ĐỜI SỐNG THÁNH THIẾN
PHẦN II
CAN ĐẢM ĐỐI DIỆN VỚI THỬ THÁCH VÀ THÁCH ĐỐ
11. Một cái nhìn thực tế về tình hình Giáo hội và thế giới thôi thúc chúng ta cũng xem xét những khó khăn gặp phải khi sống đời thánh hiến. Tất cả chúng ta đều ý thức đến những thử thách và việc thanh luyện mà đời sống thánh hiến đang trải qua trong những ngày này. Kho tàng ân huệ quý giá của Thiên Chúa được chứa đựng trong những bình đất vễ vỡ (x. 2 Cr 4,7) và mầu nhiệm sự dữ đe doạ những người dâng hiến trọn đời cho Thiên Chúa. Quan tâm đến những đau khổ và thách thức đang làm xáo trộn đời sống thánh hiến hôm nay, chúng tôi không muốn đưa ra một lời phê phán hay kết án, nhưng một lần nữa chúng tôi muốn hết lòng bày tỏ sự liên đới và gần gũi thân mật như những người không chỉ muốn chia sẻ niềm vui mà cả đau khổ nữa. Khi chúng tôi xem xét một vài khó khăn đặc biệt, chúng tôi sẽ đứng trên quan điểm của những người ý thức rằng lịch sử Giáo hội do Thiên Chúa hướng dẫn và mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến Người (x. Rm 8,28). Với cái nhìn đức tin ấy thì ngay cả điều tiêu cực cũng có thể là cơ hội cho một khởi đầu mới, nếu người ta nhận ra khuôn mặt Đức Ki-tô chịu đóng đinh và bị bỏ rơi, Đấng đã nhận lấy những giới hạn của chúng ta đến mức “mang lấy tội lỗi chúng ta vào thân thể mà đưa lên cây thập giá” (1 Pr 2,24).41 Thật vậy, ân sủng của Thiên Chúa được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối (x. 2 Cr 12,9).
Khám phá lại Ý nghĩa và Phẩm tính của Đời sống thánh hiến
12. Các khó khăn mà những người thánh hiến hôm nay phải đối diện có nhiều dạng, nhất là khi chúng ta lưu ý đến những bối cảnh văn hoá khác nhau mà họ đang sống.
Số tu sĩ suy giảm và lớn tuổi trong các Hội dòng, thật hiển nhiên trong vài nơi trên thế giới, đặt ra câu hỏi liệu đời sống thánh hiến còn là chứng tá khả thị có khả năng thu hút người trẻ nữa không. Nếu thiên niên kỷ thứ ba là thời đại đề cao vai trò giáo dân, các hiệp hội và các phong trào giáo hội như được khẳng định đây đó, thì chúng ta có thể thẳng thắn nêu câu hỏi: đâu là chỗ đứng dành cho các hình thức cổ truyền của đời sống thánh hiến? Đức Gio-an Phao-lô II nhắc nhở chúng ta: đời sống thánh hiến vẫn còn có một lịch sử cần được viết ra cùng với mọi tín hữu. 42
Tuy nhiên, chúng ta không thể làm ngơ trước sự kiện đời sống thánh hiến đôi khi đã không được trân trọng đúng mức. Có lúc người ta thiếu cả sự tin tưởng vào đời sống thánh hiến. Đối diện với những khủng hoảng tôn giáo hiện nay ảnh hưởng trên một phần lớn trong xã hội, những người thánh hiến, nhất là hôm nay, buộc phải tìm kiếm những hình thức hiện diện mới và đặt ra cho mình không ít những vấn nạn liên quan đến ý nghĩa căn tính của mình và tương lai.
Bên cạnh sự sự nhiệt tình xả thân nhằm làm chứng và tự hiến đến mức tử đạo, những người thánh hiến cũng cảm nghiệm những đe doạ của sự tầâm thường trong đời sống thiêng liêng, của việc trưởng giả hoá lần lần và não trạng tiêu thụ. Việc điều hành phức tạp các công việc mà những yêu cầu của xã hội và luật lệ mới của Nhà nước quy định, cùng với các cám dỗ tìm kiếm hiệu năng và duy hoạt động, có nguy cơ làm lu mờ tính độc đáo của Tin mừng và làm suy yếu các động cơ thiêng liêng. Tình trạng các dự phóng riêng tư chiếm ưu thế hơn các dự phóng cộng đoàn có thể xói mòn sự hiệp thông tình yêu giữa anh em, chị em.
Đó là những vấn đề thực tế, nhưng không nên tổng quát hoá. Những người thánh hiến không đơn độc trong nỗ lực sống mối căng thẳng giữa tục hoá và đời sống đức tin đích thực, giữa sự mỏng dòn của chính bản tính nhân loại và sức mạnh của ân sủng; đó là kinh nghiệm của mọi tín hữu trong Giáo hội.
13. Những khó khăn và vấn nạn mà đời sống tu trì trải qua hôm nay có thể làm nẩy sinh một kairos mới, một thời gian ân sủng. Đằng sau các thách đố ấy, ẩn dấu một tiếng gọi đích thật của Chúa Thánh Thần mời gọi khám phá lại sự phong phú và các tiềm năng của lối sống này.
Việc phải sống trong một xã hội thường bị nền văn hoá sự chết thống trị có thể trở thành một thách thức là phải trở nên những chứng nhân, những sứ giả và những người phục vụ sự sống kiên cường hơn.
Các lời khuyên phúc âm như khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục mà đức Ki-tô sống trong nhân tính trọn vẹn của người với tư cách là Con Thiên Chúa và được ôm ấp vì yêu mến Thiên Chúa, tỏ lộ như một con đường thực hiện nhân vị cách viên mãn ngược lại sự phi nhân hoá. Chúng là những thần dược chữa trị sự sa đoạ của tinh thần, đời sống và văn hoá, chúng công bố sự tự do của con cái Thiên Chúa và niềm vui sống theo các mối phúc lộc tin mừng.
Cảm tưởng mà một số người có về sự sút giảm lòng kính trọng đối với đời sống thánh hiến nơi một vài lãnh vực trong Giáo hội, có thể được xem như một lời mời gọi cần thanh luyện để tự do. Đời sống thánh hiến không nhằm tìm kiếm sự tôn vinh và tán thưởng của con người, nhưng được đền đáp bằng niềm vui khi được tiếp tục làm việc không mệt mỏi vì Nước Thiên Chúa, được trở nên hạt giống của sự sống đang âm thầâm lớn lên, không chờ đợi bất cứ phần thưởng nào khác ngoài phần thưởng Thiên Chúa sẽ ban tặng trong ngày sau hết (x. Mt 6,6). Đời sống thánh hiến tìm thấy căn tính của mình trong lời kêu gọi của Thiên Chúa, trong việc đi theo Người, trong tình yêu và phục vụ vô điều kiện, khả dĩ làm cho cuộc sống đầy tràn và có ý nghĩa trọn vẹn.
Nếu những người thánh hiến trở thành một đoàn chiên bé nhỏ ở một vài nơi vì nhân sự giảm sút, thì có thể xem đó như dấu chỉ Thiên Chúa mời gọi trở về với những nhiệm vụ chính yếu là làm men, dấu chỉ và ngôn sứ. Khối bột cần làm dậy men càng lớn, thì men Tin mừng càng phải có phẩm chất, đồng thời chứng tá đời sống và đoàn sủng phục vụ của những người thánh hiến càng phải sắc bén.
Sự kiện các ki-tô hữu ngày càng nhận thức tính phổ quát của ơn gọi nên thánh 43 thay vì làm cho việc tháp nhập một bậc sống đặc biệt thích đáng để thể hiện sự trọn hảo Tin mừng trở nên thừa thãi, lại có thể trở nên một động lực nữa để vui mừng cho những người thánh hiến. Bây giờ, họ gần gũi các thành phần của Dân Thiên Chúa hơn để cùng chia sẻ với họ con đường đi theo Đức Ki-tô, trong một sự hiệp thông đích thật hơn, trong sư tôn trọng lẫn nhau mà không cảm thấy tự tôn hay thấp kém hơn. Ý thức đó đồng thời thách thức họ nắm bắt giá trị dấu chỉ của đời thánh sống hiến trong mối tương quan với sự thánh thiện của mọi thành phần trong Hội thánh.
Thật thế, nếu mọi ki-tô hữu thật sự được kêu gọi “trở nên thánh và hoàn thiện trong bậc sống riêng của mình”44, thì những người thánh hiến, nhờ “sự thánh hiến mới và đặc biệt”45, có sứ mạng làm cho lối sống của Chúa Ki-tô toả rạng qua chứng tá của các lời khuyên phúc âm, nhờ đó họ nâng đỡ lòng trung thành của toàn thân thể Chúa Ki-tô. Đó không là một khó khăn, đúng hơn là một thách đố cho tính độc đáo và cho sự đóng góp đặc thù của các đoàn sủng đời thánh hiến, đồng thời cũng là đoàn sủng của linh đạo chia sẻ và của sứ vụ cổ võ sự thánh thiện của Giáo hội.
Những thách đố đó rõ ràng có thể tạo nên một lời mời gọi mạnh mẽ đào sâu chính đời sống thánh hiến mà chứng tá hôm nay cần thiết hơn bao giờ hết. Thật thích hợp để nhớ lại khả năng đáp ứng các thách đố và các khó khăn thời đại của các vị thánh lập dòng bằng một sự sáng tạo có tính đoàn sủng đích thật.
Nhiệm vụ của bề trên
14. Để khám phá lại ý nghĩa và phẩm chất của đời sống thánh hiến, các bề trên là những người được uỷ thác việc thi hành quyền bính có trách nhiệm chủ yếu, một trách nhiệm nặng nề và khó khăn. Trách nhiệm đó đòi hỏi họ thường xuyên hiện diện để có thể linh hoạt và đề nghị, nhắc nhở lý do hiện hữu của đời sống thánh hiến và hỗ trợ những người được uỷ thác cho họ sống trong sự trung thành không ngừng được đổi mới theo lời mời gọi của Thánh Khí. Một bề trên không thể từ chối sứ vụ linh hoạt, nâng đỡ anh chị em, đề xuất, lắng nghe và đối thoại. Chỉ bằng cách đó mà toàn thể cộng đoàn nhận thấy mình hiệp nhất trong sự hiệp thông trọn vẹn và trong công việc phục vụ tông đồ cũng như thừa tác vụ. Các chỉ dẫn trong huấn thị Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn vẫn còn là một đề tài hợp thời, khi đề cập đến các khía cạnh của quyền bính cần phải lượng giá hôm nay, huấn thị gợi lại nhiệm vụ của quyền bính trên bình diện thiêng liêng, quyền bính dẫn đến hiệp nhất và một quyền bính có khả năng lấy những quyết định chung cuộc đồng thời bảo đảm việc thi hành các quyết định ấy. 46
Mọi thành phần của cộng đoàn cần phải tham gia tích cực và tin tưởng vào đời sống và sứ vụ của cộng đoàn. Cho dù theo luật riêng, chính quyền bính có trách nhiệm chọn lựa và quyết định chung cuộc, thì đời sống hằng ngày trong cộng đoàn đòi hỏi một sự tham gia cho phép đối thoại và biện phân. Bấy giờ, mỗi cá nhân và toàn thể cộng đoàn có thể vạch ra một chương trình sống phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa, cùng nhau thực hiện thánh ý Người. 47 Đồng trách nhiệm và tham gia cũng được thực hiện ngay trong các tu nghị ở mọi cấp khác nhau, nhằm bảo đảm sự hiện diện thường hằng của Chúa là Đấng soi sáng và hướng dẫn. Đức thánh cha không ngần ngại nhắc lại sự khôn ngoan cổ xưa của truyền thống đan tu là thi hành linh đạo hiệp thông cách cụ thể và đúng đắn hầu cổ võ và đảm bảo một sự tham gia tích cực của tất cả.48
Một chương trình thường huấn nghiêm túc, xây dựng trên việc duyệt xét lại toàn bộ vấn đề huấn luyện của các Tu hội Đời sống Thánh hiến và Hiệp hội Tông đồ, sẽ soi sáng một con đường đổi mới đích thật: thực thế, sự canh tân “tiên vàn tùy thuộc việc huấn luyện các thành viên”.49
Thường huấn
15. Thời đại chúng ta đang sống đòi chúng ta xem xét lại toàn bộ việc huấn luyện những người thánh hiến, việc huấn luyện không còn giới hạn trong một quãng thời gian nào nữa. Không chỉ để giúp họ tháp nhập tốt hơn vào thực tại biến chuyển với một nhịp độ thường điên cuồng, nhưng điều quan trọng hơn là vì chính đời sống thánh hiến, tự bản chất, đòi buộc một sự sẵn sàng luôn luôn nơi những ai được mời gọi sống đời thánh hiến. Thực thế, nếu đời sống thánh hiến là “không ngừng đảm nhận thái độ của Đức Ki-tô”,50 thì hiểân nhiên con đường đó phải tồn tại suốt đời và bao trùm toàn thể con người, tâm hồn, trí khôn và sức lực (x. Mt 22,37), biến đổi bản thân nên giống Người Con là Đấng đã tận hiến cho Chúa Cha vì phần rỗi nhân loại. Hiểu như thế, việc huấn luyện không chỉ là thời kỳ đào tạo chuẩn bị cho việc tuyên khấn, nhưng còn tiêu biểu cho một lối suy tư thần học về đời sống thánh hiến, tự bản chất là một sự huấn luyện không bao giờ kết thúc nhằm “tham gia vào hành động của Chúa Cha, Đấng, nhờ Thánh Khí, phát huy trong lòng con người… những tâm tình Người Con” 51
Vì vậy, những người thánh hiến được huấn luyện để tự mình học tập suốt cuộc đời, ở mọi lứa tuổi và mọi giai đoạn, trong mọi môi trường và bối cảnh nhân loại, từ mọi người và mọi nền văn hoá, để có thể học hỏi bất cứ sự thật và vẻ đẹp nào chung quanh họ. Nhưng trên hết mọi sự, họ phải học biết tự huấn luyện qua cuộc sống mỗi ngày, qua cộng đoàn, nhờ anh chị em, nhờ các chuyện thường nhật, bình thường và bất thường, nhờ việc cầu nguyện và hoạt đôỉng tông đồ cực nhọc, trong niềm vui và đau khổ cho tới giây phút cuối đời. Cởi mở với người khác và với sự khác biệt, nhất là quan hệ với thời đại trở nên rất quan trọng. Những người thường huấn tìm cái lợi của thời đại chứ không chịu khuất phục. Họ đón nhận thời đại như một ân huệ và khôn khéo đi vào các nhịp điệu khác nhau của chính cuộc sống (ngày, tuần, tháng, năm) với sự sáng suốt, tìm kiếm sự hài hoà giữa các nhịp sống ấy và nhịp sống được ấn định bởi Thiên Chúa bất biến và trường tồn, là Đấng dánh dấu các ngày, các thế kỷ và các thời đại. Một cách độc đáo, những người thánh hiến học biết khuôn đúc bản thân nhờ năm phụng vụ, trong đó các mầu nhiệm trong cuộc đời của Con Thiên Chúa được tưởng niệm, để nhờ cuộc tử nạn và Phục sinh của Đức Ki-tô, họ bắt đầu lại mỗi ngày.
Cổ võ ơn gọi
16. Một trong những hoa trái đầu tiên của con đường thường huấn là khả năng sống ơn gọi mỗi ngày như một ân huệ, luôn luôn mới mẻ và được đón nhận với lòng biết ơn: ân huệ ấy đòi hỏi một thái độ có trách nhiệm hơn, được minh chứng bằng sức thuyết phục và thu hút thường xuyên để người khác có thể cảm nhận mình được kêu gọi đến với Thiên Chúa qua ơn gọi đặc thù hay qua các con đường khác. Người thánh hiến tự bản chất cũng là một linh hoạt viên ơn gọi: ai được kêu gọi thì không thể không trở nên người kêu gọi. Do đó, giữa thường huấn và linh hoạt ơn gọi có mối liên kết tự nhiên. Phục vụ các ơn gọi là một trong những thách đốù gay gắt nhất mà đời sống thánh hiến hôm nay phải đương đầu. Một đàng, việc toàn cầu hoá văn hoá và tính phức tạp trong tương quan xã hội làm cho sự chọn lựa triệt để và vĩnh viễn trở nên khó khăn; đàng khác, thế giới đang trải qua một kinh nghiệm về những đau khổ tinh thần và vật chất đang xói mòn chính nhân phẩm của con người và đang âm thầm kêu xin những con người loan báo cách mạnh mẽ một sứ điệp hoà bình và hy vọng, những con người mang đến ơn cứu dộ của Đức Ki-tô. Chúng ta hãy nhớ lại lời của Chúa Giê-su: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Anh em hãy cầu xin chủ mùa gặt sai thợ đến gặt lúa của Người” (Lc 10,2; Mt 9,37-38).
Công việc đầu tiên của bất cứ chương trình mục vụ ơn gọi nào cũng luôn luôn là cầu nguyện. Cách riêng trong những nơi có ít người chọn lựa đời sống thánh hiến, cần có một đức tin được đổi mới vào Thiên Chúa, Đấng có thể biến những hòn đá trở nên con cái Áp-ra-ham (x. Mt 3,9) và làm cho lòng dạ son sẻ sản sinh hoa trái, nếu kêu xin với lòng tin tưởng. Mọi tín hữu, nhất là người trẻ, sẽ bị thu hút bởi sự bày tỏ đức tin như thế vào Thiên Chúa, chỉ mình Người có thể kêu gọi và sai thợ gặt đến. Toàn thể Giáo hội địa phương - giám mục, linh mục, giáo dân, người thánh hiến - đều được mời gọi đảm nhận trách nhiệm cổ võ ơn gọi cho sự thánh hiến đặc biệt này.
Con đường vương giả nhằm cổ võ ơn gọi sống đời thánh hiến là con đường đã được Chúa khởi sự khi Người nói với hai tông đồ Gio-an và An-rê: “Hãy đến mà xem” (Ga 1,39). Cuộc gặp gỡ đó kèm theo việc chia sẻ đời sống đòi buộc những người thánh hiến sống cách sâu xa sự thánh hiến của họ để có thể trở nên dấu chỉ khả thị của niềm vui mà Thiên Chúa ban cho những ai lắng nghe tiếng gọi của Người. Vì lý do đó, các cộng đoàn cần tiếp đón và chia sẻ lý tưởng đời sống với những người trẻ, để cho họ bị thách thức bởi những đòi hỏi của sự chân thực và tự nguyện chấp nhận.
Giáo hội địa phương là nơi ưu tiên để công bố lời mời gọi ấy. Nơi đây, các tác vụ và đoàn sủng biểu lộ sự bổ túc cho nhau52 và cùng nhau thực hiện sự hiệp thông trong cùng một Thánh Khí của Chúa Ki-tô, bằêng nhiều cách thức thể hiện khác nhau. Sự hiện diện tích cực của những người thánh hiến sẽ giúp các cộng đoàn ki-tô hữu trở nên những phòng thí nghiệm của đức tin, nơi tìm kiếm, suy tư và gặp gỡ, hiệp thông và hoạt động tông đồ, trong đó mỗi người cảm thấy mình tham gia vào việc xây dựng Nước Thiên Chúa. Bằng cách đó, sẽ làm phát sinh bầu khí đặc trưng của Giáo hội như là một gia đình, một môi trường thuận tiện cho sự hiểu biết hỗ tương, chia sẻ và thấm nhiễm các giá trị vốn là cội rễ của các chọn lựa dâng hiến trọn đời vì sự nghiệp Nước Thiên Chúa.
17. Chăm sóc các ơn gọi là một nhiệm vụ mấu chốt cho tương lai của đời sống thánh hiến. Sự giảm sút ơn gọi ở Tây phương và sự gia tăng ở Á Châu và Phi Châu đang vẽ nên một địa dư mới về sự hiện diện của đời sống thánh hiến trong Giáo hội và tạo nên sự cân bằng mới về văn hoá trong đời sống các tu hội. Bậc sống này, mà qua việc tuyên khấn các lời khuyên phúc âm, đang làm cho những nét đặc trưng của Đức Giê-su trở nên hữu hình giữa lòng thế giới như một mẫu gương thường hằng,54 ngày hôm nay đang trải qua một giai đoạn dặc biệt là suy tư và nghiên cứu với những phương pháp mới trong các nền văn hoá mới. Đó chắc chắn là một khởi đầu đầy hứa hẹn để triển khai cách diễn đạt các hình thái đoàn sủng đa dạng một cách mới mẻ.
Những biến đổi đang xuất hiện trực tiếp ảnh hưởng đến mỗi Tu hội Đời sống Thánh hiến và Hiệp hội Tông đồ, mời gọi họ làm cho sự hiện diện của họ trong Giáo hội và việc phục vụ nhân loại mang một ý nghĩa thấm nhuần Tin mừng. Mục vụ ơn gọi đòi hỏi phát huy các phương thức gặp gỡ mới mẻ và sâu sát; trao ban một chứng tá sống động về các nét đặc trưng của việc đi theo Đức Giê-su và của sự thánh thiện; loan báo một cách mạnh mẽ và rõ ràng sự tự do phát sinh từ một cuộc sống khó nghèo mà kho tàng duy nhất là Nước Thiên Chúa, tình yêu thẳm sâu của một cuộc sống khiết tịnh chỉ ước muốn một con tim duy nhất: con tim của Đức Ki-tô, và sức mạnh thánh hoá và canh tân chứa đựng trong một cuộc sống vâng phục, mà mục tiêu duy nhất là thi hành thánh ý Thiên Chúa vì phần rỗi thế giới.
Ngày hôm nay, cổ võ ơn gọi là một nhiệm vụ không thể chỉ uỷ thác cho một vài chuyên viên, cũng không thể tách rời khỏi mục vụ giới trẻ đích thực có mục dích đầu tiên và nhất là chuyển thông tình yêu Đức Ki-tô cho họ. Mỗi cộng đoàn và mọi thành viên các Tu hội được mời gọi đảm nhận nhiệm vụ tiếp xúc với người trẻ, giảng dạy về việc đi theo Đức Ki-tô và chuyển giao đoàn sủng. Người trẻ đang chờ đợi ta đề nghị cho họ những lối sống Tin mừng đích thật và những phương thức đạt tới các giá trị thiêng liêng cao cả của đời sống nhân bản và ki-tô giáo. Những người thánh hiến phải khám phá lại nghệ thuật giáo dục để khơi dậy và giải quyết các vấn nạn nan giải thường ẩn dấu trong lòng mỗi người, đặc biệt đối với người trẻ. Khi những người thánh hiến đồng hành với người khác trên con đường biện phân ơn gọi, họ buộc phải chia sẻ nguồn cội căn tính của họ. Truyền đạt kinh nghiệm sống luôn luôn đòi hỏi phải hồi tưởng và tìm lại nguồn sáng đã hướng dẫân người đó đến việc chọn lựa ơn gọi riêng.
Tiến trình huấn luyện
18. Liên hệ đến việc huấn luyện, Thánh bộ đã xuất bản hai tài liệu sau: Potissimum Institutioni và Cộng tác Huấn luyện giữa các Tu hội. Tuy nhiên, chúng tôi rất ý thức đến những thách đố liên tục mà các Tu hội phải dương đầu trong lãnh vực này.
Các ơn gọi mới đến gõ cửa đời sống thánh hiến thì rất đa dạng nên đòi hỏi phải có một sự quan tâm riêng và các cách thức khả dĩ đáp ứng hoàn cảnh cụ thể về nhân bản, thiêng liêng và văn hoá. Vì thế, cần có một sự biện phân thanh thản, không ràng buộc bởi các cám dỗ về số lượng hay hiệu năng, để xác minh tính xác thực của ơn gọi và sự trong sáng của động cơ dưới ánh sáng của đức tin và những mâu thuẫn có thể xảy ra.
Người trẻ cần được thách đố để đi theo những lý tưởng cao cả của việc triệt để đi theo Đức Ki-tô và những đòi hỏi sâu xa của sự thánh thiện, khi biện phân một ơn gọi vượt quá con người họ hay vượt quá các ý tưởng ban đầu đã lôi cuốn họ gia nhập một Tu hội nào đó. Bởi đó, việc huấn luyện phải có những đặc tính của việc dẫn nhập vào việc đi theo Đức Ki-tô cách triệt để. “Vì mục đích của dời sống thánh hiến chính là đồng hình đồng dạng với Chúa Giê-su”, nên cần phải khởi đầu bằng “con đường đồng hoá dần dà với các thái độ của Đức Ki-tô đối với Cha Người. 55 Điều đó sẽ giúp hội nhập các kiến thức thần học, nhân văn và kỹ thuật vào đời sống thiêng liêng và tông đồ của Tu hội, và sẽ luôn luôn duy trì tính chất của một “trường học dạy sự thánh thiện”.
Thách đố gay gắt nhất mà việc huấn luyện phải đương đầu nảy sinh từ các giá trị của nền văn hoá toàn cầu hoá hôm nay. Việc loan báo của Ki-tô giáo về sự sống như là ơn gọi, nghĩa là bắt nguồn từ kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa và đòi hỏi một sự gặp gỡ thiết thân và mang tính cứu độ với Đức Ki-tô trong Giáo hội, phải chạm trán với những quan niệm và những dự phóng có ảnh hưởng lớn của các nền văn hoá và lịch sử xã hội vốn hết sức đa dạng. Có nguy cơ là các chọn lựa chủ quan, các dự phóng cá nhân và các tập tục địa phương sẽ chiếm ưu thế hơn luật lệ, nếp sống cộng đoàn và dự phóng tông đồ của cộng đoàn. Điều đó cần đến một sự đối thoại mang tính huấn luyện có khả năng đón nhận các đặc điểm nhân bản, xã hội và thiêng liêng của mỗi người, bằng cách khám phá trong đó những giới hạn của con người cần phải khắc phục, và những thúc đẩy của Thánh Khí có thể đổi mới đời sống của cá nhân cũng như các Tu hội. Trong một thời kỳ biến chuyển sâu xa, việc huấn luyện cần chú ý gieo trồng trong tâm khảm những người thánh hiến trẻ các giá trị nhân bản, thiêng liêng và đoàn sủng cần thiết khả dĩ làm cho họ thể hiện một sự “trung tín sáng tạo” trong đường hướng của truyền thống thiêng liêng và tông đồ của Tu hội. 56
Các Tu hội thánh hiến càng ngày càng có đặc tính khác biệt về văn hoá, tuổi tác và dự phóng. Việc huấn luyện phải chuẩn bị cho biết đối thoại trong cộng đoàn, với lòng chân thành và bác ái của Đức Ki-tô, bằng cách dạy cho biết nhìn xem sự khác biệt như là một sự phong phú và làm quen với các cách nhìn và cảm nghĩ khác nhau. Nỗ lực liên lỉ tìm kiếm sự hiệp nhất trong đức ái như thế sẽ trở thành trường dạy hiệp thông cho các cộng đoàn ki-tô hữu và là một đề nghị cho sự chung sống huynh đệ giữa các dân tộc.
Tiếp theo đó cần phải đặc biệt chú ý làm sao cho việc huấn luyện văn hoá đi đôi với thời đại và đối thoại với nỗ lực tìm kiếm ý nghĩa của đời sống con người ngày hôm nay. Vì thế cần chuẩn bị kỹ lưỡng hơn trong lãnh vực triết học, thần học cũng như tâm lý và một định hướng sâu sắc hơn cho đời sống thiêng liêng, những mẫu mực thích ứng hơn với các nền văn hoá là nơi phát sinh các ơn gọi mới và các chương trình thường huấn đã được hoạch định chín chắn. Và điều đáng ước mong nhất là các nguồn năng lực tốt nhất sẽ được đầu tư cho việc huấn luyện, dù phải có những hy sinh lớn lao. Sử dụng những nhân sự có khả năng và chuẩn bị thích đáng cho họ phải là một ràng buộc ưu tiên.
Chúng ta phải rất quảng đại trong việc cống hiến thời giờ và năng lực tốt nhất cho việc huấn luyện. Quả thế, những người thánh hiến chính là tiềm lực tốt nhất mà chúng ta đang có. Không có họ, các kế hoạch huấn luyện và tông đồ vẫn chỉ là lý thuyết và ước mơ vô bổ. Trong thời đại vội vã như chúng ta hiện nay, hơn bao giờ hết cần có sự kiên trì và nhẫn nại chờ đợi để thực hiện mục tiêu của việc huấn luyện. Trong những hoàn cảnh mà sự nhanh chóng và nông cạn chiếm ưu thế, thì chúng ta cần có sự thanh thản và thâm trầm, vì trên thực tế con người được hình thành rất chậm.
Vài thách đố nghiêm trọng
19. Tầm quan trọng của phẩm chất đời sống và những đòi hỏi của việc huấn luyện được nhấn mạnh bởi vì đó là những phạm vi cần được lưu tâm hơn hết. Thánh bộ Đời sống Thánh hiến và Hiệp hội Tông đồ ao ước gần gũi với những thánh hiến trong mọi vấn đề và tiếp tục đối thoại cách chân thành và tích cực hơn nữa. Các thành viên Hội nghị nhận thấy nhu cầu đó và bày tỏ ước muốn hiểu biết và cộng tác nhiều hơn với các Tu hội Đời sống Thánh hiến và Hiệp hội Tông đồ. Sự hiện hiện của họ trong Giáo hội địa phương, nhất là các tu hội thuộc thẩm quyền giáo phận, các trinh nữ thánh hiến và các ẩn sĩ cần được quan tâm đặc biệt, nhất là bởi các giám mục và linh mục đoàn.
Cũng thế, các ngài ý thức đến các vấn đề do các tu sĩ đặt ra liên quan đến các công tác mà cho đến nay họ được phép phục vụ phù hợp với đoàn sủng riêng của họ: bệnh viện, trường học, nhà tiếp đón và nhà tĩnh tâm. Đó là những nhu cầu cấp thiết tại một vài nơi trên thế giới, song ở một vài nơi khác thì việc điều hành trở nên khó khăn. Cần có sự sáng tạo, khôn ngoan và đối thoại giữa các thành viên Tu hội cũng như giữa các Tu hội hoạt đôỉng trong cùng một lãnh vực, đồng thời đối thoại với người hữu trách của Giáo hội địa phương để tìm ra giải pháp đúng dắn.
Các đề tài hội nhập văn hoá cũng rất hợp thời. Chúng liên quan đến cách thức hội nhập đờụi sống thánh hiến, thích nghi các hình thái linh đạo và công việc tông đồ, cách quản trị, việc huấn luyện, việc sử dụng tiềm năng và của cải vật chất và công việc truyền giáo. Lời kêu gọi Đức Giáo hoàng ngỏ với toàn thể Giáo hội cũng có thể áp dụng cho đời sống thánh hiến. “Trong ngàn năm thư ba, Ki-tô giáo sẽ phải đáp ứng một cách hiệu quả hơn nhu cầu hội nhập văn hoá. Trong khi vẫn hoàn toàn trung thực với chính mình, cùng với niềm tin không lay chuyển vào sứ vụ loan báo Tin mừng và truyền thống của Giáo hội, Ki-tô giáo cũng sẽ phản ánh các khía cạnh khác nhau của các nền văn hoá và các dân tộc mà ki-tô giáo được đón nhận và cắm rễ trong đó”. 57 Một tiến trình hội nhập văn hoá đúng đắn trong đời sống thánh hiến và trong toàn thể Giáo hội sẽ tạo nên một sự phong phú đáng kể và một thời kỳ phát triển mới về mặt thiêng liêng và tông đồ.
Chúng ta không sao liệt kê hết các dự tính khác của đời sống thánh hiến lúc khởi đầu ngàn năm thứ ba này, vì Thánh Khí luôn thúc đẩy chúng ta tiến lên phía trước và xa hơn. Đó là lời của Thầy, Đấng kích thích lòng nhiệt tâm của tất cả các môn đệ để hồi tưởng quá khứ với lòng biết ơn, sống giây phút hiện tại trong niềm hăng say và nhìn về tương lai với lòng tin tưởng. 58
Lắng nghe lời mời gọi Đức Gio-an Phao-lô II gởi đến toàn thể Giáo hội, đời sống thánh hiến phải sáng suốt xuất phát lại từ Đức Ki-tô, bằng cách chiêm ngưỡng khuôn mặt Người, dành ưu tiên cho các con đường linh đạo như là sự sống, thực hành việc đào tạo và mục vụ: “Giáo hội cũng chờ đợi các tu sĩ nam nữ thánh hiến góp sức tiến bước trên con đường mới thể theo đường hướng mà tôi vạch ra trong tông huấn Ngàn năm mới: Chiêm ngưỡng khuôn mặt Đức Ki-tô, xuất phát lại từ Người, làm chứng cho Tình yêu của Người”.59 Chỉ như thế, đời sống thánh hiến mới tìm thấy sinh khí mới để hiến mình phục vụ toàn thể Giáo hội và tất cả nhân loại.
PHẦN II
CAN ĐẢM ĐỐI DIỆN VỚI THỬ THÁCH VÀ THÁCH ĐỐ
11. Một cái nhìn thực tế về tình hình Giáo hội và thế giới thôi thúc chúng ta cũng xem xét những khó khăn gặp phải khi sống đời thánh hiến. Tất cả chúng ta đều ý thức đến những thử thách và việc thanh luyện mà đời sống thánh hiến đang trải qua trong những ngày này. Kho tàng ân huệ quý giá của Thiên Chúa được chứa đựng trong những bình đất vễ vỡ (x. 2 Cr 4,7) và mầu nhiệm sự dữ đe doạ những người dâng hiến trọn đời cho Thiên Chúa. Quan tâm đến những đau khổ và thách thức đang làm xáo trộn đời sống thánh hiến hôm nay, chúng tôi không muốn đưa ra một lời phê phán hay kết án, nhưng một lần nữa chúng tôi muốn hết lòng bày tỏ sự liên đới và gần gũi thân mật như những người không chỉ muốn chia sẻ niềm vui mà cả đau khổ nữa. Khi chúng tôi xem xét một vài khó khăn đặc biệt, chúng tôi sẽ đứng trên quan điểm của những người ý thức rằng lịch sử Giáo hội do Thiên Chúa hướng dẫn và mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến Người (x. Rm 8,28). Với cái nhìn đức tin ấy thì ngay cả điều tiêu cực cũng có thể là cơ hội cho một khởi đầu mới, nếu người ta nhận ra khuôn mặt Đức Ki-tô chịu đóng đinh và bị bỏ rơi, Đấng đã nhận lấy những giới hạn của chúng ta đến mức “mang lấy tội lỗi chúng ta vào thân thể mà đưa lên cây thập giá” (1 Pr 2,24).41 Thật vậy, ân sủng của Thiên Chúa được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối (x. 2 Cr 12,9).
Khám phá lại Ý nghĩa và Phẩm tính của Đời sống thánh hiến
12. Các khó khăn mà những người thánh hiến hôm nay phải đối diện có nhiều dạng, nhất là khi chúng ta lưu ý đến những bối cảnh văn hoá khác nhau mà họ đang sống.
Số tu sĩ suy giảm và lớn tuổi trong các Hội dòng, thật hiển nhiên trong vài nơi trên thế giới, đặt ra câu hỏi liệu đời sống thánh hiến còn là chứng tá khả thị có khả năng thu hút người trẻ nữa không. Nếu thiên niên kỷ thứ ba là thời đại đề cao vai trò giáo dân, các hiệp hội và các phong trào giáo hội như được khẳng định đây đó, thì chúng ta có thể thẳng thắn nêu câu hỏi: đâu là chỗ đứng dành cho các hình thức cổ truyền của đời sống thánh hiến? Đức Gio-an Phao-lô II nhắc nhở chúng ta: đời sống thánh hiến vẫn còn có một lịch sử cần được viết ra cùng với mọi tín hữu. 42
Tuy nhiên, chúng ta không thể làm ngơ trước sự kiện đời sống thánh hiến đôi khi đã không được trân trọng đúng mức. Có lúc người ta thiếu cả sự tin tưởng vào đời sống thánh hiến. Đối diện với những khủng hoảng tôn giáo hiện nay ảnh hưởng trên một phần lớn trong xã hội, những người thánh hiến, nhất là hôm nay, buộc phải tìm kiếm những hình thức hiện diện mới và đặt ra cho mình không ít những vấn nạn liên quan đến ý nghĩa căn tính của mình và tương lai.
Bên cạnh sự sự nhiệt tình xả thân nhằm làm chứng và tự hiến đến mức tử đạo, những người thánh hiến cũng cảm nghiệm những đe doạ của sự tầâm thường trong đời sống thiêng liêng, của việc trưởng giả hoá lần lần và não trạng tiêu thụ. Việc điều hành phức tạp các công việc mà những yêu cầu của xã hội và luật lệ mới của Nhà nước quy định, cùng với các cám dỗ tìm kiếm hiệu năng và duy hoạt động, có nguy cơ làm lu mờ tính độc đáo của Tin mừng và làm suy yếu các động cơ thiêng liêng. Tình trạng các dự phóng riêng tư chiếm ưu thế hơn các dự phóng cộng đoàn có thể xói mòn sự hiệp thông tình yêu giữa anh em, chị em.
Đó là những vấn đề thực tế, nhưng không nên tổng quát hoá. Những người thánh hiến không đơn độc trong nỗ lực sống mối căng thẳng giữa tục hoá và đời sống đức tin đích thực, giữa sự mỏng dòn của chính bản tính nhân loại và sức mạnh của ân sủng; đó là kinh nghiệm của mọi tín hữu trong Giáo hội.
13. Những khó khăn và vấn nạn mà đời sống tu trì trải qua hôm nay có thể làm nẩy sinh một kairos mới, một thời gian ân sủng. Đằng sau các thách đố ấy, ẩn dấu một tiếng gọi đích thật của Chúa Thánh Thần mời gọi khám phá lại sự phong phú và các tiềm năng của lối sống này.
Việc phải sống trong một xã hội thường bị nền văn hoá sự chết thống trị có thể trở thành một thách thức là phải trở nên những chứng nhân, những sứ giả và những người phục vụ sự sống kiên cường hơn.
Các lời khuyên phúc âm như khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục mà đức Ki-tô sống trong nhân tính trọn vẹn của người với tư cách là Con Thiên Chúa và được ôm ấp vì yêu mến Thiên Chúa, tỏ lộ như một con đường thực hiện nhân vị cách viên mãn ngược lại sự phi nhân hoá. Chúng là những thần dược chữa trị sự sa đoạ của tinh thần, đời sống và văn hoá, chúng công bố sự tự do của con cái Thiên Chúa và niềm vui sống theo các mối phúc lộc tin mừng.
Cảm tưởng mà một số người có về sự sút giảm lòng kính trọng đối với đời sống thánh hiến nơi một vài lãnh vực trong Giáo hội, có thể được xem như một lời mời gọi cần thanh luyện để tự do. Đời sống thánh hiến không nhằm tìm kiếm sự tôn vinh và tán thưởng của con người, nhưng được đền đáp bằng niềm vui khi được tiếp tục làm việc không mệt mỏi vì Nước Thiên Chúa, được trở nên hạt giống của sự sống đang âm thầâm lớn lên, không chờ đợi bất cứ phần thưởng nào khác ngoài phần thưởng Thiên Chúa sẽ ban tặng trong ngày sau hết (x. Mt 6,6). Đời sống thánh hiến tìm thấy căn tính của mình trong lời kêu gọi của Thiên Chúa, trong việc đi theo Người, trong tình yêu và phục vụ vô điều kiện, khả dĩ làm cho cuộc sống đầy tràn và có ý nghĩa trọn vẹn.
Nếu những người thánh hiến trở thành một đoàn chiên bé nhỏ ở một vài nơi vì nhân sự giảm sút, thì có thể xem đó như dấu chỉ Thiên Chúa mời gọi trở về với những nhiệm vụ chính yếu là làm men, dấu chỉ và ngôn sứ. Khối bột cần làm dậy men càng lớn, thì men Tin mừng càng phải có phẩm chất, đồng thời chứng tá đời sống và đoàn sủng phục vụ của những người thánh hiến càng phải sắc bén.
Sự kiện các ki-tô hữu ngày càng nhận thức tính phổ quát của ơn gọi nên thánh 43 thay vì làm cho việc tháp nhập một bậc sống đặc biệt thích đáng để thể hiện sự trọn hảo Tin mừng trở nên thừa thãi, lại có thể trở nên một động lực nữa để vui mừng cho những người thánh hiến. Bây giờ, họ gần gũi các thành phần của Dân Thiên Chúa hơn để cùng chia sẻ với họ con đường đi theo Đức Ki-tô, trong một sự hiệp thông đích thật hơn, trong sư tôn trọng lẫn nhau mà không cảm thấy tự tôn hay thấp kém hơn. Ý thức đó đồng thời thách thức họ nắm bắt giá trị dấu chỉ của đời thánh sống hiến trong mối tương quan với sự thánh thiện của mọi thành phần trong Hội thánh.
Thật thế, nếu mọi ki-tô hữu thật sự được kêu gọi “trở nên thánh và hoàn thiện trong bậc sống riêng của mình”44, thì những người thánh hiến, nhờ “sự thánh hiến mới và đặc biệt”45, có sứ mạng làm cho lối sống của Chúa Ki-tô toả rạng qua chứng tá của các lời khuyên phúc âm, nhờ đó họ nâng đỡ lòng trung thành của toàn thân thể Chúa Ki-tô. Đó không là một khó khăn, đúng hơn là một thách đố cho tính độc đáo và cho sự đóng góp đặc thù của các đoàn sủng đời thánh hiến, đồng thời cũng là đoàn sủng của linh đạo chia sẻ và của sứ vụ cổ võ sự thánh thiện của Giáo hội.
Những thách đố đó rõ ràng có thể tạo nên một lời mời gọi mạnh mẽ đào sâu chính đời sống thánh hiến mà chứng tá hôm nay cần thiết hơn bao giờ hết. Thật thích hợp để nhớ lại khả năng đáp ứng các thách đố và các khó khăn thời đại của các vị thánh lập dòng bằng một sự sáng tạo có tính đoàn sủng đích thật.
Nhiệm vụ của bề trên
14. Để khám phá lại ý nghĩa và phẩm chất của đời sống thánh hiến, các bề trên là những người được uỷ thác việc thi hành quyền bính có trách nhiệm chủ yếu, một trách nhiệm nặng nề và khó khăn. Trách nhiệm đó đòi hỏi họ thường xuyên hiện diện để có thể linh hoạt và đề nghị, nhắc nhở lý do hiện hữu của đời sống thánh hiến và hỗ trợ những người được uỷ thác cho họ sống trong sự trung thành không ngừng được đổi mới theo lời mời gọi của Thánh Khí. Một bề trên không thể từ chối sứ vụ linh hoạt, nâng đỡ anh chị em, đề xuất, lắng nghe và đối thoại. Chỉ bằng cách đó mà toàn thể cộng đoàn nhận thấy mình hiệp nhất trong sự hiệp thông trọn vẹn và trong công việc phục vụ tông đồ cũng như thừa tác vụ. Các chỉ dẫn trong huấn thị Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn vẫn còn là một đề tài hợp thời, khi đề cập đến các khía cạnh của quyền bính cần phải lượng giá hôm nay, huấn thị gợi lại nhiệm vụ của quyền bính trên bình diện thiêng liêng, quyền bính dẫn đến hiệp nhất và một quyền bính có khả năng lấy những quyết định chung cuộc đồng thời bảo đảm việc thi hành các quyết định ấy. 46
Mọi thành phần của cộng đoàn cần phải tham gia tích cực và tin tưởng vào đời sống và sứ vụ của cộng đoàn. Cho dù theo luật riêng, chính quyền bính có trách nhiệm chọn lựa và quyết định chung cuộc, thì đời sống hằng ngày trong cộng đoàn đòi hỏi một sự tham gia cho phép đối thoại và biện phân. Bấy giờ, mỗi cá nhân và toàn thể cộng đoàn có thể vạch ra một chương trình sống phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa, cùng nhau thực hiện thánh ý Người. 47 Đồng trách nhiệm và tham gia cũng được thực hiện ngay trong các tu nghị ở mọi cấp khác nhau, nhằm bảo đảm sự hiện diện thường hằng của Chúa là Đấng soi sáng và hướng dẫn. Đức thánh cha không ngần ngại nhắc lại sự khôn ngoan cổ xưa của truyền thống đan tu là thi hành linh đạo hiệp thông cách cụ thể và đúng đắn hầu cổ võ và đảm bảo một sự tham gia tích cực của tất cả.48
Một chương trình thường huấn nghiêm túc, xây dựng trên việc duyệt xét lại toàn bộ vấn đề huấn luyện của các Tu hội Đời sống Thánh hiến và Hiệp hội Tông đồ, sẽ soi sáng một con đường đổi mới đích thật: thực thế, sự canh tân “tiên vàn tùy thuộc việc huấn luyện các thành viên”.49
Thường huấn
15. Thời đại chúng ta đang sống đòi chúng ta xem xét lại toàn bộ việc huấn luyện những người thánh hiến, việc huấn luyện không còn giới hạn trong một quãng thời gian nào nữa. Không chỉ để giúp họ tháp nhập tốt hơn vào thực tại biến chuyển với một nhịp độ thường điên cuồng, nhưng điều quan trọng hơn là vì chính đời sống thánh hiến, tự bản chất, đòi buộc một sự sẵn sàng luôn luôn nơi những ai được mời gọi sống đời thánh hiến. Thực thế, nếu đời sống thánh hiến là “không ngừng đảm nhận thái độ của Đức Ki-tô”,50 thì hiểân nhiên con đường đó phải tồn tại suốt đời và bao trùm toàn thể con người, tâm hồn, trí khôn và sức lực (x. Mt 22,37), biến đổi bản thân nên giống Người Con là Đấng đã tận hiến cho Chúa Cha vì phần rỗi nhân loại. Hiểu như thế, việc huấn luyện không chỉ là thời kỳ đào tạo chuẩn bị cho việc tuyên khấn, nhưng còn tiêu biểu cho một lối suy tư thần học về đời sống thánh hiến, tự bản chất là một sự huấn luyện không bao giờ kết thúc nhằm “tham gia vào hành động của Chúa Cha, Đấng, nhờ Thánh Khí, phát huy trong lòng con người… những tâm tình Người Con” 51
Vì vậy, những người thánh hiến được huấn luyện để tự mình học tập suốt cuộc đời, ở mọi lứa tuổi và mọi giai đoạn, trong mọi môi trường và bối cảnh nhân loại, từ mọi người và mọi nền văn hoá, để có thể học hỏi bất cứ sự thật và vẻ đẹp nào chung quanh họ. Nhưng trên hết mọi sự, họ phải học biết tự huấn luyện qua cuộc sống mỗi ngày, qua cộng đoàn, nhờ anh chị em, nhờ các chuyện thường nhật, bình thường và bất thường, nhờ việc cầu nguyện và hoạt đôỉng tông đồ cực nhọc, trong niềm vui và đau khổ cho tới giây phút cuối đời. Cởi mở với người khác và với sự khác biệt, nhất là quan hệ với thời đại trở nên rất quan trọng. Những người thường huấn tìm cái lợi của thời đại chứ không chịu khuất phục. Họ đón nhận thời đại như một ân huệ và khôn khéo đi vào các nhịp điệu khác nhau của chính cuộc sống (ngày, tuần, tháng, năm) với sự sáng suốt, tìm kiếm sự hài hoà giữa các nhịp sống ấy và nhịp sống được ấn định bởi Thiên Chúa bất biến và trường tồn, là Đấng dánh dấu các ngày, các thế kỷ và các thời đại. Một cách độc đáo, những người thánh hiến học biết khuôn đúc bản thân nhờ năm phụng vụ, trong đó các mầu nhiệm trong cuộc đời của Con Thiên Chúa được tưởng niệm, để nhờ cuộc tử nạn và Phục sinh của Đức Ki-tô, họ bắt đầu lại mỗi ngày.
Cổ võ ơn gọi
16. Một trong những hoa trái đầu tiên của con đường thường huấn là khả năng sống ơn gọi mỗi ngày như một ân huệ, luôn luôn mới mẻ và được đón nhận với lòng biết ơn: ân huệ ấy đòi hỏi một thái độ có trách nhiệm hơn, được minh chứng bằng sức thuyết phục và thu hút thường xuyên để người khác có thể cảm nhận mình được kêu gọi đến với Thiên Chúa qua ơn gọi đặc thù hay qua các con đường khác. Người thánh hiến tự bản chất cũng là một linh hoạt viên ơn gọi: ai được kêu gọi thì không thể không trở nên người kêu gọi. Do đó, giữa thường huấn và linh hoạt ơn gọi có mối liên kết tự nhiên. Phục vụ các ơn gọi là một trong những thách đốù gay gắt nhất mà đời sống thánh hiến hôm nay phải đương đầu. Một đàng, việc toàn cầu hoá văn hoá và tính phức tạp trong tương quan xã hội làm cho sự chọn lựa triệt để và vĩnh viễn trở nên khó khăn; đàng khác, thế giới đang trải qua một kinh nghiệm về những đau khổ tinh thần và vật chất đang xói mòn chính nhân phẩm của con người và đang âm thầm kêu xin những con người loan báo cách mạnh mẽ một sứ điệp hoà bình và hy vọng, những con người mang đến ơn cứu dộ của Đức Ki-tô. Chúng ta hãy nhớ lại lời của Chúa Giê-su: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Anh em hãy cầu xin chủ mùa gặt sai thợ đến gặt lúa của Người” (Lc 10,2; Mt 9,37-38).
Công việc đầu tiên của bất cứ chương trình mục vụ ơn gọi nào cũng luôn luôn là cầu nguyện. Cách riêng trong những nơi có ít người chọn lựa đời sống thánh hiến, cần có một đức tin được đổi mới vào Thiên Chúa, Đấng có thể biến những hòn đá trở nên con cái Áp-ra-ham (x. Mt 3,9) và làm cho lòng dạ son sẻ sản sinh hoa trái, nếu kêu xin với lòng tin tưởng. Mọi tín hữu, nhất là người trẻ, sẽ bị thu hút bởi sự bày tỏ đức tin như thế vào Thiên Chúa, chỉ mình Người có thể kêu gọi và sai thợ gặt đến. Toàn thể Giáo hội địa phương - giám mục, linh mục, giáo dân, người thánh hiến - đều được mời gọi đảm nhận trách nhiệm cổ võ ơn gọi cho sự thánh hiến đặc biệt này.
Con đường vương giả nhằm cổ võ ơn gọi sống đời thánh hiến là con đường đã được Chúa khởi sự khi Người nói với hai tông đồ Gio-an và An-rê: “Hãy đến mà xem” (Ga 1,39). Cuộc gặp gỡ đó kèm theo việc chia sẻ đời sống đòi buộc những người thánh hiến sống cách sâu xa sự thánh hiến của họ để có thể trở nên dấu chỉ khả thị của niềm vui mà Thiên Chúa ban cho những ai lắng nghe tiếng gọi của Người. Vì lý do đó, các cộng đoàn cần tiếp đón và chia sẻ lý tưởng đời sống với những người trẻ, để cho họ bị thách thức bởi những đòi hỏi của sự chân thực và tự nguyện chấp nhận.
Giáo hội địa phương là nơi ưu tiên để công bố lời mời gọi ấy. Nơi đây, các tác vụ và đoàn sủng biểu lộ sự bổ túc cho nhau52 và cùng nhau thực hiện sự hiệp thông trong cùng một Thánh Khí của Chúa Ki-tô, bằêng nhiều cách thức thể hiện khác nhau. Sự hiện diện tích cực của những người thánh hiến sẽ giúp các cộng đoàn ki-tô hữu trở nên những phòng thí nghiệm của đức tin, nơi tìm kiếm, suy tư và gặp gỡ, hiệp thông và hoạt động tông đồ, trong đó mỗi người cảm thấy mình tham gia vào việc xây dựng Nước Thiên Chúa. Bằng cách đó, sẽ làm phát sinh bầu khí đặc trưng của Giáo hội như là một gia đình, một môi trường thuận tiện cho sự hiểu biết hỗ tương, chia sẻ và thấm nhiễm các giá trị vốn là cội rễ của các chọn lựa dâng hiến trọn đời vì sự nghiệp Nước Thiên Chúa.
17. Chăm sóc các ơn gọi là một nhiệm vụ mấu chốt cho tương lai của đời sống thánh hiến. Sự giảm sút ơn gọi ở Tây phương và sự gia tăng ở Á Châu và Phi Châu đang vẽ nên một địa dư mới về sự hiện diện của đời sống thánh hiến trong Giáo hội và tạo nên sự cân bằng mới về văn hoá trong đời sống các tu hội. Bậc sống này, mà qua việc tuyên khấn các lời khuyên phúc âm, đang làm cho những nét đặc trưng của Đức Giê-su trở nên hữu hình giữa lòng thế giới như một mẫu gương thường hằng,54 ngày hôm nay đang trải qua một giai đoạn dặc biệt là suy tư và nghiên cứu với những phương pháp mới trong các nền văn hoá mới. Đó chắc chắn là một khởi đầu đầy hứa hẹn để triển khai cách diễn đạt các hình thái đoàn sủng đa dạng một cách mới mẻ.
Những biến đổi đang xuất hiện trực tiếp ảnh hưởng đến mỗi Tu hội Đời sống Thánh hiến và Hiệp hội Tông đồ, mời gọi họ làm cho sự hiện diện của họ trong Giáo hội và việc phục vụ nhân loại mang một ý nghĩa thấm nhuần Tin mừng. Mục vụ ơn gọi đòi hỏi phát huy các phương thức gặp gỡ mới mẻ và sâu sát; trao ban một chứng tá sống động về các nét đặc trưng của việc đi theo Đức Giê-su và của sự thánh thiện; loan báo một cách mạnh mẽ và rõ ràng sự tự do phát sinh từ một cuộc sống khó nghèo mà kho tàng duy nhất là Nước Thiên Chúa, tình yêu thẳm sâu của một cuộc sống khiết tịnh chỉ ước muốn một con tim duy nhất: con tim của Đức Ki-tô, và sức mạnh thánh hoá và canh tân chứa đựng trong một cuộc sống vâng phục, mà mục tiêu duy nhất là thi hành thánh ý Thiên Chúa vì phần rỗi thế giới.
Ngày hôm nay, cổ võ ơn gọi là một nhiệm vụ không thể chỉ uỷ thác cho một vài chuyên viên, cũng không thể tách rời khỏi mục vụ giới trẻ đích thực có mục dích đầu tiên và nhất là chuyển thông tình yêu Đức Ki-tô cho họ. Mỗi cộng đoàn và mọi thành viên các Tu hội được mời gọi đảm nhận nhiệm vụ tiếp xúc với người trẻ, giảng dạy về việc đi theo Đức Ki-tô và chuyển giao đoàn sủng. Người trẻ đang chờ đợi ta đề nghị cho họ những lối sống Tin mừng đích thật và những phương thức đạt tới các giá trị thiêng liêng cao cả của đời sống nhân bản và ki-tô giáo. Những người thánh hiến phải khám phá lại nghệ thuật giáo dục để khơi dậy và giải quyết các vấn nạn nan giải thường ẩn dấu trong lòng mỗi người, đặc biệt đối với người trẻ. Khi những người thánh hiến đồng hành với người khác trên con đường biện phân ơn gọi, họ buộc phải chia sẻ nguồn cội căn tính của họ. Truyền đạt kinh nghiệm sống luôn luôn đòi hỏi phải hồi tưởng và tìm lại nguồn sáng đã hướng dẫân người đó đến việc chọn lựa ơn gọi riêng.
Tiến trình huấn luyện
18. Liên hệ đến việc huấn luyện, Thánh bộ đã xuất bản hai tài liệu sau: Potissimum Institutioni và Cộng tác Huấn luyện giữa các Tu hội. Tuy nhiên, chúng tôi rất ý thức đến những thách đố liên tục mà các Tu hội phải dương đầu trong lãnh vực này.
Các ơn gọi mới đến gõ cửa đời sống thánh hiến thì rất đa dạng nên đòi hỏi phải có một sự quan tâm riêng và các cách thức khả dĩ đáp ứng hoàn cảnh cụ thể về nhân bản, thiêng liêng và văn hoá. Vì thế, cần có một sự biện phân thanh thản, không ràng buộc bởi các cám dỗ về số lượng hay hiệu năng, để xác minh tính xác thực của ơn gọi và sự trong sáng của động cơ dưới ánh sáng của đức tin và những mâu thuẫn có thể xảy ra.
Người trẻ cần được thách đố để đi theo những lý tưởng cao cả của việc triệt để đi theo Đức Ki-tô và những đòi hỏi sâu xa của sự thánh thiện, khi biện phân một ơn gọi vượt quá con người họ hay vượt quá các ý tưởng ban đầu đã lôi cuốn họ gia nhập một Tu hội nào đó. Bởi đó, việc huấn luyện phải có những đặc tính của việc dẫn nhập vào việc đi theo Đức Ki-tô cách triệt để. “Vì mục đích của dời sống thánh hiến chính là đồng hình đồng dạng với Chúa Giê-su”, nên cần phải khởi đầu bằng “con đường đồng hoá dần dà với các thái độ của Đức Ki-tô đối với Cha Người. 55 Điều đó sẽ giúp hội nhập các kiến thức thần học, nhân văn và kỹ thuật vào đời sống thiêng liêng và tông đồ của Tu hội, và sẽ luôn luôn duy trì tính chất của một “trường học dạy sự thánh thiện”.
Thách đố gay gắt nhất mà việc huấn luyện phải đương đầu nảy sinh từ các giá trị của nền văn hoá toàn cầu hoá hôm nay. Việc loan báo của Ki-tô giáo về sự sống như là ơn gọi, nghĩa là bắt nguồn từ kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa và đòi hỏi một sự gặp gỡ thiết thân và mang tính cứu độ với Đức Ki-tô trong Giáo hội, phải chạm trán với những quan niệm và những dự phóng có ảnh hưởng lớn của các nền văn hoá và lịch sử xã hội vốn hết sức đa dạng. Có nguy cơ là các chọn lựa chủ quan, các dự phóng cá nhân và các tập tục địa phương sẽ chiếm ưu thế hơn luật lệ, nếp sống cộng đoàn và dự phóng tông đồ của cộng đoàn. Điều đó cần đến một sự đối thoại mang tính huấn luyện có khả năng đón nhận các đặc điểm nhân bản, xã hội và thiêng liêng của mỗi người, bằng cách khám phá trong đó những giới hạn của con người cần phải khắc phục, và những thúc đẩy của Thánh Khí có thể đổi mới đời sống của cá nhân cũng như các Tu hội. Trong một thời kỳ biến chuyển sâu xa, việc huấn luyện cần chú ý gieo trồng trong tâm khảm những người thánh hiến trẻ các giá trị nhân bản, thiêng liêng và đoàn sủng cần thiết khả dĩ làm cho họ thể hiện một sự “trung tín sáng tạo” trong đường hướng của truyền thống thiêng liêng và tông đồ của Tu hội. 56
Các Tu hội thánh hiến càng ngày càng có đặc tính khác biệt về văn hoá, tuổi tác và dự phóng. Việc huấn luyện phải chuẩn bị cho biết đối thoại trong cộng đoàn, với lòng chân thành và bác ái của Đức Ki-tô, bằng cách dạy cho biết nhìn xem sự khác biệt như là một sự phong phú và làm quen với các cách nhìn và cảm nghĩ khác nhau. Nỗ lực liên lỉ tìm kiếm sự hiệp nhất trong đức ái như thế sẽ trở thành trường dạy hiệp thông cho các cộng đoàn ki-tô hữu và là một đề nghị cho sự chung sống huynh đệ giữa các dân tộc.
Tiếp theo đó cần phải đặc biệt chú ý làm sao cho việc huấn luyện văn hoá đi đôi với thời đại và đối thoại với nỗ lực tìm kiếm ý nghĩa của đời sống con người ngày hôm nay. Vì thế cần chuẩn bị kỹ lưỡng hơn trong lãnh vực triết học, thần học cũng như tâm lý và một định hướng sâu sắc hơn cho đời sống thiêng liêng, những mẫu mực thích ứng hơn với các nền văn hoá là nơi phát sinh các ơn gọi mới và các chương trình thường huấn đã được hoạch định chín chắn. Và điều đáng ước mong nhất là các nguồn năng lực tốt nhất sẽ được đầu tư cho việc huấn luyện, dù phải có những hy sinh lớn lao. Sử dụng những nhân sự có khả năng và chuẩn bị thích đáng cho họ phải là một ràng buộc ưu tiên.
Chúng ta phải rất quảng đại trong việc cống hiến thời giờ và năng lực tốt nhất cho việc huấn luyện. Quả thế, những người thánh hiến chính là tiềm lực tốt nhất mà chúng ta đang có. Không có họ, các kế hoạch huấn luyện và tông đồ vẫn chỉ là lý thuyết và ước mơ vô bổ. Trong thời đại vội vã như chúng ta hiện nay, hơn bao giờ hết cần có sự kiên trì và nhẫn nại chờ đợi để thực hiện mục tiêu của việc huấn luyện. Trong những hoàn cảnh mà sự nhanh chóng và nông cạn chiếm ưu thế, thì chúng ta cần có sự thanh thản và thâm trầm, vì trên thực tế con người được hình thành rất chậm.
Vài thách đố nghiêm trọng
19. Tầm quan trọng của phẩm chất đời sống và những đòi hỏi của việc huấn luyện được nhấn mạnh bởi vì đó là những phạm vi cần được lưu tâm hơn hết. Thánh bộ Đời sống Thánh hiến và Hiệp hội Tông đồ ao ước gần gũi với những thánh hiến trong mọi vấn đề và tiếp tục đối thoại cách chân thành và tích cực hơn nữa. Các thành viên Hội nghị nhận thấy nhu cầu đó và bày tỏ ước muốn hiểu biết và cộng tác nhiều hơn với các Tu hội Đời sống Thánh hiến và Hiệp hội Tông đồ. Sự hiện hiện của họ trong Giáo hội địa phương, nhất là các tu hội thuộc thẩm quyền giáo phận, các trinh nữ thánh hiến và các ẩn sĩ cần được quan tâm đặc biệt, nhất là bởi các giám mục và linh mục đoàn.
Cũng thế, các ngài ý thức đến các vấn đề do các tu sĩ đặt ra liên quan đến các công tác mà cho đến nay họ được phép phục vụ phù hợp với đoàn sủng riêng của họ: bệnh viện, trường học, nhà tiếp đón và nhà tĩnh tâm. Đó là những nhu cầu cấp thiết tại một vài nơi trên thế giới, song ở một vài nơi khác thì việc điều hành trở nên khó khăn. Cần có sự sáng tạo, khôn ngoan và đối thoại giữa các thành viên Tu hội cũng như giữa các Tu hội hoạt đôỉng trong cùng một lãnh vực, đồng thời đối thoại với người hữu trách của Giáo hội địa phương để tìm ra giải pháp đúng dắn.
Các đề tài hội nhập văn hoá cũng rất hợp thời. Chúng liên quan đến cách thức hội nhập đờụi sống thánh hiến, thích nghi các hình thái linh đạo và công việc tông đồ, cách quản trị, việc huấn luyện, việc sử dụng tiềm năng và của cải vật chất và công việc truyền giáo. Lời kêu gọi Đức Giáo hoàng ngỏ với toàn thể Giáo hội cũng có thể áp dụng cho đời sống thánh hiến. “Trong ngàn năm thư ba, Ki-tô giáo sẽ phải đáp ứng một cách hiệu quả hơn nhu cầu hội nhập văn hoá. Trong khi vẫn hoàn toàn trung thực với chính mình, cùng với niềm tin không lay chuyển vào sứ vụ loan báo Tin mừng và truyền thống của Giáo hội, Ki-tô giáo cũng sẽ phản ánh các khía cạnh khác nhau của các nền văn hoá và các dân tộc mà ki-tô giáo được đón nhận và cắm rễ trong đó”. 57 Một tiến trình hội nhập văn hoá đúng đắn trong đời sống thánh hiến và trong toàn thể Giáo hội sẽ tạo nên một sự phong phú đáng kể và một thời kỳ phát triển mới về mặt thiêng liêng và tông đồ.
Chúng ta không sao liệt kê hết các dự tính khác của đời sống thánh hiến lúc khởi đầu ngàn năm thứ ba này, vì Thánh Khí luôn thúc đẩy chúng ta tiến lên phía trước và xa hơn. Đó là lời của Thầy, Đấng kích thích lòng nhiệt tâm của tất cả các môn đệ để hồi tưởng quá khứ với lòng biết ơn, sống giây phút hiện tại trong niềm hăng say và nhìn về tương lai với lòng tin tưởng. 58
Lắng nghe lời mời gọi Đức Gio-an Phao-lô II gởi đến toàn thể Giáo hội, đời sống thánh hiến phải sáng suốt xuất phát lại từ Đức Ki-tô, bằng cách chiêm ngưỡng khuôn mặt Người, dành ưu tiên cho các con đường linh đạo như là sự sống, thực hành việc đào tạo và mục vụ: “Giáo hội cũng chờ đợi các tu sĩ nam nữ thánh hiến góp sức tiến bước trên con đường mới thể theo đường hướng mà tôi vạch ra trong tông huấn Ngàn năm mới: Chiêm ngưỡng khuôn mặt Đức Ki-tô, xuất phát lại từ Người, làm chứng cho Tình yêu của Người”.59 Chỉ như thế, đời sống thánh hiến mới tìm thấy sinh khí mới để hiến mình phục vụ toàn thể Giáo hội và tất cả nhân loại.