Mùa đông của ơn gọi linh mục

Nhiều người vẫn cho rằng dù sao ta cũng đang trong mùa đông ơn gọi linh mục. Làm sao ra khỏi mùa đông ấy? Theo Đức HY Herranz, có thể dùng hình ảnh của người Ý để làm sáng tỏ cái nhìn trên, đó là hình ảnh da beo (macchia di leopardo). Những vết nám trên bộ da beo có thể diễn tả đúng hiện tượng dị biệt này theo địa dư từng xứ hay từng vùng. Tại Châu Âu chẳng hạn, một số quốc gia từng kinh qua một mùa đông thực sự của bách hại tôn giáo và phi nhân hóa xã hội dưới chủ nghĩa Mácxít, nhưng nay đang được hưởng một mùa xuân tuyệt diệu trong đó các người trẻ đang cảm nhận được lời mời gọi của Chúa Kitô gia nhập hàng ngũ linh mục. Tại các quốc gia khác, như Ba Lan chẳng hạn, ngay lúc còn chịu bách hại, ơn gọi linh mục vẫn dồi dào.

Như đã nói ở trên, đứng trước lạc thú, con người dễ yếu lòng. Xã hội phúc lợi tại các nước Châu Âu và Châu Mỹ mang lại cho người ta nhiều tiện nghi và do đó khiến cho việc quyết định bước chân theo Chúa Giêsu trở nên khó khăn hơn, như đã xẩy ra với chàng thanh niên giầu có từng khước từ lời mời hiến thân trọn vẹn. Ấy thế nhưng ngay trong hoàn cảnh ấy, Chúa Kitô vẫn lôi cuốn và Chúa Thánh Thần vẫn khơi dậy lòng ước ao được hiến toàn thân cho Thiên Chúa, để làm cha thiêng liêng, để rao giảng Phúc Âm, đem ánh sáng Chúa Phục Sinh cho thế giới, để sống không phải được phục vụ mà là phục vụ mọi người.

Tại các nước hay các giáo phân trước đây có nhiều linh mục như Tây Ban Nha chẳng hạn, sau một thời kỳ sút giảm đáng kể, hiện nay, người ta đang được chứng kiến một sự cải thiện về phẩm chất và số lượng ơn gọi. Điều ấy đã xẩy ra tại giáo phận Cordoba, quê hương Đức Hồng Y Herranz. Trong cơn lốc của điều tự gọi là cuộc khủng hoảng hậu công đồng, nhiều linh mục của giáo phận đã từ bỏ cuộc sống độc thân và ơn gọi làm linh mục rất thiếu. Chủng viện đã phải đóng cửa 12 năm. Nay, nhờ ơn Chúa, mọi sự đã thay đổi: hiện có 3 chủng viện, đại chủng viện, tiểu chủng viện và chủng viện truyền giáo, với 54 đại chủng sinh và 40 tiểu chủng sinh; trong 6 năm vừa qua, 41 linh mục đã được thụ phong, và 120 trong số 284 linh mục của giáo phận dưới 40 tuổi. Đức Hồng Y cũng đích thân biết nhiều trường hợp tương tự xẩy ra tại Ý và Pháp, cũng như đang bắt đầu xẩy ra tại một số quốc gia Châu Âu khác.

Trong một quốc gia đơn độc, có thể có những giáo phận dồi dào về ơn gọi, nhưng cũng có những giáo phận èo uột về ơn gọi ấy. Rất nhiều hoàn cảnh đa dạng ảnh hưởng tới tình thế này. Có lúc, việc duy trì và phong phú hóa lòng đạo bình dân làm dễ dàng việc bước chân theo Chúa; tỷ lệ sinh xuất cao cũng có thể tạo nên môi trường thuận lợi để người ta hiến thân… Trong bất cứ trường hợp nào, điều chủ yếu xem ra là phải đặt việc đào tạo nhân bản và Kitô Giáo thành ưu tiên vĩnh viễn hàng đầu: tại các trường học, các cao đẳng và các hiệp hội, cũng như các đại học và nhất là các chủng viện. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI nhấn mạnh rất nhiều đến tình thế giáo dục khẩn trương này. Nhiều vị giám mục ngày nay rất tận tụy với nhiệm vụ tái thiết các chủng viện của giáo phận, không phải chỉ tái thiết các tòa nhà, mà là theo dõi sâu sát nhóm đào tạo, vì nhiều năm các vị đã phải giáp mặt với thứ giải thích kiểu gián đoạn (hermeneutic of rupture). Hiển nhiên, việc ấy không dễ, nhưng đó là nhiệm vụ đào tạo 12 Tông Đồ của Chúa Giêsu.

Luật độc thân linh mục?

Liệu bãi bỏ luật độc thân của linh mục có giúp phần nào cho hiện tượng thiếu linh mục chăng, thay vì quá nhấn mạnh tới việc phục hồi sinh lực thiêng liêng cho các cộng đồng Kitô Giáo? Theo Đức Hồng Y Herranz, việc độc thân của linh mục đã có từ các thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội. Nó không hẳn là hậu quả đơn giản của một luật lệ Giáo Hội, nhưng giải đáp nhiều lý lẽ thần học sâu xa về tính xứng hợp mà Công Đồng Vatican II tóm lược như sau: “Qua đức khiết trinh hay cuộc sống độc thân vì Nước Trời, các linh mục được thánh hiến cho Chúa Kitô vì một lý do mới và ngoại lệ. Họ gắn bó với Người dễ dàng hơn nhờ một tâm hồn không phân chia, trong Người và qua Người, họ hiến thân một cách tự do hơn để phụng sự Chúa và con người, và họ mau mắn hơn trong việc phục vụ Nước Người và công cuộc tái sinh vào thiên đàng, và như thế, họ sẵn sàng chấp nhận thiên chức làm cha trong Chúa Kitô, theo nghĩa rộng” (Sắc lệnh Presbyterorum Ordinis, số 16).

Đã đành trong các Giáo Hội Đông Phương, luật độc thân chỉ được đòi hỏi nơi các giám mục mà thôi. Nhưng thiển nghĩ kinh nghiệm tại các nơi chọn ứng viên linh mục trong số những người không buộc phải sống độc thân cho thấy rằng việc dẹp bỏ điều khoản giáo luật đáng kính này trong Giáo Hội Latinh không hẳn là giải pháp giá trị cho hiện trạng khan hiếm linh mục. Ơn sống độc thân của linh mục là một báu vật đối với toàn thể Giáo Hội.

Rất may, hiện nay càng ngày người ta càng ý thức được rằng việc làm đầy các chủng viện là trách nhiệm của mọi tín hữu, nhất là các phụ huynh và các nhà giáo dục Kitô Giáo, chứ không phải chỉ là trách nhiệm của các vị giám mục và linh mục, vì đây là một phần của nhiệm vụ đã nhận lãnh từ khi rửa tội; nhiệm vụ này đòi ta phải tham dự tích cực vào sứ mệnh của Giáo Hội. Chúa Giêsu đã nói rõ nhiệm vụ này với ta. Mà trước hết là nhiệm vụ cầu nguyện, cụ thể là “lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít; vì thế, các con hãy cầu nguyện để Chủ mùa gặt sai nhân công tới mùa gặt của Người” (Mt 9:37-38).

Năm linh mục

Trong bối cảnh hiện nay, có người coi năm linh mục được đưa ra như một lời kêu gọi các linh mục nên thánh, một thứ giải đáp cho những vụ tai tiếng gần đây liên quan tới các linh mục lạm dụng tình dục….

Đức Hồng Y Herranz cho rằng nói về tầm quan trọng của sự thánh thiện thì không bao giờ cho đủ. Ngài trích dẫn Thư gửi Diognetus của thế kỷ thứ 2 rằng “Linh hồn cần thiết cho cơ thể thế nào thì Kitô Hữu cũng cần thiết cho thế giới như vậy”; sứ mệnh của môn đệ Chúa Giêsu là trở nên ánh sáng và muối cho thế gian; Chúa Kitô chọn 12 Tông Đồ với chức năng trợ giúp mọi người khác. Các giám mục và các cộng tác viên của các ngài (Thánh Kinh gọi họ là trưởng lão, presbyters) có một trách nhiệm đặc biệt. Sự tiến bộ của Giáo Hội tùy thuộc phần lớn vào đời sống thánh thiện của các vị này. Sắc Lệnh Presbyterorum Ordinis của CĐ Vatican II nói rằng: “ Sự thánh thiện giúp các linh mục rất nhiều trong việc thi hành thừa tác vụ của mình một cách phong phú. Dù ơn thánh Chúa vẫn có thể dùng các linh mục bất xứng để thực hiện công trình cứu rỗi, ấy thế nhưng, để biểu lộ các kỳ công của mình, phần lớn Thiên Chúa chọn những ai sẵn sàng đón nhận sức mạnh và sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, và những ai, nhờ sự hiệp thông gần gũi với Chúa Kitô và đời sống thánh thiện của họ, đám nói với Thánh Phaolô rằng: ‘Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Chúa Kitô sống trong tôi’ (Gl 2:20” (số 12).

Còn về trách nhiệm của các vị giám mục, sắc lệnh trên viết: “Các vị giám mục nên coi các linh mục như anh em và bạn hữu của mình và phải quan tâm bao nhiêu có thể tới đời sống vật chất và nhất là phúc lợi thiêng liêng của họ. Vì trước hết, các vị giám mục chịu trách nhiệm nặng nề đối với sự thánh thiện của các linh mục dưới quyền. Cho nên, các vị cần phải hết sức quan tâm đến việc huấn luyện các linh mục của mình cách liên tục” (số 7).

Ngày 21 tháng 12 năm 2009, Đức Bênêđíctô XVI nói với các vị hồng y và các bề trên khác thuộc Giáo Triều Rôma, nhân nói tới ý nghĩa của Năm Linh Mục trong bối cảnh Phúc Âm Hóa, rằng: “Là linh mục, chúng ta sẵn có đó cho mọi người: cho những người biết Chúa đầu tay và cho những ai không biết tới Người. Tất cả chúng ta cần quen thân với Người mãi mãi như mới, cần luôn luôn đi tìm Người ngõ hầu trở nên bạn hữu thật của Thiên Chúa. Cuối cùng, làm thế nào ta biết được Thiên Chúa nếu không nhờ những người vốn là bạn hữu của Người? Cốt lõi sâu xa nhất của thừa tác vụ linh mục hệ ở việc ta trở nên bạn hữu của Chúa Kitô (xem Ga 15:15), bạn hữu của Thiên Chúa, qua đó người khác cũng có thể khám phá ra sự gần gũi với Thiên Chúa”.

Tái khám phá bí tích hòa giải

Đức Bênêđíctô XVI hay nói tới việc tái khám phá ra bí tích hòa giải.Việc này quan trọng ra sao? Đức Hồng Y Herranz cho hay: giống các huyết quản cần cho cơ thể thế nào, thì bí tích hòa giải cũng thế. Nó là máng chuyển sự sống ơn thánh trong linh hồn. Ngưng hay bỏ bí tích này nhất định sẽ bị nhồi máu cơ tim hay thúi mục trong cấu trúc linh hồn ta, cũng như trong toàn bộ cộng đồng Kitô Giáo, vì ý thức tội lỗi, nhu cầu tha thứ và cảm thức bình an và hân hoan của linh hồn đã hòa giải sẽ dần dần mất đi.

Thực vậy, cũng trong bài nói truyện trên, Đức Bênêđíctô XVI còn nói tới nhu cầu hết sức nhân bản này: “Nếu con người không hòa giải với Thiên Chúa, họ cũng sẽ kình chống với sáng thế. Không hòa giải với chính mình, họ muốn trở thành một điều gì đó không phải là chính họ và do đó họ cũng không hòa giải với người lân cận. Một phần của hòa giải cũng là khả năng biết nhìn nhận tội lỗi và xin Chúa và người khác tha thứ. Sau cùng, một phần khác của diễn trình hoà giải là sẵn sàng làm việc đền tội, sẵn sàng chịu đau khổ vì tội lỗi của mình và tự cho phép mình được biến đổi”.

Đức Giáo Hoàng còn nói thêm: “Ngày nay, trong thế giới của ta, ta cần phải tái khám phá ra bí tích thống hối và hòa giải. Sự kiện nó hầu như đã biến mất khỏi cuộc sống và thói quen hàng ngày của Kitô hữu là triệu chứng ta đã đánh mất ý thức nói thật liên quan đến cả ta lẫn Chúa; một mất mát có nguy cơ đe dọa nhân loại và giảm thiểu khả năng tạo hòa bình của ta…”.

Trong nhiều trường hợp, như Đức Gioan Phaolô II từng nhắc nhở trong tự sắc “Lòng Thương Xót Chúa”, chỉ cần các linh mục sẵn sàng có đó mọi lúc nhất là trong những thời biểu rộng rãi được mọi người trong giáo xứ hay tại các nơi thờ phượng công cộng khác biết tới, thì dần dần, nhiều Kitô hữu hơn sẽ lại tiếp tục lãnh nhận bí tích này một cách có ý thức. Cũng sẽ hợp lý, khi ta cầu nguyện và làm đủ mọi cách có thể để những việc lạm dụng trong lối giải tội tập thể mất đi, bất cứ chúng xảy ra ở chỗ nào. Những lạm dụng này đang gây ra những hậu quả tai hại nặng nề và không hề đem lại sự bình an và niềm vui đích thực cho lương tâm. Khi năng xưng tội đúng cách bí tích, ta sẽ lãnh được hướng đi thiêng liêng, ý muốn nên thánh nhiều hơn, nhiều bình an hơn trong gia đình, nhiều công lý hơn trong xã hội, và nhiều ơn gọi linh mục hơn.

Thánh Josemaría Escriva đóng góp khá nhiều trong phạm vi này. Ngài là vị tông đồ vĩ đại của việc xưng tội đúng bí tích, một bí tích được ngài gọi là bí tích của niềm vui, trong các bài giáo lý tại Châu Âu và Châu Mỹ. Tại Chí Lợi chẳng hạn, ngài nói bằng một văn phong trực tiếp và quen thuộc vốn là đặc điểm của ngài: “Hãy xưng tội, hãy xưng tội, hãy xưng tội! Chúa Kitô vốn ban bố hậu hĩnh lòng thương xót của Người trên các tạo vật. Sự việc không diễn biến tốt đẹp, chỉ vì chúng ta không chịu chạy đến với Người, không tẩy rửa chúng ta, không thanh tẩy, không làm tâm hồn ta cháy rực lên. […] Chúa đang chờ đợi nhiều người đến tắm gội trong bí tích thống hối! Và Người đã dọn sẵn một bữa tiệc vĩ đại cho họ, một tiệc cưới, tiệc Thánh Thể; Người đã soạn sẵn nhẫn đính hôn và nhẫn chung thủy, nhẫn tình bạn đến muôn đời. Hãy đi xưng tội! Hỡi các con, hãy đem linh hồn các con đi xưng tội. Đừng để việc cha tới Chí Lợi vô ích!”

Những người bất đồng

Ngày nay không thiếu những người tỏ ra không trân quí các qui định của Giáo Hội, như trong lãnh vực phụng vụ chẳng hạn, hay tỏ ra thiếu hiệp thông với Giáo Hội vì việc đề cử một số vị giám mục và một số quyết định khác của Tòa Thánh. Theo Đức HY Herranz, tại một số nơi, việc hiệp thông trong Giáo Hội quả có yếu kém đi. Nhiều người chỉ coi nó như một thứ cảm tình có tính xúc cảm mơ hồ. Người ta quên mất rằng Chúa Giêsu đã để lại cho ta một gia đình con cái Chúa hết sức diệu kỳ là Giáo Hội với hai đặc điểm chủ yếu luôn luôn kết hợp với nhau một cách sâu sắc: một cộng đồng đức tin, đức cậy và đức mến, đồng thời, như Vatican II đã nhắc đến trong Hiến Chế “Lumen Gentium”, số 8, một cơ thể hữu hình, một xã hội có phẩm trật. Để đạt mục tiêu ấy, Người lập nhóm 12 Tông Đồ, mà các giám mục vốn kế thừa trong hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, vị kế nhiệm của Thánh Phêrô. Tất cả có sứ mệnh yêu thương là dạy dỗ, thánh hóa và cai quản các chi thể khác của Giáo Hội. Bởi thế, sau Phục Sinh, Chúa Giêsu đã ba lần nói với Thánh Phêrô: “ ‘Này Ximong, con Gioan, con có yêu mến Thầy không? Ông trả lời: ‘thưa Thầy có; Thầy biết con yêu Thầy’. Người nói với ông, ‘hãy chăm sóc các chiên của Thầy’” (Ga 21:15-23; xem Mt 16:19). Và Người cũng ban cùng một quyền ấy cho Đoàn Tông Đồ dưới sự chủ trì của Thánh Phêrô (Mt 28:16-20).

Trong một số giới Giáo Hội cũng như xã hội dân sự, vẫn thường có cuộc khủng hoảng về vâng lời và đôi khi cả thẩm quyền nữa. Thiển nghĩ cuộc khủng hoảng này trước hết chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố khác nhau nhưng nhiều khi chồng chéo lên nhau. Ở các quốc gia Tây Phương, ta thấy có ảnh hưởng của nền triết học càng ngày càng có khuynh hướng phóng túng (libertarian), chứ không hẳn tự do (liberal), phần lớn là hậu quả của một pha trộn ý thức hệ gồm cả Mácxít, Freud lẫn Marcuse, từng thoái trào trong “cuộc cách mạng 1968”. Trong các giới Giáo Hội, ta thấy có lối giải thích “gián đoạn” (ruprure) về Công Đồng Vatican II, nghĩa là bác bỏ huấn quyền trước đó, cả trong lãnh vực thần học: giản lược khía cạnh chính trị xã hội trong sứ mệnh của Giáo Hội; giải thích theo nghĩa dân chủ khái niệm và cấu trúc về Giáo Hội như Dân Chúa v.v…; cũng như trong lãnh vực phụng vụ: một chủ nghĩa duy thí nghiệm vô kỷ luật và triệt bỏ huyền nhiệm, nhân danh điều họ cho là “ước muốn canh tân phụng vụ của Công Đồng”; có khi tiệm tiến trong cả lãnh vực kỷ luật và giáo luật nữa: tục hóa lối sống của hàng giáo sĩ, khinh miệt các qui phạm về lối sống nhiệm nhặt đầy khôn ngoan cũng như lòng đạo đức của linh mục, rời bỏ hàng ngũ… Tạ ơn Chúa, cơn lốc này phần lớn đã qua đi. Hiện ta đang được chứng kiến một thời kỳ tâm hồn thanh thản, huấn quyền sáng suốt, góp phần củng cố rất nhiều sự hiệp thông trong Giáo Hội.

Về việc cử nhiệm các giám mục, với tư cách một thành viên của Bộ Giám Mục, Đức HY Herranz quả quyết rằng tất cả các vụ cử nhiệm đều được thực hiện trên căn bản quyền bính hợp pháp của Đức Thánh Cha và trong sự tôn trọng các điều khoản của Bộ Giáo Luật, từng được ban hành trong tinh thần áp dụng Vatican II, sau ba lần tham khảo với hàng giám mục hoàn cầu. Đối với việc cử nhiệm của Đức Giáo Hoàng, các qui định này cho thấy một diễn trình nghiên cứu và tham khảo lâu dài các giám mục, các linh mục và cả giáo dân nữa, dựa trên nhu cầu mục vụ của từng giáo phận, việc tuyển lựa các ứng viên và việc đánh giá các đức tính mục vụ cũng như bản thân của họ.

Ta cần cầu xin Chúa nhiều hơn cho được ơn khao khát và ước muốn bắt chước Chúa Kitô, Đấng đã vâng lời cho đến chết và chết trên thánh giá, như Thánh Phaolô nói với tín hữu Philiphê. Ta cũng cần cầu xin để việc thi hành quyền lực luôn là để phục vụ trong tinh thần yêu thương như lời Thánh Augustino (officium anmoris). Tất cả chỉ có thể có được trong một bầu khí bác ái thuật sự, trong một bầu khí thân ái sâu sắc với Chúa Kitô trong Phúc Âm và trong Thánh Thể, lấy Thánh Lễ làm tâm điểm tuyệt đối của đời mình, một bầu khí hiểu biết và tôn trọng các qui định phụng vụ và giáo luật, một bầu khí thân ái và thanh tẩy, biết quan tâm một cách hữu hiệu tới ớngười khốn khó nhất.