Một số người cho rằng Giáo Hội Công Giáo đang trên đường sa sút. Nhưng Đức Hồng Y Julián Herranz lại nghĩ khác, ngài quả quyết rằng Giáo Hội thực sự đang cảm nhận một sự lớn mạnh và một sinh lực phi thường.

Đức Hồng Y Herranz làm việc tại Giáo Triều Rôma từ năm 1960, qua 5 đời giáo hoàng Gioan XXIII, Phaolô VI, Gioan Phaolô I, Gioan Phaolô II và Bênêđíctô XVI. Mấy năm gần đây, ngài giữ chức chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng lo các Bản Văn Luật Lệ, đồng thời là thành viên các thánh bộ Tín Lý, Giám Mục, và Phúc Âm Hóa.

Ngài là tác giả cuốn sách bằng tiếng Tây Ban Nha, tựa là “En las Afueras de Jerico: Recuerdos De Los Anos Con Josemaria Y Juan Pablo II” (Ở Ngoại Thành Giêricô: Tưởng niệm các năm của Josemaría và Gioan Phaolô II), đã tái bản đến lần thứ 4. Trong cuốn sách này, Đức HY Herranz đã dùng nhiều dữ kiện và kinh nghiệm bản thân phong phú để gợi lại các năm tháng của Công Đồng Vatican II và việc áp dụng nó trong các thời kỳ sau đó và hiện nay.

Tục hóa

Trong cuộc phỏng vấn dành cho “Temes D’Avui”, một tạp chí chuyên bàn về các vấn đề mục vụ, Đức HY Herranz nói tới Giáo Hội hoàn vũ trong thời đại hậu thế tục (post-secular). Nói đến việc tục hóa, một hiện tượng bao gồm cả chủ nghĩa vô thần, lẫn bài giáo sĩ và dửng dưng tôn giáo, ngài cho hay cần phải phân biệt giữa tính thế tục (secularity) và việc tục hóa hay chủ nghĩa thế tục (secularization/secularism). Đức HY cho rằng tính thế tục là một sự kiện tích cực, xuất hiện trong mấy thế kỷ vừa qua, qua đó, người ta càng ngày càng ý thức được tính độc lập chính đáng của các thực tại thế tục, trần gian. Điều ấy rõ ràng đã được Công Đồng Vatican II thừa nhận. Một phương diện của thực tại ấy ngày nay được chúng ta gọi là chủ nghĩa duy tục tích cực (positive laicism), được coi là đã vượt lên trên chủ nghĩa bài giáo sĩ ngày trước.

Ngược lại, chủ nghĩa duy thế tục không giống như thế. Chủ nghĩa này muốn một nhân loại không có nền tảng căn cốt của nó là Thiên Chúa, một thứ nhân bản thuyết vô thần, tự nó đã tỏ ra là một thảm kịch, như nhận định của Henri De Lubac.

Thuộc đường dây này là các bộ phận muốn áp đặt chủ nghĩa cực đoan duy tục thành ý thức hệ chính xác về chính trị, một chủ nghĩa giáo điều vô thần trái với chủ nghĩa duy tục chân chính, là chủ nghĩa biết thừa nhận nơi tôn giáo một yếu tố văn hóa và xã hội cần được tôn trọng và cổ vũ.

Hiện nay, một số nhà xã hội học chuyên phân tích các khuynh hướng và diễn trình văn hóa, như John Micklethwait, chủ bút tờ The Economist, và Adrian Wooldridge, tác giả sách bán chạy nhất “God Is Back” (Thiên Chúa Đã Trở Lại), không tin rằng chủ nghĩa duy thế tục vô thần hay dửng dưng tôn giáo đang lấn lướt ở ngoài xã hội; đúng hơn, điều ngược lại đang xẩy ra.

Mấy thập niên trước đây, một số người tiên đoán tôn giáo sẽ chết yểu, nhất là Kitô Giáo, nhưng sau đó, chính họ phải tự điều chỉnh và nhìn nhận rằng tôn giáo đã trở lại dưới nhiều hình thức rất đa dạng.

Không ít người cho rằng ta đang ở trong thời kỳ hậu thế tục, mà đặc điểm tìm thấy qua việc càng ngày người ta càng quan tâm hơn đối với những vấn đề nền tảng về nhân bản, với chiều kích hết sức tôn giáo.

Trong một phúc trình mới đây tựa là “The Return of God” (Thiên Chúa Trở Về), tờ La Republica, một tờ báo vô tôn giáo của Ý, tỏ ra ngạc nhiên vì sự bộc phát sách báo nói về đức tin trong các tiệm sách của Ý với 27% gia tăng về số bán.

Một cách cụ thể, phúc trình ấy cho thấy thương vụ các sách có chủ đề tôn giáo đã tăng 196% tại các trung tâm phân phối lớn, như siêu thị và trung tâm thương mại.

Một sự kiện lý thú khác là thông điệp mới nhất của Đức GH “Bác ái trong chân lý”, ngay ấn bản đầu tiên, đã in ra 600,000 bản, vượt xa con số bán chạy nhất giữa tháng 7 của một vài nhà văn lớn như Faletti, Larson và Grisham.

Đức HY tin rằng những sự kiện trên và các sự kiện tương tự, như việc trở lại Công Giáo của nhiều chính trị gia, nhà văn và tài tử danh tiếng một lần nữa cho thấy ngay giữa môi trường rõ ràng là duy vật, lý trí và trái tim con người vẫn không dửng dưng với những vấn đề vĩ đại về ý nghĩa và số phận cuộc hiện sinh của họ.

Chỉ có một số ít thực sự yên ổn mà nghĩ rằng họ chỉ là một mảnh thịt truyền từ tay bà đỡ qua tay những người đào huyệt.

Một số các thiên kiến đã thành khuôn mẫu, như đức tin là kẻ thù của khoa học hay thái độ dửng dưng tôn giáo là thời thượng trí thức, là không chịu mau mắn thay đổi trong công luận chỉ vì tính ù lì cố hữu hay vì quyền lợi do chúng tạo ra, dĩ nhiên thuộc phạm vi kinh tế, nhờ duy trì được một khuynh hướng có tính ý thức hệ nào đó.

Nhưng ngay phong trào tranh đấu của những nhóm cổ vũ cho chủ nghĩa thế tục không khoan nhượng tại một số môi trường chính trị và tài chánh Âu Châu, trên phạm vi cả nước hay trong phạm vi cộng đồng, cũng phải thú nhận rằng trên thực tế, thái độ dửng dưng tôn giáo không hề có hay đang giảm dần.

Xem ra những người hy vọng góp tay một cách thụ động vào việc chôn sống Kitô Giáo (họ bảo chỉ là vấn đề thời gian thôi, tôn giáo này sẽ tự kết liễu đời mình) nay đang phải đổi qua một chiến lược hiếu chiến nhằm mục đích gây được những hiệu quả tích cực trong việc kéo nhiều Kitô hữu ra khỏi giấc mơ màng ươn lười của họ.

Sau đáp ứng tiêu cực của chàng thanh niên giầu có không chịu tham gia nhóm môn đệ, Chúa Giêsu cho Phêrô hay Thiên Chúa sẽ trả công 100% ở đời này và đời sau, nhưng phải kinh qua bách hại.

Bách hại chưa bao giờ thiếu, nhưng ơn trợ giúp của Chúa để đương đầu với chúng cũng không thiếu. Ngay thế hệ môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu cũng đã phải cần tới sự an ủi của cuốn sách kỳ diệu là Khải Huyền, vốn có giá trị đối với mọi thế hệ, là sách đem đến cho họ sự chắc chắn và niềm vui khi đương đầu với trở ngại và nhiều hình thức khác của phong trào bài Kitô.

Nhưng người Kitô hữu cần phải dấn thân vào lãnh vực công mà không mặc cảm và phải được đào tạo tốt về tín lý để phong phú hóa cuộc sống chung và nền dân chủ dân sự, mang đến cho chúng tính nhân bản và cái sâu sắc của đức ái và tự do, nghĩa là mang đến cho lý trí và xã hội nói chung cây thánh giá và sự phục sinh của Chúa Kitô.

Ngã tư đường

Trong cuốn “On the Outskirts of Jericho” (Bên ngoài Giêricô), Đức Hồng Y Herranz nói rằng nhân loại đang ở một ngã tư đường, theo ý một lời kêu gọi vào Năm Thánh 2000 mà Đức Gioan Phaolô II đã ngỏ với các vị giám mục khắp hoàn cầu. Dịp đó, Đức Gioan Phaolô II nói rằng: “Ngày nay nhân loại đang sở hữu những khí cụ tạo sức mạnh chưa từng thấy: họ có thể biến thế giời này thành một mảnh vườn hay có thể biến nó thành một đống tro tàn. Họ đã thủ đắc được những khả năng phi thường có thể can thiệp vào chính nguồn tạo ra sự sống: họ có thể sử dụng những khả năng này để phục vụ điều thiện, trong đường hướng luật lệ luân lý, hay họ cũng có thể nhượng bộ cái hãnh tiến cận thị của khoa học không biết nhìn nhận các giới hạn của mình, đến độ chà đạp cả lòng kính trọng đối với mọi con người nhân bản. Hơn bao giờ hết, ngày nay nhân loại đang ở một ngã tư đường”.

Theo Đức Hồng Y Herranz, Đức Gioan Phaolô II có ý đề cập tới các tiến bộ vĩ đại của khoa học và kỹ thuật trong nhiều lãnh vực của cuộc sống, nhất là lãnh vực sinh học và di truyền học. Các tiến bộ này buộc con người thời nay phải suy nghĩ tới mục đích của chúng, nhất là vì trong bối cảnh của chủ nghĩa toàn trị duy tương đối, ý niệm phổ quát về con người như một chủ thể có phẩm giá và nhiều quyền bất khả nhượng đang bị hoà tan.

Đối với các chủ đề chủ chốt hiện đang đe dọa nhân loại, người ta không thể duy trì một thái độ trung lập. Thực thế, ta đang ở trong trạng huống phải giáp mặt với một ngã tư đường. Hai ngả đường đang mở ra trước mắt ta: một ngả dẫn tới việc nhân bản hóa lớn hơn chưa từng thấy, với khoa học và kỹ tuật phục vụ con người (tiến bộ giáo dục, cải thiện phẩm chất sự sống, khả năng chăm sóc tốt cho người túng thiếu, tự do và nhiều trách nhiệm hơn…); một ngả dẫn tới việc xâm thực dần dần phẩm giá con người, do việc sử dụng trái với bản nhiên hữu thể có bản vị (các kỹ thuật biến đổi di truyền và thao túng các phôi thai để phục vụ các quyền lợi thương mại và phúc lợi vị kỷ). Việc sử dụng này hạ thấp phẩm giá con người, phá hoại sự gắn bó xã hội và làm yếu đi chú tâm canh tân của toàn thể xã hội nhằm vào gia đình.

Tính mới mẻ trong tình thế hiện nay so với quá khứ là con đường nhân bản hóa ngày nay đòi phải có một ý thức đạo đức mạnh mẽ hơn, xác tín nhiều hơn và phải có một nền giáo dục sâu sắc hơn.

Đứng trước khoái lạc, con người nhân bản yếu đuối hơn là đứng trước các khó khăn không thể tránh. Ta đang đứng trước một ngã tư đường nơi các công dân tầm thường đang bị cám dỗ bước theo dòng, tự để cho mình bị quán tính (inertia) dẫn lối.

Con người, theo nghĩa đám đông như Robert Spaemann hay nhấn mạnh, đang chịu áp lực mạnh từ các lực lượng kinh tế và ý thức hệ, là các lực lượng luôn chống lại các lắng lo sâu sắc của ta muốn xây dựng một xã hội công bằng hơn, nhiều liên đới hơn, và trong nhiều trường hợp chống lại ý muốn chính đáng được thực hành nghề nghiệp theo đúng phẩm giá của mình: Điều này đúng không những đối với các nhà chuyên môn trong ngành truyền thông và các bác sĩ, mà còn đúng đối với các luật sư và nghệ sĩ cũng như nhiều ngành nghề khác.

Thí dụ, khi một dược sĩ cảm thấy bị luật lệ đe dọa trong tư cách doanh nhân, thì việc phục vụ bệnh nhân của vị dược sĩ này sẽ mất hết tự do và trách nhiệm nếu như ông ta hay bà ta không dùng tự do lương tâm của mình chống lại những lạm dụng của nền cai trị độc tài.

Đức Hồng Y trích dẫn lời của Francis Collins, nhà sinh học Bắc Mỹ chịu trách nhiệm về “Human Genome Project” (Dự Án Hệ Di Truyền Nhân Bản), vốn là một Kitô hữu trở lại đạo lúc 27 tuổi, viết trong cuốn “The Language of God” (Ngôn từ Thiên Chúa), một tựa đề ông dùng gọi tên bộ di truyền: “Tôi tin có một kế hoạch thần linh được truyền từ Big Bang và biến hóa tới những con người nhân bản. Và tôi tin rằng Thiên Chúa tạo dựng nên ta để thông truyền trong ta ý niệm cái đúng cái sai, ý chí tự do, và để có mối liên hệ bản thân với ta qua cầu nguyện” (Avvenire, 15/6/2009).

Sự thật và lòng từ nhân

Nhiều người cho rằng Giáo Hội đang quay lưng lại xã hội con người bằng cách lên án các thực hành như ngừa thai, phá thai, an tử và đồng tính luyến ái. Và cũng có người cho rằng muốn “phúc âm” hơn, ta nên nhấn mạnh nhiều hơn tới lòng từ nhân và tình yêu thương hơn là lên án một số tác phong luân lý. Đức Hồng Y Herranz cho hay: phúc âm nhất là phải hành động như Chúa Giêsu đã hành động. Người dạy dỗ và thực hành sự thật và lòng từ nhân cùng một lúc và không tách biệt nhau. Chúa bảo ta: “sự thật sẽ giải phóng chúng con” (Ga 8:32) và đứng trước sai lầm tai hại của thứ tự do tuyệt đối, thứ tự do tách biệt khỏi qui phạm luân lý, Người dạy ta giá trị cứu rỗi của sự thật. Sự thật về phẩm giá con người, cả đàn ông lẫn đàn bà, được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và có cùng đích đời đời. Sự thật về giá trị trổi vượt của sự sống con người từ lúc hoài thai tới lúc chết đi cách tự nhiên. Sự thật về tình yêu nhân bản, “tình yêu tuyệt đẹp” mang theo chiều kích thiêng liêng qua việc tự hiến cho nhau và trung thành với nhau, một chiều kích cao hơn nhiều so với chiều kích sinh học chỉ nhằm tính dục. Sự thật về hôn nhân, sự kết hợp bền vững giữa một người đàn ông và một người đàn bà sẵn sàng chào đón con cái, và sự thật về gia đình xây dựng trên hôn nhân.

Và cùng với sự thật, Chúa Giêsu dạy ta tình yêu và lòng từ nhân. Người tha thứ cho người đàn bà bị bắt quả tang ngoại tình và nói với bà ta: “Tôi cũng không kết án chị; hãy đi đi và đùng phạm tội nữa” (Ga 8:11). Luca, phúc âm gia của lòng từ nhân Thiên Chúa, thuật lại việc Chúa Giêsu được mời dùng bữa tại nhà người tội lỗi giầu có tên Giakêu. Người quan tâm tới linh hồn ông ta, đến sự cứu rỗi đời đời của ông, và kết quả là ông ta trở lại: “Thưa Thầy, tôi xin hiến nửa số của cải tôi có cho người nghèo: và nếu có lừa đảo ai điều gì, tôi xin trả lại gấp bốn”. Chúa nhận xét: “ Hôm nay ơn cứu rỗi đã đến nhà này, vì ông ta cũng là con cái Ápraham. Vì Con Người tới để tìm và cứu vớt kẻ tội lỗi” (Lc 19:1-10).

Thánh Gioan, phúc âm gia hay nhấn mạnh tới tình yêu, thuật lại việc Chúa Giêsu giúp người đàn bà Samaria chỉnh đốn lại tình trạng gia đình của chị ra sao. Trả lời người đàn bà, Chúa bảo: “Hãy đi gọi chồng chị, rồi đến đây”. Người đàn bà thưa lại: “tôi không có chồng”. Chúa bèn nói: “Chị nói đúng khi bảo ‘tôi không có chồng’ vì chị đã có 5 người chồng, và người hiện chị đang có không phải là chồng chị; điều ấy chị nói đúng” (Ga 4:16-18).

Chúa Giêsu đến dạy ta sự thật giải phóng, sự thật cứu rỗi và cùng một lúc, Người đến dùng tình yêu và lòng từ nhân sửa lại khuynh hướng vị kỷ vốn làm tổ trong trái tim con người.

Đó chính là lý do Người mời gọi ta thống hối và ăn năn trở lại, hai thứ sẽ đem lại bình an và hân hoan cho ta. Giáo Hội không là ai khác mà là chính Chúa Kitô hiện diện giữa con người trong dòng lịch sử. Đó chính là ly do tại sao, bất chấp mọi yếu đuối bản thân của các Kitô hữu, Giáo Hội vẫn đã dùng giáo huấn của mình cũng như các bí tích do Chúa Kitô thiết lập mà thưa lời “có” vĩ đại đối với ơn gọi sâu sắc nhất của mọi con người nhân bản: yêu và được yêu. Và nhờ thế, Giáo Hội đã giúp con người sống trọn dự án tuyệt vời của hôn nhân và gia đình mà không hạ thấp phẩm giá của họ.

Về chủ đề an tử, ngoài việc phân biệt nó với việc chữa trị quá đáng (therapeutic aggression), có thể nói nó cũng giống như tờ giấy thử (litmus paper). Mức độ nhân đạo của một cộng đồng xã hội được đo bằng việc cam kết chăm sóc người đau yếu và già cả. Họ không phải là một gánh nặng, nhưng là vốn qúi của nhân loại, và thêm vào đó, họ còn là chính Chúa Kitô nữa.

Bổn phận xứng đáng của con người nhân bản là hợp tác hỗ tương để đạt tới sự viên mãn của ơn gọi yêu thương: tự hiến và cam kết tự do chăm sóc người khác.

Trung Hoa, một trường hợp điển hình

Đức HY Herranz từng đi thăm Trung Hoa và đã giao tiếp với nhiều giới tại đó. Theo ngài, trên thực tế, không có vấn đề ly giáo trên đất nước này và cũng không có hai giáo hội tại đó, một “giáo hội yêu nước” và một “giáo hội hầm trú”. Chỉ có một Giáo Hội Công Giáo tại Trung Hoa, hợp nhất trong đức tin và các bí tích, dù gặp nhiều khó khăn phát sinh từ việc thiếu tự do, và cũng hợp nhất trong quản trị và hiệp thông với Đức Giáo Hoàng và Giáo Hội hoàn vũ, nếu ta bỏ qua một bên tình trạng vẫn còn mù mờ trên thực tế của một số giám mục.

Quả thực, buổi khai sinh ra Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa vào năm 1949, Tòa Thánh Vatican bị coi là “kẻ thù chính trị”, một “thế lực ngoại bang”, đồng minh của Mỹ. Do đó mà có việc bách hại tôn giáo khá dã man của Mao mà đỉnh cao là thập niên kinh hoàng 1966-1976 của cái gọi là Cách Mạng Văn Hóa Vô Sản Vĩ Đại.

Với việc lên cầm quyền của Đặng Tiểu Bình vào năm 1976, người Công Giáo được hưởng đôi chút tự do tôn giáo, nhưng vẫn bị đặt dưới sự kiểm soát của nhà nước qua một số cơ cấu, mà nổi nhất là “Hội Người Công Giáo Trung Hoa Yêu Nước” áp đặt trên thẩm quyền các vị giám mục mà việc bổ nhiệm nay không còn nằm trong tay Đức Giáo Hoàng nữa.

Ý niệm đứng đàng sau dĩ nhiên nhằm thiết lập ra một giáo hội độc lập quốc gia. Nhưng việc tấn phong bí mật các giám mục, cũng như đức tin vững vàng và sự hiệp thông thiêng liêng của giáo dân và của đại đa số các linh mục với Đức Giáo Hoàng đã buộc chính quyền phải tái định hướng chính sách của họ.

Sau đó, là những cuộc tiếp xúc và nói truyện không chính thức với Tòa Thánh (tuy chưa có liên hệ ngoại giao chính thức), và trên hết liên quan tới việc cử nhiệm các giám mục và cổ vũ việc tôn trọng một số nguyên tắc nền tảng về bản chất Giáo Hội, như tính công giáo, tính tông đồ và đặc tính thiêng liêng trong sứ mệnh của Giáo Hội.

Trên thực tế, hầu như mọi giám mục “chính thức” đều mong muốn và cố gắng để được Tòa Thánh nhìn nhận, việc từng xẩy ra khi những điều tiên quyết được thỏa mãn.

Cuối cùng, chính đức tin của giáo dân Công Giáo đã qui định ra luật lệ: đại đa số các linh mục, các tu sĩ và giáo dân không vâng lời các giám mục không do Đức Giáo Hoàng cử nhiệm hay nhìn nhận và hợp thức hóa.

Đối với thiểu số còn lại, dù một số vẫn còn lần lữa chưa chịu hiểu hay cố tình duy trì quan điểm ngược lại vì quyền lợi cá nhân, họ vẫn có thể vừa là người Công Giáo tốt vừa là một công dân Trung Hoa gương mẫu.

Vì thiếu thông tin và do đó bị mù mờ, nên mới đây, tại một số nơi như giáo phận Bảo Định, cách Bắc Kinh 190 cây số, đã xẩy ra căng thẳng giữa giáo dân và nhà cầm quyền. Nhưng theo Đức Hồng Y, tại đa số các giáo phận, “Thư gửi Giáo Hội tại Trung Hoa” của Đức Bênêđíctô XVI viết ngày 30 tháng 6 năm 2007 đã từ từ sinh ra hai hoa trái mong đợi và gần đây còn được kích thích hơn nữa nhờ lá thư của Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tarcisio Bertone viết ngày 10 Tháng 11 cùng năm.

Đây là việc trước nhất bàn tới việc dùng mọi phương tiện (tình bác ái và huynh đệ mục vụ cũng như sự trong sáng về tín lý và kỷ luật) để cổ vũ sự hoà giải bên trong cộng đồng Công Giáo giữa những người còn phải sống trong những điều kiện khó khăn của tự do tôn giáo và những người được tự do thực hành tôn giáo. Thứ hai, là việc cố gắng thiết lập một cuộc đối thoại cởi mở và tôn trọng nhau giữa thẩm quyền giáo hội (Tòa Thánh và các giám mục Trung Hoa) và các thẩm quyền nhà nước, nhằm vượt qua các hiểu lầm và hạn chế đang đụng tới tâm điểm đức tin và việc tự do thi hành thừa tác vụ mục vụ.

Bao giờ thì các khó khăn trên được vượt qua và sự hợp nhất của Giáo Hội tại quốc gia này được tăng cường? Ta chỉ biết cầu nguyện với niềm tin và sự kiên nhẫn thôi, để việc ấy sớm xẩy ra. Ta biết chắc rằng giống như hạt mù-tạt trong Phúc Âm, Nước Thiên Chúa sẽ lớn mạnh tại một mảnh đất từng thấm máu đào của biết bao vị tử đạo, mà nhiều vị đến nay vẫn còn vô danh. Hạt giống nhỏ ấy (10 triệu người Công Giáo trong một quốc gia 1.3 tỷ người) hiện vẫn rất sống động và đang lớn mạnh.

Quả là an ủi khi nghĩ tới việc phát triển tuy chậm chạp nhưng kiên quyết của một giáo phận nhỏ, giáo phận Hebei, nơi Đức HY Herranz có nhiều bạn quí. Cách nay 150 năm, ở đó chỉ có một nhúm nhỏ giáo dân; tới năm 1930, đã có tới 54,000 tín hữu; ngày nay, giáo phận ấy có 112,253 giáo dân, 81 linh mục, 42 chủng sinh và một tu hội truyền giáo của giáo phận với 51 nam tu sĩ và 90 nữ tu sĩ. Hàng năm, có khoảng 1,000 người lớn được rửa tội.

Hiệp thông để truyền bá Nước Chúa

Về việc Giáo Hội hoàn vũ trong tư cách một định chế và người tín hữu Kitô phải hợp tác ra sao vào việc truyền bá Nước Chúa, Đức HY Herranz cho rằng chủ yếu là phải “hiệp thông”. Bởi Giáo Hội chính là sự hiệp thông với Chúa Giêsu, hiệp thông với vị sáng lập ra mình. Đó là lý do khiến Đức Bênêđíctô XVI không ngừng nói đến việc chủ yếu phải trở thành bạn hữu của Chúa Kitô: trong Thánh Thể và trong các bí tích khác, trong Lời Chúa và trong đức bác ái.

Ngoài ra, sự hiệp thông này còn có chiều kích huynh đệ và truyền giáo mạnh mẽ: sống trong Giáo Hội như anh em, hợp nhất chặt chẽ với Đức Giáo Hoàng và các giám mục hiệp thông với ngài, và đem ra thực hành một cách có trách nhiệm quyền lợi hay bổn phận của mọi người đã rửa tội phải phúc âm hóa, phải làm cho Chúa Kitô được biết đến, bằng đức khiêm tốn, biết mình chỉ là dụng cụ đơn giản của ơn thánh và vì vậy, phải phúc âm hóa bằng đức tin và lòng quả cảm. Hiệp thông là biết quan tâm đối với nhau: hiến tặng người khác, để làm của chung, những điều tốt đẹp nhất mà ta có được.

Đối với một người Kitô hữu, điều có giá trị nhất chính là cuộc gặp gỡ của họ với Chúa Kitô. Theo nghĩa này, cần thiết phải có chương trình giáo lý sâu sắc, truyền bá văn hóa và thông tin để tránh các hiểu lầm từng ngăn cản việc tiếp nhận đúng đắn sứ điệp của Giáo Hội. Thông tin luôn luôn là một điều tốt. Tất cả những điều trên đòi một cố gắng đào luyện lớn. Việc đào luyện này phải bắt đầu từ nhà trường, trong giáo xứ và các cơ cấu mục vụ và hiệp hội, tại đại học và các trung tâm học thuật khác, nhất là trong các chủng viện.

Giáo Hội đang sa sút?

Nói đến việc phát triển Nước Chúa như trên đây xem ra không ăn nhịp với cái nhìn kém lạc quan của một số người vì họ cho rằng các tiến bộ khoa học, việc thay đổi phong tục và ảnh hưởng của chủ nghĩa cực đoan nơi truyền thông và chính giới đang đặt ra cho Giáo Hội nhiều vấn đề nghiêm trọng về ảnh hưởng trong xã hội và sự sống còn. Đức HY Herranz cho rằng không có chuyện sống còn ở đây. Vì Chúa Kitô muốn Giáo Hội Người có tính công giáo, nghĩa là phổ quát, và Người từng sai Giáo Hội ra đi truyền giáo cho đến tận cùng lịch sử: “Bởi hế, các con hãy ra đi và biến mọi dân tộc thành môn đệ… và này, Ta ở cùng các con luôn mãi cho tới ngày tận thế” (Mt 28:18-20).

Ngay những người không có đức tin cũng nhìn nhận tính cách vững bền của Giáo Hội trước các thay đổi sâu xa về xã hội và văn hóa suốt hai ngàn năm lịch sử vừa qua. Các đế quốc, các chế độ cai trị, các đảng chính trị, các thời thượng và ý thức hệ đều qua đi nhưng Lời và Mình Thánh Chúa Kitô, Phép Thánh Thể, gốc rễ và tâm điểm sinh lực của Giáo Hội đã không qua đi và sẽ không qua đi.

Người ta có thể nói tới sự sa sút, tới việc mất dần các tín hữu và ảnh hưởng xã hội được chăng? Đức HY cho rằng có một số người, kể cả một số các nhà xã hội học và thần học Công Giáo quả quyết điều đó và đề nghị ra nhiều phương thuốc ít nhiều cấp tiến, đáng kể hay phi thường. Nhưng nhiều người hơn không nhất trí với cái nhìn ấy, cái nhìn về một “Giáo Hội đang thoái lui”. Phải coi quan điểm ấy bi quan và không được khách quan bao nhiêu.

Đức Hồng Y trích dẫn câu viết mới đây của Đức HY Carlo Martini, Dòng Tên, tổng giám mục hưu trí của Milan, một thần học gia thường không được coi là “bảo thủ”: “Giáo Hội đang sa sút ư? Tôi cho rằng lịch sử đã chứng tỏ rất rõ: Giáo Hội như một toàn thể chưa bao giờ lại nở hoa như hiện nay. Vì lần đầu tiên, Giáo Hội đã lan tràn khắp địa cầu, với các tín hữu thuộc mọi ngôn ngữ và văn hóa; Giáo Hội trình diễn hàng loạt các vị Giáo Hoàng ở trình độ cao và cả một đoàn ngũ đông đảo các thần học gia có giá trị lớn và trọng lượng văn hóa lớn”.

Cũng cần để ý sự kiện này: nhiều người chỉ chú trọng đến những miền đang bị khủng hoảng lớn trong thế giới Tây Phương. Nhưng ngoài việc các miền này đang khắc phục các khó khăn của họ ra, ta còn phải nói rằng cái nhìn bi quan kia “không tính gì tới sức sinh động và niềm vui tìm thấy nơi các giáo hội Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ Latinh” (Corriere della Sera, 27/12/2009).

Bản thân Đức HY Herranz thấy rằng nhiều thực tại mới đã xuất hiện trong lòng Giáo Hội suốt một thế kỷ qua, nhất là tại Âu Châu. Các thực tại này khác nhau về đoàn sủng và tổ chức nhưng tất cả đều dấn thân vào việc sinh động hóa các cộng đồng Kitô Giáo qua việc thực thi ơn gọi phổ quát phải nên thánh và làm việc tông đồ.

Về việc phát triển Kitô Giáo tại các lục địa khác, Đức Hồng Y Herranz muốn đề cập đến trường hợp điển hình của Việt Nam, nơi Giáo Hội đã sống thoát rất lâu nhiều chế độ bách hại. Năm nay, Giáo Hội ấy cử hành 350 năm phúc âm hóa. Hạt mù-tạt của Phúc Âm đã sinh hoa kết trái thành 26 giáo phận, 2,900 linh mục, 11,000 tu sĩ nam nữ và 8 triệu giáo dân. Hàng năm có tới 100,000 người được rửa tội và ơn gọi làm linh mục gia tăng đến 50% trong 5 năm vừa qua, con số chủng sinh hiện lên tới 1,500 người. Những dữ kiện tương tự cũng đang xẩy ra tại Phi Luật Tân, Đại Hàn và nhiều quốc gia Châu Phi.

(còn 1 kỳ)