Ngày 25 tháng 5 vừa qua, dưới sự bảo trợ của Hội Giáo Luật Hoa Kỳ và Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, một cuộc hội thảo kéo dài một ngày đã được tổ chức để giới truyền thông có dịp học hỏi những nét căn bản về giáo luật, và mối tương quan cũng như dị biệt của nó với dân luật. Vì mặc dù giáo luật là bộ luật “lâu đời nhất trên thế giới, mà lại liên tục thi hành chức năng của mình hơn hết”, nhưng nhiều người không hiểu rõ nó, bởi nó quá khác biệt với hệ thống dân luật.
Đó là nhận định của Cha Kevin McKenna, một linh mục thuộc tổng giáo phận New York và là diễn giả đầu tiên của cuộc hội thảo, với đề tài “Giáo luật và dân luật: cùng làm việc cho ích chung”. Theo cha McKenna, bộ giáo luật hiện nay có gốc rễ từ thời các Tông Đồ, khi các ngài bắt đầu ‘san định’ các luật lệ tại Công Đồng Giêrusalem vào thế kỷ thứ nhất, như mô tả của Sách Tông Đồ Công Vụ. Qua nhiều thế kỷ sau, các qui định của các vị giáo hoàng và các công đồng đã được thêm vào, tạo nên điều cha McKenna gọi là một “tình trạng hết sức cồng kềnh và lôi thôi” mà mãi tới thế kỷ 20 mới được lập bộ (codified) lần đầu tiên.
Vị luật gia giáo luật này cho rằng bộ giáo luật chịu ảnh hưởng nặng nề của luật Rôma và cho biết nó đã được lập bộ như thế nào dưới thời Đức GH Piô X: “theo mẫu bộ luật Nã Phá Luân của Pháp, là bộ luật hết sức phổ thông tại Âu Châu vào đầu thế kỷ 20”.
Chính Đức Gioan XXIII đã yêu cầu phải cập nhật hóa bộ luật năm 1917. Nhờ thế, một bộ luật mới đã được ban hành vào năm 1983, tức bộ giáo luật hiện hành.
Khác nhau
Cha McKenna, sau đó, đã đề cập tới một số tương đồng và dị biệt giữa giáo luật và dân luật, nhất là tại Hoa Kỳ. Dị biệt đầu tiên là hệ thống cai trị dân sự gồm có ba ngành trong khi giáo luật thu gồm “cả ba chức năng ấy vào một đấng bề trên giáo quyền”. Ngài cũng cho rằng việc “kiểm soát và cân bằng từng được đan kết vào hệ thống tam quyền của các chính phủ dân sự được thấy rõ nhất qua hệ thống cứu viện (recourse system) trong cơ cấu Giáo Hội, qua đó, một số quyết định của cấp địa phương, thường là của các giáo phận, có thể được đệ trình cho cấp ‘cao hơn’, thường là một Thánh Bộ hay một văn phòng, tại Rôma. Một thủ tục khá đặc thù và mất thì giờ.
Cha McKenna cũng cho biết một số dị biệt khác:dân luật để các thẩm phán ấn định ra luật lệ theo nghĩa các phán quyết của họ trở thành tiền lệ cho các vụ án về sau. Điều này “không có trong hệ thống giáo luật”. Một dị biệt khác: là vai trò của hiến pháp (hay một văn kiện tương tự), nó được coi là nền tảng hay nguồn gốc của mọi luật lệ trong hệ thống dân sự. Về điểm này, Cha McKenna cho biết như sau: nhân dịp duyệt lại bộ giáo luật hiện nay, có người đã đề nghị soạn ra một thứ hiến pháp cho Giáo Hội, nhưng gợi ý này đã bị Đức Gioan Phaolô II bác bỏ.
Điểm dị biệt nữa được Cha McKenna lưu ý là dân luật có thể thay đổi nhanh hơn giáo luật. Vì, theo Cha, “Bộ giáo luật cố gắng cung cấp các quan niệm căn bản; các quan niệm này có thể được thích nghi, hy vọng đáp ứng được các hòan cảnh và tình thế thay đổi cũng như các hoàn cảnh cá nhân, mà không cần tạo ra những khoản luật mới”.
Tìm sự kiện
Tuy nhiên, điểm dị biệt chủ yếu được Cha MaKenna nhắc đến chính là các cố gắng tìm sự kiện và bằng chứng trong một vụ xử. Ngài cho biết: Giáo Hội không có bộ phận độc lập truy tìm sự kiện giống như cơ quan Điều Tra Liên Bang (FIB) hay lực lượng cảnh sát. Theo Cha, “Giáo luật đặt cơ sở trên truyền thống Âu Châu lục địa, một truyền thống vốn có từ thời luật Rôma. […] Xét về truyền thống, các hệ thống luật pháp đặt căn bản trên luật Rôma, như giáo luật chẳng hạn, thường sử dụng phương thức ‘dựa vào tìm hiểu’ (inquiry-based) để điều tra và xét xử các vụ án, trong khi dân luật hay sử dụng phương thức đối đầu hay đối thủ (adversarial approach)” (1).
Chính vì thế, theo Cha, người ta thường hay “phàn nàn” về tính “kín đáo áp đặt trên các vụ xử liên quan đến các lời tố cáo lạm dụng tình dục”. Cha cho biết thêm: “Trong hệ thống giáo luật, chính các thẩm phán, hay những người được các thẩm phán ủy quyền, chứ không phải các đại diện của thân chủ, hay các luật sư, có vai trò thu lượm bằng chứng bằng miệng hay bằng chữ viết. Diễn trình tìm sự kiện và chứng cớ diễn ra trong một số cuộc điều trần thường kéo dài trong một khoảng thời gian tương đối lâu chứ không hẳn trong một vụ xử duy nhất như vụ án dân sự. Trong hệ thống giáo luật, vì bằng chứng thường được thu lượm trong một khoảng thời gian dài như thế, nên các thẩm phán thường áp đặt nhiều hạn chế buộc nhân chứng phải kín miệng (confidentiality) để tránh có thể “gây nhiễm” cho các nhân chứng khác sẽ xuất hiện trước tòa sau này. Điều này tương phản với hệ thống dân luật là hệ thống sử dụng thủ tục đối chất (cross-examination) trước bồi thẩm đoàn”.
Phương thức tranh thủ sự hợp tác của nhân chứng cũng khác nhau giữa hai hệ thống luật này vì luật dân sự có thể áp đặt hình phạt thể lý, trong khi giáo luật chỉ dựa vào ảnh hưởng tinh thần.
Tòa hỗn hợp
Cha McKenna, nhân dịp này, cũng cho hay giáo luật có thụ lý những tội phạm thuộc “toà hỗn hợp” (mixed forum) nghĩa là những tội phạm đối với cả Giáo Hội lẫn xã hội. Tội lạm dụng tình dục thuộc loại này. Ngài giải thích thêm: “Khi một tòa án Giáo Hội dựa vào quyền tài phán của mình mà xử một tội ác, nó không được can thiệp vào diễn trình của một vụ án dân sự đang diễn ra, căn cứ trên cùng một bộ sự kiện”. Ngài đơn cử cuộc tranh luận gần đây liên quan tới vấn đề có thể coi các giám mục như nhân viên của Tòa Thánh hay không, và phạm vi thẩm quyền của Tòa Thánh đối với các vị giám mục và các giáo phận là như thế nào. Theo Cha, đây là một vấn đề phức tạp, cả về phương diện thần học. Nhưng Cha đã giải thích cặn kẽ: giám mục không phải là nhân viên theo nghĩa thông thường vì các ngài hành xử thẩm quyền riêng trong giáo phận của mình. Cha cho hay một tòa án dân sự muốn xác định được mối liên quan đó, thì “nhất định phải đi sâu hơn vào học lý, thần học, lịch sử và giáo luật của Giáo Hội, và có lẽ phải giải quyết các vấn đề thần học mà từ trước đến nay chính Giáo Hội cũng chưa giải quyết được”.
Một bước đi trước qua ba thập niên thương thảo
Diễn giả thứ hai trong cuộc hội thảo này là nhà giáo luật thuộc Hội Giáo Luật Hoa Kỳ, nữ tu Sharon Euart. Bà nói về cố gắng của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ trong việc giải quyết nạn lạm dụng tình dục nơi hàng giáo sĩ từ những năm giữa thập niên 1980 cho đến nay. Diễn giả cho rằng các cố gắng ấy hết sức tích cực. Tựa đề bài nói của bà là “Giáo Luật và Cuộc Khủng Hoảng Lạm Dụng Tình Dục Của Giáo Sĩ: Một Cái Nhìn Tổng Quát về Kinh Nghiệm Hoa Kỳ”.
Nữ tu Euart cho rằng “Luật Giáo Hội vẫn đã có điều khoản coi việc lạm dụng tình dục vị thành niên là một vi phạm trầm trọng từ thời Trung Cổ. Tội lỗi điều răn thứ sáu với một vị thành niên được coi là một tội hình sự. Việc kết án loại tội ác này luôn luôn cứng rắn và không hàm hồ”. Theo bà, việc tu chính bộ giáo luật gần đây nhất, được ban hành năm 1983, đã giảm thiểu con số các tội phạm và hình phạt trong Giáo Hội, nhưng “việc kết án giáo sĩ lạm dụng tình dục vị thành niên luôn được duy trì và được coi là tội ác mà hình phạt có thể lên tới việc bị sa thải khỏi hàng giáo sĩ”.
Muốn một diễn trình đơn giản hơn
Nữ Tu Euart cho rằng loại hình phạt trên chính là hình phạt đã được các vị giám mục Hoa Kỳ chú ý đặc biệt trong cố gắng cùng với Tòa Thánh giải quyết nạn lạm dụng tình dục. Bộ luật năm 1983 đưa ra hai phương thức để áp đặt việc sa thải khỏi hàng giáo sĩ: 1) linh mục có vấn đề tự ý xin hồi tục, hay là 2) bị sa thải khỏi hàng giáo sĩ bởi một diễn trình pháp chế, tức một tòa án có tính hiệp đoàn gồm 3 linh mục thẩm phán có chuyên môn”.
Các giám mục Hoa Kỳ muốn có một diễn trình hợp lý hơn, một “diễn trình hành chánh để sa thải khỏi hàng giáo sĩ” trong đó các giám mục giáo phận có nhiều tiếng nói hơn trong phán quyết. Theo Nữ Tu Euart, điều ấy có nghĩa: các ngài muốn có một diễn trình cho phép các ngài “sa thải một linh mục căn cứ vào tính nhất thiết của mục vụ hơn là căn cứ vào hình luật”, nghĩa là tiêu chuẩn để sa thải phải đặt nặng việc bảo vệ trẻ em trong tương lai. Thủ tục này bớt kềnh càng, bớt dài dòng và bớt khó thi hành hơn. Tuy nhiên, theo giáo luật, việc sa thải kiểu hành chánh này vẫn đòi phải có việc thích đáng bảo vệ vị linh mục. Cuộc thương thảo với Tòa Thánh vì thế không thành công, vì Tòa Thánh đòi phải có sự bảo vệ cần thiết đối với quyền lợi của mọi bên liên hệ: của nạn nhân, của linh mục, của giám mục và cộng đoàn Giáo Hội. Thay vì nhấn mạnh tới diễn trình hành chánh như đề nghị, cuộc thương thảo tìm các phương thế để làm dễ diễn trình pháp chế của việc sa thải khỏi hàng giáo sĩ.
Trong khi ấy, vào năm 1987, Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đã đưa ra 5 nguyên tắc liên quan tới việc lạm dụng tình dục. Các nguyên tắc này đã được công khai công bố năm 1992. Nữ Tu Euart cho hay: “Lúc ấy, các giám mục công khai dồn hết năng lực mục vụ của mình vào cố gắng đập tan cái vòng lạm dụng”. Mặt khác, bà nói thêm, “Khi các thương thảo giữa đại diện Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ với Tòa Thánh không đạt được thỏa thuận về một diễn trình hành chánh phi pháp chế, thì năm 1993, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cho thiết lập một ủy ban hỗn hợp gồm đại diện Tòa Thánh và Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ để nghiên cứu diễn trình pháp chế và đề nghị ra các phương cách hợp lý hoá nó. Ủy Ban Hỗn Hợp này đã đưa đề nghị thay đổi một số điều luật đặc thù để có thể áp dụng rộng rãi hơn diễn trình sa thải theo pháp chế vào các vụ lạm dụng tình dục vị thành niên. Các đề nghị thay đổi này đã được đại đa só các vị giám mục Hoa Kỳ chấp nhận và sau đó, sau khi được sửa đổi chút ít, đã được Tòa Thánh công bố vào năm 1993”.
Làm sáng tỏ sự việc
Nữ Tu Euart cho hay: đến cuối thập niên 1990, phần lớn các giáo phận Hoa Kỳ đã có những hệ thống chắc chắn để xử lý các vụ lạm dụng tình dục: các nguyên tắc đã được chấp thuận, hội đồng tái duyệt được thiết lập, và nhiều biện pháp khác được thực thi. Bà cũng cho biết: “những vấn đề giáo luật còn lại phần lớn là để bảo đảm rằng các linh mục vi phạm sẽ không trở lại thừa tác vụ nữa và các quyết định này phải được các bộ sở liên hệ tại Rôma tôn trọng. Thời ấy, người ta không hiểu rõ thánh bộ Rôma nào có thẩm quyền sau hết về những vấn đề trên, một tình trạng khiến nhiều giám mục nản lòng trong việc áp dụng kỷ luật đối với các linh mục vi phạm”.
Năm 2001, một văn kiện của Đức Gioan Phaolô II đã đánh tan nhiều nghi ngại, nhờ nó khẳng định rằng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin “có thẩm quyền duy nhất trong Giáo Hội và có nhiệm vụ đưa ra các qui định đặc biệt về thủ tục để công bố hay áp đặt các chế tài giáo luật trong các vụ liên quan đến các tội ác theo giáo luật này”.
Theo Nữ Tu Euart, trong văn kiện năm 2001 nói trên, có nhiều điều khoản phản ảnh những thay đổi được các giám mục Hoa Kỳ và Tòa Thánh chấp thuận năm 1993 “nói một cách thực tiễn, chúng đã biến các điều khoản trước đây chỉ là luật đặc thù cho Hoa Kỳ thành luật phổ quát áp dụng cho toàn thế giới”.
Nhờ thế, khi vụ tai tiếng trở thành tít lớn ở Hoa Kỳ năm 2002, người ta đã thấy một loạt dài các biện pháp được đưa ra để xử lý vấn đề. Tuy nhiên, nhiều biện pháp khác vẫn cần phải có: tháng 4 năm 2002, các vị hồng y và viên chức của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đã gặp các nhà lãnh đạo của Vatican. Từ các cuộc hội kiến này, đã có quyết định để các giám mục Hoa Kỳ đưa ra các tiêu chuẩn và chính sách. Kết quả là văn kiện “Những Qui Định Chủ Yếu Cho Các Chính Sách Của Giáo Phận Trong Việc Xử Trí Các Lời Tố Cáo Giáo Sĩ Hay Phó Tế Lạm Dụng Tình Dục Vị Thành Niên”. Cùng năm đó, Tòa Thánh đã chuẩn y văn kiện này.
Nhìn trở lui
Nữ Tu Euart đưa ra một số nhận định làm bài học từ kinh nghiệm của các giám mục. Bà cho rằng các thảo luận công khai về vấn đề này ngay từ giữa thập niên 1980 rất có thể hữu ích, vì nhờ thế “công chúng ý thức được cam kết của các giám mục trong việc xử lý vấn đề này y như họ đã ý thức các lạm dụng dẫn tới cuộc khủng hoảng”. Dù gì, bà cũng nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc sẵn sàng chịu tính sổ (accountability), khi nhấn mạnh “Các giám mục lúc ấy cần, và bây giờ tiếp tục cần phải lãnh lấy vấn đề, nhận trách nhiệm đối với các giải pháp nhiều khi thiếu sót của mình và đảm bảo rằng các vụ trong tương lai sẽ được xử lý nhanh hơn và hữu hiệu hơn”.
Nhận xét thứ ba liên quan tới các diễn trình giáo luật “cồng kềnh”. Bà cho rằng: giáo luật không phải là vấn đề. “Vấn đề là việc các giám mục trù trừ không chịu sử dụng các điều khoản giáo luật lúc đó đã có sẵn để loại bỏ các linh mục khỏi thừa tác vụ. Các khí cụ giáo luật đã có sẵn lúc ấy. Tuy nhiên, nói thì nói thế, chứ việc các giám mục áp dụng các thủ tục giáo luật quả đôi lúc có gặp trở ngại vì những thủ tục đặc biệt và cồng kềnh và vì sự kiện này nữa là rất ít giáo luật gia đã được huấn luyện và có kinh nghiệm trong luật hình sự của Giáo Hội”. Về phương diện này, bà ca ngợi các buổi hội học (workshop) năm 2003 nhằm huấn luyện các luật gia giáo luật về việc áp dụng các thủ tục hình sự.
Tiêu chuẩn kép?
Đến phần các tham dự viên đặt câu hỏi, người ta mới thấy tính phức tạp của các vấn đề trên. Ít nhất thì cũng cần phải giải thích ngắn gọn về chức linh mục đời đời và việc loại một người khỏi bậc sống giáo sĩ.
Bản chất cồng kềnh của giáo luật đã khiến một trong các diễn giả là Cha John Beal của Đại Học America so sánh nó với bất cứ thủ tục pháp lý nào. Cha quả quyết rằng giống luật lệ Hoa Kỳ, giáo luật bảo đảm dành cho bị cáo một diễn trình thích đáng. Ngài cho hay trong bất cứ hệ thống pháp lý nào, “nếu bạn sẵn sàng dành cho bị cáo một phiên xử công bằng […] là bạn đã cam kết (tôn trọng) các thủ tục khá cồng kềnh”. Đơn cử, ngài nhắc mọi người nhớ tới những phức tạp trong việc đem công lý lại cho những kẻ gây ra tội ác ngày 11 tháng 9 năm 2001, sát hại hàng 3000 người.
Một người khác hỏi về vụ “một người bạn luật gia giáo luật” tìm cách bênh vực hai linh mục khỏi tội lạm dụng tình dục, hai vị linh mục mà vị luật gia này tin là vô tội. Về việc này, Cha Beal nhận xét rằng “đã có lúc, trong ‘thời xa xưa tồi bại’, lời của linh mục luôn nặng ký hơn […] nạn nhân. Bây giờ thì quả lắc đồng hồ đã lắc quay hướng khác: một lời tố cáo không hoàn toàn sai, nhưng một khi đã được đưa ra, thì bị cáo bó buộc phải chứng tỏ sự vô tội của mình. Quả là một thay đổi đáng kể”.
Cha cũng nhắc tới cầu thủ túc cấu quốc gia Ben Roethlisberger, tháng 3 vừa qua bị tố cáo tấn công tình dục, và cho rằng “theo diễn trình giáo luật, thì lúc này chắc chắn anh ta đã bị văng ra khỏi ngành bóng đá rồi” vì lượng chứng cớ mà công tố viên tìm ra, dù bị coi là không đủ để kết án, “cũng quá đủ đối với một vụ xử theo giáo luật để kết án anh ta phạm tội lạm dụng tình dục”. Vị linh mục này không quả quyết liệu quả lắc đồng hồ hiện nay có lắc đúng hay không, chỉ nói rằng với chứng cớ chỉ có tính giai thoại (anecdotal), người ta nên dành phán quyết này cho những người có nhiều bằng chứng hơn.
(1) Trong luật pháp, hệ thống tìm hiểu (inquiry hay inquisitorial) gồm một quan tòa (hay một nhóm quan tòa cùng làm việc chung) với nhiệm vụ điều tra vụ án. Trong khi hệ thống đối đầu (adversarial) là cơ cấu gồm hai bên theo đó, các tòa hình sự tiến hành qua phương thức đặt phía công tố đối nghịch với phía bào chữa. Công lý được thể hiện khi “địch thủ” hữu hiệu nhất có khả năng thuyết phục quan tòa hay bồi thẩm đoàn rằng quan điểm của ông ta hay bà ta là quan điểm đúng.
Đó là nhận định của Cha Kevin McKenna, một linh mục thuộc tổng giáo phận New York và là diễn giả đầu tiên của cuộc hội thảo, với đề tài “Giáo luật và dân luật: cùng làm việc cho ích chung”. Theo cha McKenna, bộ giáo luật hiện nay có gốc rễ từ thời các Tông Đồ, khi các ngài bắt đầu ‘san định’ các luật lệ tại Công Đồng Giêrusalem vào thế kỷ thứ nhất, như mô tả của Sách Tông Đồ Công Vụ. Qua nhiều thế kỷ sau, các qui định của các vị giáo hoàng và các công đồng đã được thêm vào, tạo nên điều cha McKenna gọi là một “tình trạng hết sức cồng kềnh và lôi thôi” mà mãi tới thế kỷ 20 mới được lập bộ (codified) lần đầu tiên.
Vị luật gia giáo luật này cho rằng bộ giáo luật chịu ảnh hưởng nặng nề của luật Rôma và cho biết nó đã được lập bộ như thế nào dưới thời Đức GH Piô X: “theo mẫu bộ luật Nã Phá Luân của Pháp, là bộ luật hết sức phổ thông tại Âu Châu vào đầu thế kỷ 20”.
Chính Đức Gioan XXIII đã yêu cầu phải cập nhật hóa bộ luật năm 1917. Nhờ thế, một bộ luật mới đã được ban hành vào năm 1983, tức bộ giáo luật hiện hành.
Khác nhau
Cha McKenna, sau đó, đã đề cập tới một số tương đồng và dị biệt giữa giáo luật và dân luật, nhất là tại Hoa Kỳ. Dị biệt đầu tiên là hệ thống cai trị dân sự gồm có ba ngành trong khi giáo luật thu gồm “cả ba chức năng ấy vào một đấng bề trên giáo quyền”. Ngài cũng cho rằng việc “kiểm soát và cân bằng từng được đan kết vào hệ thống tam quyền của các chính phủ dân sự được thấy rõ nhất qua hệ thống cứu viện (recourse system) trong cơ cấu Giáo Hội, qua đó, một số quyết định của cấp địa phương, thường là của các giáo phận, có thể được đệ trình cho cấp ‘cao hơn’, thường là một Thánh Bộ hay một văn phòng, tại Rôma. Một thủ tục khá đặc thù và mất thì giờ.
Cha McKenna cũng cho biết một số dị biệt khác:dân luật để các thẩm phán ấn định ra luật lệ theo nghĩa các phán quyết của họ trở thành tiền lệ cho các vụ án về sau. Điều này “không có trong hệ thống giáo luật”. Một dị biệt khác: là vai trò của hiến pháp (hay một văn kiện tương tự), nó được coi là nền tảng hay nguồn gốc của mọi luật lệ trong hệ thống dân sự. Về điểm này, Cha McKenna cho biết như sau: nhân dịp duyệt lại bộ giáo luật hiện nay, có người đã đề nghị soạn ra một thứ hiến pháp cho Giáo Hội, nhưng gợi ý này đã bị Đức Gioan Phaolô II bác bỏ.
Điểm dị biệt nữa được Cha McKenna lưu ý là dân luật có thể thay đổi nhanh hơn giáo luật. Vì, theo Cha, “Bộ giáo luật cố gắng cung cấp các quan niệm căn bản; các quan niệm này có thể được thích nghi, hy vọng đáp ứng được các hòan cảnh và tình thế thay đổi cũng như các hoàn cảnh cá nhân, mà không cần tạo ra những khoản luật mới”.
Tìm sự kiện
Tuy nhiên, điểm dị biệt chủ yếu được Cha MaKenna nhắc đến chính là các cố gắng tìm sự kiện và bằng chứng trong một vụ xử. Ngài cho biết: Giáo Hội không có bộ phận độc lập truy tìm sự kiện giống như cơ quan Điều Tra Liên Bang (FIB) hay lực lượng cảnh sát. Theo Cha, “Giáo luật đặt cơ sở trên truyền thống Âu Châu lục địa, một truyền thống vốn có từ thời luật Rôma. […] Xét về truyền thống, các hệ thống luật pháp đặt căn bản trên luật Rôma, như giáo luật chẳng hạn, thường sử dụng phương thức ‘dựa vào tìm hiểu’ (inquiry-based) để điều tra và xét xử các vụ án, trong khi dân luật hay sử dụng phương thức đối đầu hay đối thủ (adversarial approach)” (1).
Chính vì thế, theo Cha, người ta thường hay “phàn nàn” về tính “kín đáo áp đặt trên các vụ xử liên quan đến các lời tố cáo lạm dụng tình dục”. Cha cho biết thêm: “Trong hệ thống giáo luật, chính các thẩm phán, hay những người được các thẩm phán ủy quyền, chứ không phải các đại diện của thân chủ, hay các luật sư, có vai trò thu lượm bằng chứng bằng miệng hay bằng chữ viết. Diễn trình tìm sự kiện và chứng cớ diễn ra trong một số cuộc điều trần thường kéo dài trong một khoảng thời gian tương đối lâu chứ không hẳn trong một vụ xử duy nhất như vụ án dân sự. Trong hệ thống giáo luật, vì bằng chứng thường được thu lượm trong một khoảng thời gian dài như thế, nên các thẩm phán thường áp đặt nhiều hạn chế buộc nhân chứng phải kín miệng (confidentiality) để tránh có thể “gây nhiễm” cho các nhân chứng khác sẽ xuất hiện trước tòa sau này. Điều này tương phản với hệ thống dân luật là hệ thống sử dụng thủ tục đối chất (cross-examination) trước bồi thẩm đoàn”.
Phương thức tranh thủ sự hợp tác của nhân chứng cũng khác nhau giữa hai hệ thống luật này vì luật dân sự có thể áp đặt hình phạt thể lý, trong khi giáo luật chỉ dựa vào ảnh hưởng tinh thần.
Tòa hỗn hợp
Cha McKenna, nhân dịp này, cũng cho hay giáo luật có thụ lý những tội phạm thuộc “toà hỗn hợp” (mixed forum) nghĩa là những tội phạm đối với cả Giáo Hội lẫn xã hội. Tội lạm dụng tình dục thuộc loại này. Ngài giải thích thêm: “Khi một tòa án Giáo Hội dựa vào quyền tài phán của mình mà xử một tội ác, nó không được can thiệp vào diễn trình của một vụ án dân sự đang diễn ra, căn cứ trên cùng một bộ sự kiện”. Ngài đơn cử cuộc tranh luận gần đây liên quan tới vấn đề có thể coi các giám mục như nhân viên của Tòa Thánh hay không, và phạm vi thẩm quyền của Tòa Thánh đối với các vị giám mục và các giáo phận là như thế nào. Theo Cha, đây là một vấn đề phức tạp, cả về phương diện thần học. Nhưng Cha đã giải thích cặn kẽ: giám mục không phải là nhân viên theo nghĩa thông thường vì các ngài hành xử thẩm quyền riêng trong giáo phận của mình. Cha cho hay một tòa án dân sự muốn xác định được mối liên quan đó, thì “nhất định phải đi sâu hơn vào học lý, thần học, lịch sử và giáo luật của Giáo Hội, và có lẽ phải giải quyết các vấn đề thần học mà từ trước đến nay chính Giáo Hội cũng chưa giải quyết được”.
Một bước đi trước qua ba thập niên thương thảo
Diễn giả thứ hai trong cuộc hội thảo này là nhà giáo luật thuộc Hội Giáo Luật Hoa Kỳ, nữ tu Sharon Euart. Bà nói về cố gắng của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ trong việc giải quyết nạn lạm dụng tình dục nơi hàng giáo sĩ từ những năm giữa thập niên 1980 cho đến nay. Diễn giả cho rằng các cố gắng ấy hết sức tích cực. Tựa đề bài nói của bà là “Giáo Luật và Cuộc Khủng Hoảng Lạm Dụng Tình Dục Của Giáo Sĩ: Một Cái Nhìn Tổng Quát về Kinh Nghiệm Hoa Kỳ”.
Nữ tu Euart cho rằng “Luật Giáo Hội vẫn đã có điều khoản coi việc lạm dụng tình dục vị thành niên là một vi phạm trầm trọng từ thời Trung Cổ. Tội lỗi điều răn thứ sáu với một vị thành niên được coi là một tội hình sự. Việc kết án loại tội ác này luôn luôn cứng rắn và không hàm hồ”. Theo bà, việc tu chính bộ giáo luật gần đây nhất, được ban hành năm 1983, đã giảm thiểu con số các tội phạm và hình phạt trong Giáo Hội, nhưng “việc kết án giáo sĩ lạm dụng tình dục vị thành niên luôn được duy trì và được coi là tội ác mà hình phạt có thể lên tới việc bị sa thải khỏi hàng giáo sĩ”.
Muốn một diễn trình đơn giản hơn
Nữ Tu Euart cho rằng loại hình phạt trên chính là hình phạt đã được các vị giám mục Hoa Kỳ chú ý đặc biệt trong cố gắng cùng với Tòa Thánh giải quyết nạn lạm dụng tình dục. Bộ luật năm 1983 đưa ra hai phương thức để áp đặt việc sa thải khỏi hàng giáo sĩ: 1) linh mục có vấn đề tự ý xin hồi tục, hay là 2) bị sa thải khỏi hàng giáo sĩ bởi một diễn trình pháp chế, tức một tòa án có tính hiệp đoàn gồm 3 linh mục thẩm phán có chuyên môn”.
Các giám mục Hoa Kỳ muốn có một diễn trình hợp lý hơn, một “diễn trình hành chánh để sa thải khỏi hàng giáo sĩ” trong đó các giám mục giáo phận có nhiều tiếng nói hơn trong phán quyết. Theo Nữ Tu Euart, điều ấy có nghĩa: các ngài muốn có một diễn trình cho phép các ngài “sa thải một linh mục căn cứ vào tính nhất thiết của mục vụ hơn là căn cứ vào hình luật”, nghĩa là tiêu chuẩn để sa thải phải đặt nặng việc bảo vệ trẻ em trong tương lai. Thủ tục này bớt kềnh càng, bớt dài dòng và bớt khó thi hành hơn. Tuy nhiên, theo giáo luật, việc sa thải kiểu hành chánh này vẫn đòi phải có việc thích đáng bảo vệ vị linh mục. Cuộc thương thảo với Tòa Thánh vì thế không thành công, vì Tòa Thánh đòi phải có sự bảo vệ cần thiết đối với quyền lợi của mọi bên liên hệ: của nạn nhân, của linh mục, của giám mục và cộng đoàn Giáo Hội. Thay vì nhấn mạnh tới diễn trình hành chánh như đề nghị, cuộc thương thảo tìm các phương thế để làm dễ diễn trình pháp chế của việc sa thải khỏi hàng giáo sĩ.
Trong khi ấy, vào năm 1987, Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đã đưa ra 5 nguyên tắc liên quan tới việc lạm dụng tình dục. Các nguyên tắc này đã được công khai công bố năm 1992. Nữ Tu Euart cho hay: “Lúc ấy, các giám mục công khai dồn hết năng lực mục vụ của mình vào cố gắng đập tan cái vòng lạm dụng”. Mặt khác, bà nói thêm, “Khi các thương thảo giữa đại diện Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ với Tòa Thánh không đạt được thỏa thuận về một diễn trình hành chánh phi pháp chế, thì năm 1993, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cho thiết lập một ủy ban hỗn hợp gồm đại diện Tòa Thánh và Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ để nghiên cứu diễn trình pháp chế và đề nghị ra các phương cách hợp lý hoá nó. Ủy Ban Hỗn Hợp này đã đưa đề nghị thay đổi một số điều luật đặc thù để có thể áp dụng rộng rãi hơn diễn trình sa thải theo pháp chế vào các vụ lạm dụng tình dục vị thành niên. Các đề nghị thay đổi này đã được đại đa só các vị giám mục Hoa Kỳ chấp nhận và sau đó, sau khi được sửa đổi chút ít, đã được Tòa Thánh công bố vào năm 1993”.
Làm sáng tỏ sự việc
Nữ Tu Euart cho hay: đến cuối thập niên 1990, phần lớn các giáo phận Hoa Kỳ đã có những hệ thống chắc chắn để xử lý các vụ lạm dụng tình dục: các nguyên tắc đã được chấp thuận, hội đồng tái duyệt được thiết lập, và nhiều biện pháp khác được thực thi. Bà cũng cho biết: “những vấn đề giáo luật còn lại phần lớn là để bảo đảm rằng các linh mục vi phạm sẽ không trở lại thừa tác vụ nữa và các quyết định này phải được các bộ sở liên hệ tại Rôma tôn trọng. Thời ấy, người ta không hiểu rõ thánh bộ Rôma nào có thẩm quyền sau hết về những vấn đề trên, một tình trạng khiến nhiều giám mục nản lòng trong việc áp dụng kỷ luật đối với các linh mục vi phạm”.
Năm 2001, một văn kiện của Đức Gioan Phaolô II đã đánh tan nhiều nghi ngại, nhờ nó khẳng định rằng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin “có thẩm quyền duy nhất trong Giáo Hội và có nhiệm vụ đưa ra các qui định đặc biệt về thủ tục để công bố hay áp đặt các chế tài giáo luật trong các vụ liên quan đến các tội ác theo giáo luật này”.
Theo Nữ Tu Euart, trong văn kiện năm 2001 nói trên, có nhiều điều khoản phản ảnh những thay đổi được các giám mục Hoa Kỳ và Tòa Thánh chấp thuận năm 1993 “nói một cách thực tiễn, chúng đã biến các điều khoản trước đây chỉ là luật đặc thù cho Hoa Kỳ thành luật phổ quát áp dụng cho toàn thế giới”.
Nhờ thế, khi vụ tai tiếng trở thành tít lớn ở Hoa Kỳ năm 2002, người ta đã thấy một loạt dài các biện pháp được đưa ra để xử lý vấn đề. Tuy nhiên, nhiều biện pháp khác vẫn cần phải có: tháng 4 năm 2002, các vị hồng y và viên chức của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đã gặp các nhà lãnh đạo của Vatican. Từ các cuộc hội kiến này, đã có quyết định để các giám mục Hoa Kỳ đưa ra các tiêu chuẩn và chính sách. Kết quả là văn kiện “Những Qui Định Chủ Yếu Cho Các Chính Sách Của Giáo Phận Trong Việc Xử Trí Các Lời Tố Cáo Giáo Sĩ Hay Phó Tế Lạm Dụng Tình Dục Vị Thành Niên”. Cùng năm đó, Tòa Thánh đã chuẩn y văn kiện này.
Nhìn trở lui
Nữ Tu Euart đưa ra một số nhận định làm bài học từ kinh nghiệm của các giám mục. Bà cho rằng các thảo luận công khai về vấn đề này ngay từ giữa thập niên 1980 rất có thể hữu ích, vì nhờ thế “công chúng ý thức được cam kết của các giám mục trong việc xử lý vấn đề này y như họ đã ý thức các lạm dụng dẫn tới cuộc khủng hoảng”. Dù gì, bà cũng nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc sẵn sàng chịu tính sổ (accountability), khi nhấn mạnh “Các giám mục lúc ấy cần, và bây giờ tiếp tục cần phải lãnh lấy vấn đề, nhận trách nhiệm đối với các giải pháp nhiều khi thiếu sót của mình và đảm bảo rằng các vụ trong tương lai sẽ được xử lý nhanh hơn và hữu hiệu hơn”.
Nhận xét thứ ba liên quan tới các diễn trình giáo luật “cồng kềnh”. Bà cho rằng: giáo luật không phải là vấn đề. “Vấn đề là việc các giám mục trù trừ không chịu sử dụng các điều khoản giáo luật lúc đó đã có sẵn để loại bỏ các linh mục khỏi thừa tác vụ. Các khí cụ giáo luật đã có sẵn lúc ấy. Tuy nhiên, nói thì nói thế, chứ việc các giám mục áp dụng các thủ tục giáo luật quả đôi lúc có gặp trở ngại vì những thủ tục đặc biệt và cồng kềnh và vì sự kiện này nữa là rất ít giáo luật gia đã được huấn luyện và có kinh nghiệm trong luật hình sự của Giáo Hội”. Về phương diện này, bà ca ngợi các buổi hội học (workshop) năm 2003 nhằm huấn luyện các luật gia giáo luật về việc áp dụng các thủ tục hình sự.
Tiêu chuẩn kép?
Đến phần các tham dự viên đặt câu hỏi, người ta mới thấy tính phức tạp của các vấn đề trên. Ít nhất thì cũng cần phải giải thích ngắn gọn về chức linh mục đời đời và việc loại một người khỏi bậc sống giáo sĩ.
Bản chất cồng kềnh của giáo luật đã khiến một trong các diễn giả là Cha John Beal của Đại Học America so sánh nó với bất cứ thủ tục pháp lý nào. Cha quả quyết rằng giống luật lệ Hoa Kỳ, giáo luật bảo đảm dành cho bị cáo một diễn trình thích đáng. Ngài cho hay trong bất cứ hệ thống pháp lý nào, “nếu bạn sẵn sàng dành cho bị cáo một phiên xử công bằng […] là bạn đã cam kết (tôn trọng) các thủ tục khá cồng kềnh”. Đơn cử, ngài nhắc mọi người nhớ tới những phức tạp trong việc đem công lý lại cho những kẻ gây ra tội ác ngày 11 tháng 9 năm 2001, sát hại hàng 3000 người.
Một người khác hỏi về vụ “một người bạn luật gia giáo luật” tìm cách bênh vực hai linh mục khỏi tội lạm dụng tình dục, hai vị linh mục mà vị luật gia này tin là vô tội. Về việc này, Cha Beal nhận xét rằng “đã có lúc, trong ‘thời xa xưa tồi bại’, lời của linh mục luôn nặng ký hơn […] nạn nhân. Bây giờ thì quả lắc đồng hồ đã lắc quay hướng khác: một lời tố cáo không hoàn toàn sai, nhưng một khi đã được đưa ra, thì bị cáo bó buộc phải chứng tỏ sự vô tội của mình. Quả là một thay đổi đáng kể”.
Cha cũng nhắc tới cầu thủ túc cấu quốc gia Ben Roethlisberger, tháng 3 vừa qua bị tố cáo tấn công tình dục, và cho rằng “theo diễn trình giáo luật, thì lúc này chắc chắn anh ta đã bị văng ra khỏi ngành bóng đá rồi” vì lượng chứng cớ mà công tố viên tìm ra, dù bị coi là không đủ để kết án, “cũng quá đủ đối với một vụ xử theo giáo luật để kết án anh ta phạm tội lạm dụng tình dục”. Vị linh mục này không quả quyết liệu quả lắc đồng hồ hiện nay có lắc đúng hay không, chỉ nói rằng với chứng cớ chỉ có tính giai thoại (anecdotal), người ta nên dành phán quyết này cho những người có nhiều bằng chứng hơn.
(1) Trong luật pháp, hệ thống tìm hiểu (inquiry hay inquisitorial) gồm một quan tòa (hay một nhóm quan tòa cùng làm việc chung) với nhiệm vụ điều tra vụ án. Trong khi hệ thống đối đầu (adversarial) là cơ cấu gồm hai bên theo đó, các tòa hình sự tiến hành qua phương thức đặt phía công tố đối nghịch với phía bào chữa. Công lý được thể hiện khi “địch thủ” hữu hiệu nhất có khả năng thuyết phục quan tòa hay bồi thẩm đoàn rằng quan điểm của ông ta hay bà ta là quan điểm đúng.