Sau bữa trưa tại Chủng viện Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Phanxicô di chuyển bằng xe hơi đến Sân vận động “Franso Hariri” ở Erbil để cử hành Thánh lễ.

Sau một vài vòng trên chiếc pope mobile mui trần giữa các tín hữu, vào lúc 16g30 theo giờ địa phương, Đức Thánh Cha đã chủ tế Thánh Thể Chúa nhật thứ ba Mùa Chay trước một cộng đoàn 10,000 tín hữu.

Trong bài giảng, Đức Thánh Cha nói:

Thánh Phaolô đã nói với chúng ta rằng “Đức Kitô là sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1Cr 1: 22-25). Chúa Giêsu đã mạc khải sức mạnh và sự khôn ngoan đó trên hết bằng cách trao ban sự thứ tha và bày tỏ lòng thương xót. Ngài đã chọn làm như vậy không phải bằng cách phô trương sức mạnh hay bằng cách nói với chúng ta từ trên cao, bằng những bài diễn văn dài dòng và uyên bác. Ngài đã làm như vậy bằng cách hiến mạng sống của mình trên thập tự giá. Ngài đã bày tỏ sự khôn ngoan và quyền năng của mình bằng cách cho chúng ta thấy, cho đến cùng, sự trung tín trong tình yêu của Chúa Cha; lòng thành tín đối với giao ước của Thiên Chúa, Đấng đã đưa dân Người ra khỏi ách nô lệ và dẫn dắt họ vào một cuộc hành trình tự do (x. Xh 20, 1-2).

Thật dễ dàng rơi vào bẫy khi nghĩ rằng chúng ta phải chứng tỏ cho người khác thấy rằng chúng ta mạnh mẽ hay khôn ngoan. Thật dễ dàng rơi vào cái bẫy tạo ra những hình ảnh giả tạo về Thiên Chúa có thể mang lại cho chúng ta sự an toàn (x. Xh 20, 4-5). Tuy nhiên, sự thật là tất cả chúng ta đều cần đến sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa đã được Chúa Giêsu mạc khải trên thập tự giá. Trên đồi Canvê, Người đã dâng lên Chúa Cha những vết thương mà chỉ nhờ những vết thương ấy chúng ta mới được chữa lành (xem 1 Pr 2:24). Ở Iraq này, biết bao nhiêu anh chị em, bạn bè và đồng bào của anh chị em đang mang vết thương của chiến tranh và bạo lực, những vết thương cả hữu hình và vô hình! Chúng ta bị cám dỗ để phản ứng lại với những điều này và những trải nghiệm đau đớn khác bằng sức người, bằng trí tuệ của con người. Trái lại, Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta con đường của Thiên Chúa, con đường mà Ngài đã đi, con đường mà Ngài kêu gọi chúng ta đi theo Ngài.

Trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe (Ga 2:13-25), chúng ta thấy cách Chúa Giêsu xua đuổi những người đổi tiền và mọi kẻ mua người bán ra khỏi Đền thờ Giêrusalem. Tại sao Chúa Giêsu lại làm một điều đầy bạo lực và khiêu khích như thế? Ngài đã làm điều đó bởi vì Chúa Cha đã sai Ngài đến để thanh tẩy đền thờ: không chỉ là Đền thờ bằng đá, nhưng trên hết là đền thờ tâm hồn chúng ta. Chúa Giêsu không thể chấp nhận việc nhà của Cha Người trở thành một cái chợ (x. Ga 2,16); Ngài cũng không muốn trái tim chúng ta trở thành một nơi xáo trộn, rối loạn và hoang mang. Trái tim của chúng ta phải được làm sạch, sắp đặt ngăn nắp và thanh tẩy. Thanh tẩy những gì? Thưa: thanh tẩy khỏi sự giả dối làm vấy bẩn tâm hồn chúng ta, khỏi thói hai lòng đạo đức giả. Tất cả chúng ta đều có những thứ này. Chúng là những căn bệnh gây hại cho trái tim, ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta và khiến cuộc sống của chúng ta trở nên thiếu chân thành. Chúng ta cần phải tẩy sạch những bảo đảm lừa đảo có thể đánh đổi đức tin của chúng ta nơi Chúa bằng những thứ chóng qua, bằng những lợi thế tạm thời. Chúng ta cần quét sạch khỏi tâm hồn chúng ta và khỏi Giáo hội những cám dỗ tầm thường về quyền lực và tiền bạc. Để thanh tẩy lòng mình, chúng ta cần phải làm bẩn bàn tay của mình, cần cảm thấy có trách nhiệm và không được thờ ơ khi anh chị em của chúng ta đang đau khổ. Làm thế nào để chúng ta thanh lọc trái tim của chúng ta? Thưa: bằng nỗ lực của chính mình, chúng ta không thể; chúng ta cần Chúa Giêsu. Ngài có quyền năng để chiến thắng những điều xấu xa của chúng ta, để chữa lành bệnh tật của chúng ta, để xây dựng lại ngôi đền của trái tim chúng ta.

Để chỉ ra điều này, và như một dấu chỉ nói lên sức mạnh của mình, Chúa Giêsu nói tiếp: “Các ông cứ phá huỷ đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại” (câu 19). Chỉ một mình Chúa Giêsu Kitô có thể tẩy sạch chúng ta khỏi những công việc của ma quỷ. Chúa Giêsu, Đấng đã chết và đã sống lại! Chỉ có Chúa Giêsu, chỉ có Chúa!

Anh chị em thân mến, Chúa không để chúng ta chết trong tội lỗi. Ngay cả khi chúng ta quay lưng lại với Ngài, Ngài không bao giờ lìa xa và bỏ mặc chúng ta. Ngài tìm kiếm chúng ta, chạy theo chúng ta, để kêu gọi chúng ta ăn năn và tẩy rửa tội lỗi của chúng ta. Chúa phán: “Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống” (Êgiêkien 33:11). Chúa muốn chúng ta được cứu và trở thành những đền thờ sống động của tình yêu của Ngài, trong tình huynh đệ, trong sự phục vụ, trong lòng thương xót.

Chúa Giêsu không chỉ tẩy sạch tội lỗi cho chúng ta, mà còn ban cho chúng ta sức mạnh và sự khôn ngoan của chính Ngài. Ngài giải phóng chúng ta khỏi những quan niệm hẹp hòi và tranh cãi về gia đình, đức tin và cộng đồng là những điều gây chia rẽ, chống đối và loại trừ, để chúng ta có thể xây dựng một Giáo hội và một xã hội rộng mở cho mọi người và quan tâm đến những anh chị em đang cần chúng ta. Đồng thời, Ngài củng cố chúng ta để chống lại sự cám dỗ tìm kiếm sự trả thù, là thứ chỉ đẩy chúng ta vào vòng xoáy của những cuộc trả thù trả oán bất tận. Trong quyền năng của Chúa Thánh Thần, Người sai chúng ta ra đi, không phải với tư cách là những người truyền đạo, nhưng với tư cách là những môn đệ truyền giáo, những người nam nữ được kêu gọi để làm chứng cho sức mạnh chuyển hóa cuộc sống của Tin Mừng. Chúa Phục sinh làm cho chúng ta trở thành công cụ của lòng thương xót và hòa bình của Thiên Chúa, những nghệ nhân kiên nhẫn và can đảm của một trật tự xã hội mới. Như thế, nhờ quyền năng của Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần, những lời tiên tri của Tông đồ Phaolô nói với các tín hữu thành Côrintô được ứng nghiệm: “Sự điên rồ của Thiên Chúa còn hơn sự khôn ngoan của loài người, và sự yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn sự mạnh mẽ của loài người” (1Cr 1: 25). Các cộng đồng Kitô Giáo gồm những người đơn sơ và thấp hèn trở thành dấu chỉ cho thấy vương quốc của Ngài sắp đến, một vương quốc của tình yêu, công lý và hòa bình.

“Cứ phá hủy đền thờ này, và trong ba ngày, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại” (Ga 2,19). Chúa Giêsu đang nói về đền thờ của thân thể Ngài, và của cả Giáo hội nữa. Chúa hứa với chúng ta rằng, nhờ quyền năng phục sinh, Ngài có thể dựng lại chúng ta, và các cộng đồng của chúng ta, khỏi đống đổ nát do bất công, chia rẽ và hận thù để lại. Đó là lời hứa mà chúng ta cử hành trong Bí tích Thánh Thể này. Với con mắt đức tin, chúng ta nhận ra sự hiện diện của Chúa bị đóng đinh và phục sinh ở giữa chúng ta. Và chúng ta học cách đón nhận trí tuệ giải thoát của Ngài, để an nghỉ trong vết thương của Ngài, và tìm thấy sự chữa lành và sức mạnh để làm cho vương quốc của Ngài xuất hiện trong thế giới của chúng ta. Nhờ vết thương của Ngài, chúng ta đã được chữa lành (xem 1 Phi 2:24). Trong những vết thương đó, anh chị em thân mến, chúng ta tìm thấy sự xoa dịu của tình yêu thương xót của Người. Vì Ngài, giống như người Samaritanô nhân hậu của nhân loại, muốn xức dầu cho mọi tổn thương, muốn chữa lành mọi ký ức đau buồn và truyền cảm hứng cho một tương lai hòa bình và tình huynh đệ trên vùng đất này.

Giáo hội ở Iraq, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, đã làm rất nhiều để công bố sự khôn ngoan tuyệt vời này của thập tự giá bằng cách truyền bá lòng thương xót và sự tha thứ của Chúa Kitô, đặc biệt là đối với những người cần nhất. Ngay cả trong bối cảnh nghèo khó và gian truân, nhiều anh chị em đã hào phóng giúp đỡ cụ thể và liên đới với những người nghèo túng và đau khổ. Đó là một trong những lý do khiến tôi đến như một người hành hương ở giữa các anh chị em, để cảm ơn và xác nhận anh chị em trong đức tin và chứng tá. Hôm nay, tôi có thể thấy tận mắt rằng Giáo hội tại Iraq đang rất sống động, rằng Chúa Kitô đang sống và đang hoạt động trong dân tộc thánh thiện và trung tín này của Ngài.

Anh chị em thân mến, tôi phó dâng anh chị em, gia đình và cộng đồng của anh chị em cho sự bảo vệ từ mẫu của Đức Trinh Nữ Maria, Đấng đã kết hợp với Con của Mẹ trong cuộc khổ nạn và cái chết của Người, và đã chia sẻ niềm vui phục sinh của Người. Xin Mẹ cầu bầu cho chúng ta và dẫn chúng ta đến với Chúa Kitô, Đấng là quyền năng và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.

Vào cuối Thánh Lễ, Đức Tổng Giám Mục Công Giáo nghi lễ Chanđê của Erbil, là Đức Cha Bashar Matti Warda đã đọc một bài diễn văn cám ơn Đức Thánh Cha. Trước khi ban phép lành cuối cùng, Đức Thánh Cha Phanxicô có đôi lời chào mừng các tín hữu và khách hành hương hiện diện.

Đức Thánh Cha nói:

Tôi nồng nhiệt chào đón Đức Thượng Phụ Gewargis Đệ Tam, Giáo chủ Giáo Hội Assyriô Đông phương, cư trú tại thành phố này và tôn vinh chúng ta với sự hiện diện của ngài. Cảm ơn Đức Thượng Phụ.

Đức Thượng Phụ thân mến! Cùng với ngài, tôi chào đón các Kitô hữu thuộc nhiều giáo phái khác nhau: rất nhiều người trong số họ đã đổ máu của mình trên đất này! Do đó, các vị tử đạo của chúng ta cùng nhau tỏa sáng như những vì sao trên cùng một bầu trời! Từ đó các ngài kêu gọi chúng ta cùng nhau tiến bước, không ngại ngần, hướng tới sự hiệp nhất trọn vẹn.

Kết thúc buổi cử hành này, tôi cảm ơn Đức Tổng Giám Mục Bashar Matti Warda cũng như Đức Cha Nizar Semaan và các Giám mục anh em khác của tôi, những người đã làm việc rất chăm chỉ cho chuyến tông du này. Tôi biết ơn tất cả các bạn, những người đã chuẩn bị và đồng hành cùng chuyến thăm của tôi với lời cầu nguyện và chào đón tôi rất nồng nhiệt. Cách riêng, tôi chào những người Kurd yêu quý. Tôi đặc biệt biết ơn chính phủ và các cơ quan dân sự vì sự đóng góp không thể thiếu của họ, và tôi cảm ơn tất cả những người bằng nhiều cách khác nhau đã hợp tác trong việc tổ chức toàn bộ chuyến tông du này ở Iraq, chính quyền Iraq - tất cả mọi người - và nhiều tình nguyện viên. Tôi cảm ơn tất cả các bạn!

Trong thời gian ở giữa các bạn, tôi đã nghe thấy những tiếng nói vang lên nỗi buồn và mất mát, nhưng cũng có những tiếng nói chứa chan hy vọng và an ủi. Điều này phần lớn là do hoạt động bác ái không mệt mỏi được thực hiện bởi các tổ chức tôn giáo của mọi truyền thống, các Giáo hội địa phương của các bạn và các tổ chức bác ái khác nhau hỗ trợ người dân đất nước này trong công cuộc tái thiết và hồi sinh xã hội. Đặc biệt, tôi cảm ơn các thành viên của ROACO và các cơ quan mà họ đại diện.

Bây giờ sắp đến lúc tôi trở lại Rôma. Tuy nhiên, Iraq sẽ luôn ở bên tôi, trong trái tim tôi. Tôi yêu cầu tất cả các bạn, anh chị em thân mến, hãy cùng nhau hiệp nhất vì một tương lai hòa bình và thịnh vượng, không bỏ lại ai và không phân biệt đối xử với ai. Tôi xin cam đoan với anh chị em về những lời cầu nguyện của tôi cho đất nước thân yêu này. Đặc biệt, tôi cầu nguyện xin cho các thành viên của các cộng đồng tôn giáo khác nhau, cùng với tất cả những người nam nữ thiện chí, có thể làm việc cùng nhau để xây dựng tình huynh đệ và tình đoàn kết để phục vụ thiện ích chung và hòa bình salam, salam, salam. ! Sukrán, cảm ơn các bạn! Xin Chúa chúc lành cho tất cả! Xin Chúa phù hộ cho Iraq! Allah ma’akum! Chúa ở cùng anh chị em!

Sau đó, Đức Thánh Cha đã gặp ông Abdullah Kurdi, cha của cậu bé Alan, người bị đắm tàu cùng với anh trai và mẹ của mình trên bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 9 năm 2015, trong khi đang cố gắng đến Âu Châu.

Sau khi chào từ biệt Đức Tổng Giám Mục Erbil, Tổng thống và Thủ tướng của Khu tự trị người Kurdistan của Iraq, Đức Thánh Cha rời Sân vận động “ Franso Hariri” và đi xe đến Sân bay Erbil và lên một chiếc máy bay của Hãng hàng không Iraq để đến Sân bay Baghdad. Sau đó, ngài lên xe trở lại Tòa Sứ thần Tòa Thánh.


Source:Libreria Editrice Vaticana