Tôi hy vọng anh em không ngã lòng trước những bất công này

VATICAN (Zenit.org).-Bài huấn dụ của Đức Gioan Phaolô II đọc trước các giám mục các giáo tỉnh Calcutta, Guwahati,Impahl và Sillong trong dịp kính viếng mộ hai Thánh Phêrô và Phaolô Tông Ðồ.

***

Anh em Giám mục thân mến,

1. Vì loạt viếng thăm Ad Limina của các Giám Mục Ấn Ðộ theo Nghi lễ Latinh bắt đầu, tôi nồng nhiệt chào đón anh em, những Mục Tử các Giáo tỉnh Calcutta,Guwahati Impahl và Sillong. Cùng nhau chúng ta cảm tạ Chúa vì những ân sủng Thiên Chúa ban cho Giáo hội tại xứ sở anh em, và nhớ lại những lời Chúa chúng ta đã nói với các môn đệ Người lúc Người lên trời: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20). Trong Mùa Phục sinh, anh em đang ở đây tại mồ thánh Phêrô và Phaolô, để bày tỏ lại mối tương quan đặc biệt của anh em với Giáo Hội phổ quát và với vị Đại diện Chúa Kitô. Tôi cám ơn Tổng Giám Mục Sirkar vì những tâm tình nồng ấm và những cầu chúc tốt đẹp Ngài đã truyền đạt nhân danh hàng Giám mục, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân của các Giáo tỉnh đại diện ở đây. Nhờ ân sủng Thiên Chúa tôi đã có thể thăm viếng quê hương anh em trong hai dịp và có kinh nghiệm tường tận về lòng hiếu khách nồng nhiệt của người Ấn, một phần của di sản văn hóa phong phú được biểu thị nơi quốc gia anh em. Từ những ngày đầu Kitô giáo, Ấn Ðộ đã cử hành mầu nhiệm cứu độ được chất chứa trong Thánh Thể liên kết anh em cách mầu nhiệm với những cộng đồng đức tin khác trong “sự độc nhất của thời gian” qua Hy lễ Vượt Qua (Ecclesia de Eucharistia,” 5).Tôi cầu nguyện cho các tín hữu Ấn Ðộ sẽ tiếp tục lớn lên trong sự hiệp nhất vì sự tham gia của họ trong việc cử hành Thánh lễ củng cố họ trong sức mạnh và tính xác quyết.

2. Chúng ta phải luôn luôn nhớ sự kiện này là “Giáo hội rao giảng tin mừng vì vâng lệnh truyền của Chúa Kitô, nhận thức rằng mọi người có quyền nghe Tin Mừng của Chúa, Đấng tự mặc khải và ban tặng mình trong Chúa Kitô” (op, cit,.20). Qua nhiều thế kỷ những người Công giáo tại Ấn Ðộ đã thi hành công việc thiết yếu rao giảng tin mừng, nhất là trong những lãnh vực giáo dục và phục vụ xã hội, tự nguyện cống hiến cho người Kitô hữu cũng như cho người không-Kitô hữu. Trong nhiều phần quốc gia anh em, con đường dẫn tới một sự sống trong Chúa Kitô còn là một con đường đầy gian khổ. Điều gây bối rối nhất là một số người muốn trở thành Kitô hữu, phải bắt buộc xin phép các thẩm quyền địa phương, đang khi một số khác mất quyền hưởng cứu tế xã hội và sự nâng đỡ gia đình. Còn số những người khác bị khai trừ hay trục xuất khỏi làng xã của mình. Vô phúc thay, một số phong trào chính thống đang gây nên cảnh hỗn loạn giữa một số người Công giáo và có khi trực tiếp thách đố bất cứ cố gắng nào đến việc rao giảng tin mừng.

Tôi hy vọng rằng với tư cách là những người hướng dẫn đức tin, anh em không ngã lòng bởi những bất công này, nhưng đúng hơn tiếp tục hướng dẫn xã hội sao cho những chiều hướng gây lo lắng này có thể bị đảo ngược. Cũng phải ghi chú rằng những ngăn trở trong việc cải đạo không phải luôn từ bên ngoài đưa tới, nhưng có thể xảy ra từ bên trong các cộng đồng anh em. Điều này có thể xảy ra khi những kẻ theo các tôn giáo khác thấy sự bất hòa, gương xấu và chia rẽ trong những Cơ chế Công giáo chúng ta. Do đó, điều quan trọng là các linh mục, các tu sĩ và giáo dân phải làm việc chung với nhau và hợp tác cách riêng với Giám Mục của mình, vì Ngài là dấu chỉ và nguồn mạch sự hiệp nhất. Các Giám mục có trách nhiệm nâng đỡ những kẻ dấn thân trong công tác quan trọng rao giảng tin mừng, bằng cách bảo đảm cho họ không bao giờ mất lòng nhiệt thành truyền giáo, vốn là trung tâm của sự sống chúng ta trong Chúa Kitô. Tôi tin chắc rằng vì những thách đố này mà anh em sẽ tiếp tục rao giảng Tin Mừng với lòng can đảm và xác tín lớn hơn. “Điều quan trọng ở đây cũng như trong mọi lãnh vực đời sống Kitô hữu, là sự tin tưởng đến từ đức tin, đến từ sự xác tín không phải chúng ta là những tác nhân chính trong sứ vụ Giáo hội, nhưng chính là Chúa Giêsu Kitô và Thần Khí của Người (“Redemptoris missio, ” 36).

3. Ðiều cơ bản hầu nâng đỡ những cố gắng rao giảng tin mừng, là sự phát triển một Giáo hội địa phương sẳn sàng trở nên truyền giáo (x. “Redemptoris Missio,” 48). Điều này giả thiết phải có một hàng giáo sĩ được đào tạo tốt, có khả năng không những đáp ứng những nhu cầu những người dưới quyền chăm sóc của mình, mà còn sẳn sàng lãnh nhận sứ vụ đến với muôn dân. Như tôi đã nói trong lần viếng thăm thứ nhất tại Ấn Ðộ, “Một ơn gọi vừa là một dấu chỉ tình yêu vừa là một sự mời gọi để yêu thương. Quyết định nói ‘vâng’ theo tiếng gọi của Chúa Kitô mang theo nó một số những hệ quả quan trọng: sự cần thiết từ bỏ những dự định khác, sẳn sàng bỏ lại sau lưng những thân nhân, một sự sẳn sàng ra đi với lòng tín cẩn sâu xa theo con đường dẫn tới sự kết hợp gần gũi hơn với Chúa Kitô” (Homily at Prune, 10 February 1989, 3 ). Việc cam kết theo Chúa Kitô với tư cách một linh mục, đòi hỏi sự đào tạo có thể tốt nhất. “Muốn phục vụ Giáo hội như Chúa Kitô dự định, các Giám mục và linh mục cần đến sự huấn luyên vững chắc và liên tục, sự huấn luyện này sẽ cung cấp cho những thuận lợi để đổi mới về mặt nhân bản, thiêng liêng và mục vụ cũng như những khóa về thần học, linh đạo và những khoa học nhân bản” (“Ecclesia inAsia,” 43). Các ứng viên linh mục phải hiểu đầy đủ hết sức Mầu nhiệm họ sẽ cử hành và Tin Mừng họ sẽ rao giảng. Đáng ca ngợi những sáng kiến anh em đã thực thi để bảo đảm cho các học viện để đào tạo linh mục của anh em, đạt được những tiêu chuẩn cao về giáo dục và đào tạo cần thiết cho hàng giáo sĩ ngày nay, và tôi khuyến khích anh em tiếp tục cố gắng này, bằng cách bảo đảm cho những người được kêu gọi chuẩn bị đầy đủ để hành động “nhân danh và bản thân Đấng là Đầu và Mục tử của Giáo Hội” (“Pasrores Dabo Vobis,” 35).

4. Nhờ Mình và Máu Chúa Kitô Giáo Hội được ban cho sức mạnh cần thiết để phổ biến Tin Mừng. “Như vậy Thánh Thể xuất hiện như là nguồn mạch và tột đỉnh của việc rao giảng tin mừng, bởi vì mục đích việc này là sự hiệp thông nhân loại với Chúa Kitô và trong Người được hiệp thông với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần” (“Ecclesia de Eucharistia,” 22). Với tư cách Giám mục, anh em hiểu rất rõ trong mọi Giáo phận, có trách nhiệm ưu tiên rao giảng tin mừng và liên tục đào tạo hàng giáo dân. Tại Ấn Ðộ, cũng như tại nhiều xứ khác, phần nhiều công việc này do các giáo lý viên thực hiện. Những người làm việc này trong vườn nho của Chúa còn hơn là những thầy dạy. Không những họ giáo dục dân chúng trong những giáo lý đức tin, nhưng họ cũng thực hành rất nhiều nhiệm vụ khác không thể thiếu cho sứ vụ của Giáo hội. Những nhiệm vụ này gồm có: làm việc với dân chúng qua những nhóm nhỏ; giúp những buổi cầu nguyện và âm nhạc; chuẩn bị người tín hữu lãnh nhận các bí tích, đặc biệt nhất là bí tích hôn nhân; đào tạo các giáo lý viên khác; chôn kẻ chết và trong nhiều trường hợp giúp linh mục quản trị giáo xứ hay các vùng hẻo lánh. Để được hiệu nghiệm trong việc tông đồ này, các giáo lý viên không những đòi hỏi được chuẩn bị đầy đủ mà còn được biết các giám mục và linh mục của mình sẳn sàng cung cấp cho mình sự nâng đỡ thiêng liêng và luân lý để truyền thông lời Chúa cách hiệu nghiệm (x. CatechesiTradendae,” 24, 63,64).

5. Tất cả mọi người tín hữu Kitô được kêu gọi “dấn thân thay đổi cuộc đời mình và có thể nói được là biến chúng hoàn toàn thành Tiệc Thánh. Điều này kéo theo một tình yêu đối với người nghèo và một sự ước muốn làm giảm đi sự đau khổ của họ. Bởi vì điều bất xứng đối với một cộng đồng kitô hữu là chia sẻ bửa Tiệc của Chúa giữa sự chia rẽ và thờ ơ với người nghèo” (“Ecclesia de Eucharistia,” 20). Ấn Ðộ được phúc vì có một sự nhắc nhớ trực tiếp về ơn gọi của Giáo hội phải thương những người yếu kém nhất theo chứng từ và gương của Mẹ Teresa Calcutta, sẽ được phong chân phước. Đời sống của Mẹ đầy hy sinh trong niềm vui và tình yêu vô điều kiện đối với người nghèo, làm khơi dậy trong chúng ta một ước muốn hành động giống như thế. Bởi vì yêu kẻ bé nhất giữa chúng ta mà không mong chờ được đền bù, đó thật sự là yêu Chúa Kitô. “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn, Ta khát các ngươi đã cho uống” (Mt 25: 35). Anh em Giám mục yêu quí, như Mẹ Têrêsa, anh em cũng được kêu gọi nên những gương nổi bật về đức đơn sơ, khiêm tốn và bác ái đối với những người được giao phó cho anh em chăm sóc. Tôi phấn khởi bởi những phương cách anh em đã chứng tỏ tình yêu đối với kẻ nghèo. Các Giáo phận anh em hãnh diện có được nhiều chương trình được đề xướng ra giúp đỡ họ: đề cử ra một ít như cung cấp nhà cho những kẻ vô gia cư, trại phung cùi, những cô nhi việnhững nhà trọ, những trung tâm gia đình và những trung tâm đào tạo ơn gọi. Vì Giáo hội tại Ấn Ðộ tiếp tục giáp mặt với những thách đố này, mặc dầu thiếu thốn trầm trọng về nhân sự và tài nguyên, Tôi cầu xi cho anh em theo gương Mẹ Têrêsa như một kiểu mẫu cho những ông việc bác ái trong các cộng đồng anh em.

6. Thế giới ngày nay rất đam mê của cải vật chất thậm chí đến những kẻ giàu có mà cũng dại dột lao vào tìm cách cho có thêm, trong một mưu toan vô ích lấp đầy tình trạng trống rỗng trong cuộc sống của mình. Đó là một khuynh hướng đáng báo động giữa giới trẻ chúng ta, nhiều người trong số họ sống trong cảnh nghèo khó mặt tinh thần, đang kiếm tìm những câu trả lời qua những đường lối mà chỉ sinh thêm nhiều vấn nạn hơn nữa. Dầu sao đối với người Kitô hữu phải khác biệt. Mắt chúng ta được Chúa Giêsu mở ra, và chúng ta có khả năng nhận ra sự điên rồ của những cơn cám dỗ đó. Tất cả người Kitô hữu, và nhất là các Giám Mục, Linh Mục va Tu sĩ được kêu gọi đứng riêng ra, bằng cách sống những cuộc sống đơn giản nhưng tràn trề đức khó nghèo tin mừng, hầu minh chứng rằng Thiên Chúa là của cải chân thật của lòng người.

Trong một thế giới mà trong đó rất nhiều người có rất nhiều câu hỏi, chỉ qua Chúa Kitô người ta có thể hy vọng gặp được những câu trả lời chắc chắn. Tuy nhiên, sự mạch lạc cho câu trả lời bị xáo trộn bởi một nền văn hóa đương thời, vốn phản chiếu lên không những một sự khủng hoảng lương tâm và cảm giác về Thiên Chúa, mà còn phản chiếu lên một “sự suy yếu đến cảm giác tội lỗi đang tăng dần” (x. Reconciliatio et Paenitentia,” 18). Thật vậy, chỉ một sự tham gia tích cực và dấn thân trong mầu nhiệm hòa giải mới có thể mang lại bình an và đưa ra một câu trả lời đích thực cho những gánh nặng đè nặng trên tâm hồn. Tôi vui mừng khi nghe trong nhiều Giáo phận anh em các tín hữu thường nhận ân sủng bí tích Hòa giải, và tôi khuyên anh em tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng bí tích này.

7. Anh em Giám mục thân mến, khi anh em trở về các Giáo phận của anh em, tôi hy vọng rằng anh em sẽ mang theo mình môt cảm giác mới về những trách nhiệm mục vụ của anh em. Tôi cầu xin cho anh em được tràn đầy một niềm sốt sắng như các môn đệ đầu tiên mà Chúa Kitô lúc lên trời đã để lại những mệnh lệnh: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28:19-20). Trong sự cầu bàu của Đức Maria, người nữ của Bí Tích Thánh Thể, tôi phó thác những đau khổ và những vui mừng của các Giáo hội địa phương anh em và toàn thể cộng đồng Công giáo trong xứ sở anh em. Tôi chân thành ban Phép lành Tòa Thánh cho tất cả anh em và cho hàng giáo sĩ, cho các Tu sĩ và giáo dân của các Giáo phận anh em.