Ta quen hướng lên các vị giáo hoàng để tìm sự hướng dẫn về thiêng liêng và thần học, nhưng một cuốn sách gần đây làm nổi bật sự quan trọng và tầm ảnh hưởng của tư tưởng Đức Bênêđíctô XVI về xã hội và chính trị. Chúng tôi muốn nói tới cuốn “Social and Political Thought of Benedict XVI" (Tư Tưởng Xã Hội và Chính Trị của Đức Bênêđíctô XVI) của Thomas R. Rourke. Trong cuốn sách này, tác giả phân tích thành tích của Đức Giáo Hoàng về các vấn đề trên cả trước lẫn sau khi ngài được bầu làm giáo hoàng. Rourke là giáo sư tại phân khoa khoa học chính trị tại Đại Học Clarion, Pennsylvania.
Tác giả cho rằng: dù được biết nhiều hơn như một thần học gia, Đức Bênêđíctô XVI cũng là một tư tưởng gia rất thâm thúy về chính trị, và các suy tư của ngài về xã hội đáng được người ta lưu ý nhiều hơn trước đây. Ông khởi đầu tác phẩm bằng cách xem sét nền tảng nhân học trong tư tưởng của Đức Bênêđíctô XVI. Trong cuốn sách của ngài "On the Way to Jesus Christ" (Trên Đường Tới Chúa Giêsu Kitô), viết lúc còn là Hồng Y Ratzinger, Đức Bênêđíctô XVI khảo sát sự khai triển của ý niệm con người. Kinh Thánh và tư duy Kitô Giáo đã góp phần làm cho quan điểm nguyên khởi của Hy Lạp về điều này thêm phong phú một cách đáng kể, nhất là về phương diện coi con người như một hữu thể có tính tương quan. Điều này dẫn tới nền linh đạo hiệp thông mà Rourke coi là gốc rễ cái hiểu của Đức Bênêđíctô XVI về học thuyết xã hội.
Như thế, trong cộng đồng các ngôi vị Thiên Chúa, ta khám phá ra gốc rễ thiêng liêng của cộng đồng nhân bản. Do đó, trong nhân học của Đức Giáo Hoàng, xem ra chúng ta không phải là các cá thể bước vào tương quan với người khác vào giây phút thứ hai. Đúng hơn, tương quan nằm ngay trong cốt lõi bản chất con người.
Cái tình anh em giữa các con người này đặt địa sở trên tình phụ tử của Thiên Chúa và từ căn bản, hết sức khác biệt với quan điểm thế tục về tình anh em, như tình anh em trong Cách Mạng Pháp chẳng hạn.
Thêm vào đó, còn có chiều kích sáng tạo nữa. Được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, sự sống con người đã được ban cho một phẩm giá không thể nào bị vi phạm, dẫn Đức Giáo Hoàng đến việc lên án cách giải thích đầy thực dụng về nhân tính của ta.
Chính trị
Rourke cho rằng: dù nền nhân học này xem ra có vẻ trừu tượng, nhưng nó chính là nền tảng cần thiết cho nền triết học chính trị. Cái nhìn của ta về điều sự sống chung của con người phải nên như thế nào nhất thiết phải tùy thuộc cái hiểu của ta về điều con người cũng như cộng đồng thực sự là.
Theo Rourke, Đức Bênêđíctô XVI coi chính trị học là việc làm của lý trí, nhưng là một lý trí được đức tin soi sáng. Thành thử ra, Kitô Giáo không định nghĩa học thuật chỉ như việc thu thập kiến thức, mà đòi cho nó được hướng dẫn bởi các giá trị nền tảng, như chân thiện mỹ.
Khi lý trí tách biệt khỏi cái hiểu rõ rệt về cùng đích sự sống con người, do Sáng Thế thiết lập và được khẳng nhận trong Mười Điều Răn, thì nó không còn điểm qui chiếu cố định nào để thực sự đưa ra các phán đoán về luân lý. Nếu điều ấy xẩy ra, chắc chắn nó sẽ mở toang cánh cửa cho chủ nghĩa duy hậu quả (consequentialism) là chủ nghĩa cho rằng chẳng có gì tự nó là tốt hay xấu mà phải căn cứ vào hậu quả của nó, một thứ chủ trương lấy cùng đích biện minh cho phương tiện.
Một trong những đường hướng tư duy đáng lưu ý trong các trước tác của Đức Hồng Y Ratzinger là việc phân chia giữa Giáo Hội và nhà nước. Trong Máccô 12:17, Chúa Giêsu cũng từng tách biệt hai thực thể này qua câu nói bất hủ: “Hãy trả cho Xêda những gì của Xêda và hãy trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa”. Điều này muốn nói rằng Kitô Giáo đã cáo chung ý niệm về một nhà nước thiên mệnh (divine state).
Trước khi có Kitô Giáo, sự kết hợp giữa Giáo Hội và nhà nước là thực hành thông thường và thời Cựu Ước, hai thực thể này còn hòa lẫn với nhau là đàng khác. Thực vậy, đó là nguyên nhân khiến Đế Quốc Rôma bách hại Kitô Giáo, vì tôn giáo này không chịu chấp nhận một quốc giáo.
Đức Hồng Y Ratzinger quả quyết rằng: việc Chúa Giêsu tách biệt hai thực thể này rất có lợi cho nhà nước, bởi nó không buộc phải sống đúng theo các hoài mong của một sự hoàn hảo thiên triều. Tầm nhìn mới này của Kitô Giáo đã khai sinh ra một chính trị học dựa trên lý trí.
Huyền thoại
Ngoài ra, ngài còn cho rằng khi trở lại với cái hiểu về chính trị trước thời Kitô Giáo là kết cục ta sẽ loại bỏ hẳn các giới hạn luân lý, như đã xẩy ra thời Đức Quốc Xã hay thời Cộng Sản. Vị giáo hoàng tương lai này cũng cảnh cáo rằng: trong thế giới ngày nay, hiểu tiến bộ, khoa học và tự do theo nghĩa huyền thoại sẽ đem lại nhiều nguy hiểm. Yếu tố chung trong các lối hiểu ấy là khuynh hướng phát triển một khoa chính trị học phi lý đặt việc mưu cầu quyền lực lên trên chân lý.
Trong tư cách một giáo hoàng, ngài lại lặp lại chủ đề này một lần nữa trong thông điệp thứ hai về hy vọng. Ngài cảnh giác rằng không nên lẫn lộn điều mà chúng ta, trong tư cách Kitô hữu, hy vọng có được với điều chúng ta có thể thực hiện được bằng hành động chính trị.
Trở lại với điều Đức Hồng Y Ratzinger viết trong cuốn “Church, Ecumenism, and Politics” (Giáo Hội, Đại Kết và Chính Trị), Rourke nhận xét thêm rằng: thời hiện đại, việc tách biệt Giáo Hội và nhà nước đã trở nên mù mờ hơn vì người ta đã giải thích nó như việc nhường toàn bộ quảng trường công cho nhà nước. Nếu ta chấp nhận điều ấy, thì nền dân chủ sẽ bị thu gọn chỉ còn là một mớ thủ tục, không bị bất cứ giá trị nền tảng nào giới hạn. Thay vào đó, vị giáo hoàng tương lai khẳng định nhu cầu phải có một hệ thống gía trị có thể trở lại với những nguyên tắc đệ nhất, như ngăn cấm không được hủy hoại những nhân mạng vô tội, hay phải đặt gia đình trên nền tảng một cuộc phối hợp vĩnh viễn giữa một người đàn ông và một người đàn bà.
Lương tâm
Trong nhiều chủ đề khác được Rourke khảo sát, ta thấy có vấn đề lương tâm. Thoạt nhìn, điều này xem ra chẳng ăn uống gì với các vấn đề xã hội và chính trị. Nhưng thực ra, nó đóng một vài trò chủ yếu.
Vì chính tại nghị trường bên trong của lương tâm, ta duy trì được các qui phạm nền tảng làm nền cho trật tự xã hội dựa vào. Nó cũng đặt giới hạn cho quyền lực của nhà nước, vì nhà nước không có thẩm quyền hợp pháp để vi phạm các qui phạm này. Như thế, chính lương tâm là gốc rễ cho một chính phủ có giới hạn.
Hủy diệt lương tâm là điều kiện tiên quyết của chủ nghĩa độc tài, toàn trị. Lúc còn là một tổng giám mục, Đức Cha Ratzinger, trong một giảng khóa vào năm 1972, đã nói rằng: “Nơi nào lương tâm thắng thế, nơi ấy có sự giới hạn đối với mệnh lệnh và lựa chọn nhân bản, một điều gì thánh thiêng cần phải tiếp tục bất khả xâm phạm, và vì tính độc lập tối hậu của nó, phải tránh được mọi kiểm soát bất kể đó là sự kiểm soát của người khác hay của chính nó”.
Rourke giải thích rằng khi nói thế, vị giáo hoàng tương lai không làm giảm đi điều vốn là những kiểm soát theo hiến định và định chế đối với quyền lực. Điều ngài nói có tính cách nền tảng hơn thế. Tức là: không định chế hay cơ cấu nào bảo vệ con người khỏi bất công khi những người cầm quyền lạm dụng quyền lực của mình. Trong tình thế ấy, chính quyền lực của lương tâm, do con người biểu dương, mới bảo vệ được xã hội.
Quyền lực đó tất nhiên phải nối kết với đức tin, vốn là thày dạy tối hậu của lương tâm. Đức tin trở thành một lực lượng chính trị y như Chúa Giêsu vậy, bằng cách trở thành nhân chứng cho chân lý trong lương tâm. Khi tóm tắt giảng khóa năm 1972 của Đức TGM Ratziner, Rourke giải thích rằng như thế, quyền lực của lương tâm phải tìm thấy trong đau khổ; nó chính là quyền lực của Thánh Giá”. Theo Đức Tổng Giám Mục Ratzinger: “Kitô giáo khởi đầu không phải với nhà cách mạng mà với người tử đạo”.
Liên tục
Nghiên cứu của Rourke có một phụ lục để khảo sát thông điệp mới nhất của Đức Bênêđíctô XVI về các vấn đề xã hội “Đức Ái trong Sự Thật”. Dù thông điệp chỉ được công bố khi Rourke gần hoàn tất cuốn sách của mình, ông vẫn ghi nhận rằng Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI luôn nhất quán với các chủ đề của ngài trong các trước tác trước đó.
Rourke cho rằng phần dẫn nhập của thông điệp cho thấy rõ điều ấy, bằng cách nối kết chân lý với bác ái và ý niệm cho rằng có một chân lý khách quan, trái với chủ nghĩa duy tương đối. Rourke nhận định rằng thông điệp kết thúc với việc Đức Giáo Hoàng quả quyết như đã từng quả quyết rằng điều gì thực sự nhân bản đều phát sinh từ Chúa Kitô và chính Chúa Kitô dẫn chúng ta tới việc khám phá ra tính viên mãn của tính người trong chúng ta. Chủ nghĩa nhân bản Kitô Giáo này là điều được Đức Bênêđíctô XVI coi là đóng góp lớn nhất của chúng ta cho phát triển. Một mục tiêu đầy thúc đẩy và gợi hứng này đáng chúng ta cố gắng đạt cho bằng được.
Tác giả cho rằng: dù được biết nhiều hơn như một thần học gia, Đức Bênêđíctô XVI cũng là một tư tưởng gia rất thâm thúy về chính trị, và các suy tư của ngài về xã hội đáng được người ta lưu ý nhiều hơn trước đây. Ông khởi đầu tác phẩm bằng cách xem sét nền tảng nhân học trong tư tưởng của Đức Bênêđíctô XVI. Trong cuốn sách của ngài "On the Way to Jesus Christ" (Trên Đường Tới Chúa Giêsu Kitô), viết lúc còn là Hồng Y Ratzinger, Đức Bênêđíctô XVI khảo sát sự khai triển của ý niệm con người. Kinh Thánh và tư duy Kitô Giáo đã góp phần làm cho quan điểm nguyên khởi của Hy Lạp về điều này thêm phong phú một cách đáng kể, nhất là về phương diện coi con người như một hữu thể có tính tương quan. Điều này dẫn tới nền linh đạo hiệp thông mà Rourke coi là gốc rễ cái hiểu của Đức Bênêđíctô XVI về học thuyết xã hội.
Như thế, trong cộng đồng các ngôi vị Thiên Chúa, ta khám phá ra gốc rễ thiêng liêng của cộng đồng nhân bản. Do đó, trong nhân học của Đức Giáo Hoàng, xem ra chúng ta không phải là các cá thể bước vào tương quan với người khác vào giây phút thứ hai. Đúng hơn, tương quan nằm ngay trong cốt lõi bản chất con người.
Cái tình anh em giữa các con người này đặt địa sở trên tình phụ tử của Thiên Chúa và từ căn bản, hết sức khác biệt với quan điểm thế tục về tình anh em, như tình anh em trong Cách Mạng Pháp chẳng hạn.
Thêm vào đó, còn có chiều kích sáng tạo nữa. Được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, sự sống con người đã được ban cho một phẩm giá không thể nào bị vi phạm, dẫn Đức Giáo Hoàng đến việc lên án cách giải thích đầy thực dụng về nhân tính của ta.
Chính trị
Rourke cho rằng: dù nền nhân học này xem ra có vẻ trừu tượng, nhưng nó chính là nền tảng cần thiết cho nền triết học chính trị. Cái nhìn của ta về điều sự sống chung của con người phải nên như thế nào nhất thiết phải tùy thuộc cái hiểu của ta về điều con người cũng như cộng đồng thực sự là.
Theo Rourke, Đức Bênêđíctô XVI coi chính trị học là việc làm của lý trí, nhưng là một lý trí được đức tin soi sáng. Thành thử ra, Kitô Giáo không định nghĩa học thuật chỉ như việc thu thập kiến thức, mà đòi cho nó được hướng dẫn bởi các giá trị nền tảng, như chân thiện mỹ.
Khi lý trí tách biệt khỏi cái hiểu rõ rệt về cùng đích sự sống con người, do Sáng Thế thiết lập và được khẳng nhận trong Mười Điều Răn, thì nó không còn điểm qui chiếu cố định nào để thực sự đưa ra các phán đoán về luân lý. Nếu điều ấy xẩy ra, chắc chắn nó sẽ mở toang cánh cửa cho chủ nghĩa duy hậu quả (consequentialism) là chủ nghĩa cho rằng chẳng có gì tự nó là tốt hay xấu mà phải căn cứ vào hậu quả của nó, một thứ chủ trương lấy cùng đích biện minh cho phương tiện.
Một trong những đường hướng tư duy đáng lưu ý trong các trước tác của Đức Hồng Y Ratzinger là việc phân chia giữa Giáo Hội và nhà nước. Trong Máccô 12:17, Chúa Giêsu cũng từng tách biệt hai thực thể này qua câu nói bất hủ: “Hãy trả cho Xêda những gì của Xêda và hãy trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa”. Điều này muốn nói rằng Kitô Giáo đã cáo chung ý niệm về một nhà nước thiên mệnh (divine state).
Trước khi có Kitô Giáo, sự kết hợp giữa Giáo Hội và nhà nước là thực hành thông thường và thời Cựu Ước, hai thực thể này còn hòa lẫn với nhau là đàng khác. Thực vậy, đó là nguyên nhân khiến Đế Quốc Rôma bách hại Kitô Giáo, vì tôn giáo này không chịu chấp nhận một quốc giáo.
Đức Hồng Y Ratzinger quả quyết rằng: việc Chúa Giêsu tách biệt hai thực thể này rất có lợi cho nhà nước, bởi nó không buộc phải sống đúng theo các hoài mong của một sự hoàn hảo thiên triều. Tầm nhìn mới này của Kitô Giáo đã khai sinh ra một chính trị học dựa trên lý trí.
Huyền thoại
Ngoài ra, ngài còn cho rằng khi trở lại với cái hiểu về chính trị trước thời Kitô Giáo là kết cục ta sẽ loại bỏ hẳn các giới hạn luân lý, như đã xẩy ra thời Đức Quốc Xã hay thời Cộng Sản. Vị giáo hoàng tương lai này cũng cảnh cáo rằng: trong thế giới ngày nay, hiểu tiến bộ, khoa học và tự do theo nghĩa huyền thoại sẽ đem lại nhiều nguy hiểm. Yếu tố chung trong các lối hiểu ấy là khuynh hướng phát triển một khoa chính trị học phi lý đặt việc mưu cầu quyền lực lên trên chân lý.
Trong tư cách một giáo hoàng, ngài lại lặp lại chủ đề này một lần nữa trong thông điệp thứ hai về hy vọng. Ngài cảnh giác rằng không nên lẫn lộn điều mà chúng ta, trong tư cách Kitô hữu, hy vọng có được với điều chúng ta có thể thực hiện được bằng hành động chính trị.
Trở lại với điều Đức Hồng Y Ratzinger viết trong cuốn “Church, Ecumenism, and Politics” (Giáo Hội, Đại Kết và Chính Trị), Rourke nhận xét thêm rằng: thời hiện đại, việc tách biệt Giáo Hội và nhà nước đã trở nên mù mờ hơn vì người ta đã giải thích nó như việc nhường toàn bộ quảng trường công cho nhà nước. Nếu ta chấp nhận điều ấy, thì nền dân chủ sẽ bị thu gọn chỉ còn là một mớ thủ tục, không bị bất cứ giá trị nền tảng nào giới hạn. Thay vào đó, vị giáo hoàng tương lai khẳng định nhu cầu phải có một hệ thống gía trị có thể trở lại với những nguyên tắc đệ nhất, như ngăn cấm không được hủy hoại những nhân mạng vô tội, hay phải đặt gia đình trên nền tảng một cuộc phối hợp vĩnh viễn giữa một người đàn ông và một người đàn bà.
Lương tâm
Trong nhiều chủ đề khác được Rourke khảo sát, ta thấy có vấn đề lương tâm. Thoạt nhìn, điều này xem ra chẳng ăn uống gì với các vấn đề xã hội và chính trị. Nhưng thực ra, nó đóng một vài trò chủ yếu.
Vì chính tại nghị trường bên trong của lương tâm, ta duy trì được các qui phạm nền tảng làm nền cho trật tự xã hội dựa vào. Nó cũng đặt giới hạn cho quyền lực của nhà nước, vì nhà nước không có thẩm quyền hợp pháp để vi phạm các qui phạm này. Như thế, chính lương tâm là gốc rễ cho một chính phủ có giới hạn.
Hủy diệt lương tâm là điều kiện tiên quyết của chủ nghĩa độc tài, toàn trị. Lúc còn là một tổng giám mục, Đức Cha Ratzinger, trong một giảng khóa vào năm 1972, đã nói rằng: “Nơi nào lương tâm thắng thế, nơi ấy có sự giới hạn đối với mệnh lệnh và lựa chọn nhân bản, một điều gì thánh thiêng cần phải tiếp tục bất khả xâm phạm, và vì tính độc lập tối hậu của nó, phải tránh được mọi kiểm soát bất kể đó là sự kiểm soát của người khác hay của chính nó”.
Rourke giải thích rằng khi nói thế, vị giáo hoàng tương lai không làm giảm đi điều vốn là những kiểm soát theo hiến định và định chế đối với quyền lực. Điều ngài nói có tính cách nền tảng hơn thế. Tức là: không định chế hay cơ cấu nào bảo vệ con người khỏi bất công khi những người cầm quyền lạm dụng quyền lực của mình. Trong tình thế ấy, chính quyền lực của lương tâm, do con người biểu dương, mới bảo vệ được xã hội.
Quyền lực đó tất nhiên phải nối kết với đức tin, vốn là thày dạy tối hậu của lương tâm. Đức tin trở thành một lực lượng chính trị y như Chúa Giêsu vậy, bằng cách trở thành nhân chứng cho chân lý trong lương tâm. Khi tóm tắt giảng khóa năm 1972 của Đức TGM Ratziner, Rourke giải thích rằng như thế, quyền lực của lương tâm phải tìm thấy trong đau khổ; nó chính là quyền lực của Thánh Giá”. Theo Đức Tổng Giám Mục Ratzinger: “Kitô giáo khởi đầu không phải với nhà cách mạng mà với người tử đạo”.
Liên tục
Nghiên cứu của Rourke có một phụ lục để khảo sát thông điệp mới nhất của Đức Bênêđíctô XVI về các vấn đề xã hội “Đức Ái trong Sự Thật”. Dù thông điệp chỉ được công bố khi Rourke gần hoàn tất cuốn sách của mình, ông vẫn ghi nhận rằng Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI luôn nhất quán với các chủ đề của ngài trong các trước tác trước đó.
Rourke cho rằng phần dẫn nhập của thông điệp cho thấy rõ điều ấy, bằng cách nối kết chân lý với bác ái và ý niệm cho rằng có một chân lý khách quan, trái với chủ nghĩa duy tương đối. Rourke nhận định rằng thông điệp kết thúc với việc Đức Giáo Hoàng quả quyết như đã từng quả quyết rằng điều gì thực sự nhân bản đều phát sinh từ Chúa Kitô và chính Chúa Kitô dẫn chúng ta tới việc khám phá ra tính viên mãn của tính người trong chúng ta. Chủ nghĩa nhân bản Kitô Giáo này là điều được Đức Bênêđíctô XVI coi là đóng góp lớn nhất của chúng ta cho phát triển. Một mục tiêu đầy thúc đẩy và gợi hứng này đáng chúng ta cố gắng đạt cho bằng được.