dù Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhiều lần cho phép thảo luận về vấn đề giáo sĩ có gia đình, ngài cũng đã nói rõ sự phản đối của mình đối với “chế độ độc thân nhiệm ý”. Trong một cuộc họp báo năm 2019 và trong một cuộc phỏng vấn cùng năm đó, ngài nói rằng “chế độ độc thân nhiệm ý không phải là giải pháp” cho cuộc khủng hoảng ơn gọi ở phương Tây.

Hơn nữa, khi vấn đề này trở thành trọng tâm trong Thượng hội đồng về Amazon, Đức Phanxicô cuối cùng đã từ chối mở đường cho việc phong chức cho những người đàn ông đã kết hôn, và không đưa ra điều khoản nào về vấn đề này trong tông huấn hậu Thượng hội đồng Querida Amazonia của ngài.

Mặc dù Đức Thánh Cha Lêô chưa trực tiếp lên tiếng về vấn đề này, nhưng ngài đã nhiều lần ca ngợi đời sống độc thân trong các bài phát biểu trước công chúng, gọi đó là “tình yêu trọn vẹn dành cho Chúa Kitô và Giáo hội của Ngài”.

Trong thư mục vụ của mình, Đức Cha Bonny nói rằng ngài sẽ “nỗ lực hết sức để phong chức linh mục cho những người đàn ông đã kết hôn trong giáo phận của chúng ta vào năm 2028.”

“Tôi sẽ trực tiếp tiếp cận họ và bảo đảm rằng đến lúc đó họ đã có đủ trình độ đào tạo thần học và kinh nghiệm mục vụ cần thiết, tương đương với các ứng viên linh mục khác. Quá trình chuẩn bị này sẽ minh bạch nhưng kín đáo, tránh xa sự chú ý của giới truyền thông”, Đức Cha Bonny nói thêm.

Giám mục người Bỉ cho biết ngài dự định dành hai năm tới để thực hiện “các sắp xếp cần thiết” với hội đồng giám mục Bỉ và Tòa Thánh, đồng thời nói thêm rằng đối với nhiều giám mục, “việc phong chức cho những người đàn ông đã kết hôn đã trở thành vấn đề lương tâm. Ở cấp độ đó, tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và đánh giá cũng rất quan trọng đối với uy tín của Giáo hội.”

Ngài cũng lập luận rằng việc Giáo hội Latinh loại trừ những người đàn ông đã kết hôn khỏi việc thụ phong linh mục trong khi cho phép các giáo sĩ đã kết hôn từ các Giáo Hội Công Giáo Đông phương và các mục sư cải đạo đã kết hôn từ các cộng đồng Tin lành chính thống được thụ phong là không nhất quán.

“Hầu hết các giáo phận hiện nay đều có một số linh mục Công Giáo đã kết hôn, điều này mang lại niềm vui và sự trân trọng cho mọi người. Một số linh mục này, như trong giáo phận của chúng tôi, thuộc về một Giáo Hội Công Giáo Đông phương… Một số được đào tạo tại chủng viện liên giáo phận của chúng tôi ở Leuven, cùng với các chủng sinh khác. Họ cử hành các bí tích theo cả nghi thức của họ và nghi thức của chúng tôi.”

“Những linh mục đã kết hôn khác là những người cải đạo; họ từng là giám mục, linh mục hoặc thừa tác viên trong các truyền thống Kitô giáo khác, đã cải đạo sang Công Giáo và có thể được thụ phong linh mục Công Giáo với tư cách là người cải đạo đã kết hôn. Không ai còn có thể giải thích được tại sao việc thụ phong cho những người đàn ông đã kết hôn lại khả thi đối với các chủng sinh Công Giáo Đông phương hoặc những người cải đạo sang Công Giáo, nhưng lại không khả thi đối với những người có ơn gọi Công Giáo bản xứ,” ngài nói thêm.

Ngài cũng liên hệ động thái này với cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục, nói rằng “vấn đề lạm dụng tình dục vẫn tiếp tục là gánh nặng. Các tiểu văn hóa và lối sống của giới giáo sĩ đã lỗi thời… Niềm tin vào Giáo hội và các vị linh mục đã bị suy giảm nghiêm trọng do đó”, tuyên bố cho biết.

Trong thư, Giám mục Đức Cha Bonny cũng đề cập đến vấn đề phụ nữ trong Giáo hội. Ngài nói rằng báo cáo của ủy ban thượng hội đồng về chức phó tế nữ, phản đối việc phong chức phó tế cho phụ nữ, là “đau lòng”. Giám mục cho biết “những lập luận được ủy ban sử dụng yếu về mặt thần học và lỗi thời về mặt nhân học. Chúng đã mất đi sức thuyết phục. Chúng dường như trái ngược với những gì Chúa Thánh Thần đang nói với các Giáo hội ngày nay”.

Ngài cũng nói rằng “không có giải pháp thay thế nào thỏa đáng được đưa ra [nhưng] mọi người đều biết và công nhận những nhiệm vụ quan trọng mà phụ nữ đảm nhiệm, cả trong đời sống phụng vụ và bí tích cũng như trong vai trò lãnh đạo hành chính của Giáo hội.”

Trong thư của mình, Đức Cha Bonny viết rằng “có chỗ cho sự đa dạng trong bí tích truyền chức. Việc tuyên bố rằng phụ nữ hoàn toàn không có chỗ trong khuôn khổ phức tạp của bí tích này dường như là một phán xét vội vàng.”

Mặc dù Đức Cha Bonny không công khai tuyên bố đoạn tuyệt với giáo lý Công Giáo về việc phong chức cho nữ giới, ngài nói rằng ngài sẽ “thực hiện những bước tiếp theo trong việc phát triển một chức vụ mục vụ giáo hội mà cả nam giới và nữ giới đều có thể tiếp cận bình đẳng, và được chia sẻ bình đẳng trong cả công tác mục vụ và quản lý của Giáo hội.”


Source:Pillar