Ngày 25 tháng Giêng vừa qua, nhân dịp kỷ niệm sinh nhật thứ 470 của Thánh Edmund Campion, tạp chí America của các cha Dòng Tên Mỹ đã trao tặng Tiến Sĩ Rowan Williams, tổng giám mục Canterbury (Anh Giáo), Huy Chương Campion năm 2009 vì các thành tựu vĩ đại của vị giáo chủ này trong lãnh vực văn học Kitô Giáo. Vị tổng giám mục này được vinh danh vì các trước tác của ngài trong địa hạt thần học, hộ giáo, phê bình văn học và văn hóa, thi ca và dịch thuật. Trong lời giới thiệu, linh mục Drew Christiansen, S.J., chủ bút tờ America, đã ghi nhận rằng các trước tác của tổng giám mục Williams “đã nâng cao khả năng tiếp thu siêu việt của người đọc, mở cửa tâm trí họ đón nhận mạc khải và chẩn đoán các tật bệnh thiêng liêng đang làm què quặt nền văn hóa hậu Kitô Giáo của ta”.

Theo cha Christiansen, vinh danh một vị giáo chủ hàng đầu của Anh Giáo bằng một huy chương mang tên vị tử đạo Dòng Tên của Phong Trào Cải Cách Anh Giáo là một hành vi “đại kết tử đạo” (martyrial ecumenism) theo tinh thần của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Đối với vị giáo hoàng này, chứng tá Kitô Giáo của các vị tử đạo Thệ Phản và Công Giáo chỉ cho ta thấy “con đường dẫn tới hợp nhất”. Trong đáp từ tiếp nhận huy chương, tổng giám mục Williams nhận định rằng: “tử đạo là khẳng định một chứng tá sâu sắc về chiều sâu của khả thể nhân bản đối diện với điều, trong nhiều hoàn cảnh, xem ra chỉ là một tội ác khôn lường”. Tổng giám mục, sau đó, cho rằng tha thứ, hòa giải và hy vọng là “sự đóng góp thích đáng của Kitô hữu vào văn hóa, chính trị và đại kết”. Dưới đây là nguyên văn lời phát biểu của TGM Williams:

“Đối với tôi, hiện diện ở đây hôm nay là một niềm sảng khoái lớn lao và là một vinh dự hoàn toàn bất ngờ; và do đó, bổn phận đầu tiên của tôi là từ trái tim, xin hết sức nhiệt thành cám ơn tạp chí America, cám ơn các tu sĩ Dòng Tên, cám ơn toàn thể qúy vị đang hoan nghinh tôi tại đây. Cám ơn qúy vị về hành vi đầy đại lượng và tình đồng đạo đại kết này.

Hẳn qúy vị đã từng nghe nói tới hạn từ “đại kết tử đạo” và đối với tôi, điều nó muốn phát biểu là điều hoàn toàn chủ yếu đối với sự sống của Giáo Hội Kitô Giáo. Kể từ giây phút Thánh Phaolô nhận ra nơi Chúa Kitô khuôn mặt các nạn nhân của mình, thì điều ấy đã trở thành một chiều kích sâu sắc cho sự thánh thiện của Kitô Giáo: tức khả năng có thể đến với các anh chị em của mình trong thống hối và tiếp nhận ơn thánh Chúa chào đón từ những người ta từng xúc phạm hay loại trừ. Khi các giáo hội của chúng ta học cách cử hành một cách đầy đủ và hân hoan các vị tử đạo của nhau, như họ từng bắt đầu làm như hiện nay, thì cái giây phút trở lại của Thánh Phaolô quả đã sống lại vậy. Và vì hôm nay đúng là ngày lễ Thánh Phaolô Trở Lại, thiết nghĩ không còn gì thích đáng hơn cho tư duy ta bằng suy niệm điều đó.

Cách nay mấy năm, tôi có đi thăm Uganda và được đưa tới một thánh đường đồ sộ từng ghi dấu địa điểm tử hình của các vị tử đạo Công Giáo La Mã đầu tiên tại Uganda trong thế kỷ 19, vì bàn thờ tại đó được xây trên chính nơi các ngài bị thiêu sống. Tôi thăm nơi đó trong tư cách một người hành hương Anh Giáo, nhưng vì vội vàng, nên đã mặc cả phẩm phục giáo sĩ. Và khi một đoàn đông đảo các trẻ em Phi Châu kéo nhau vào nhà thờ, linh mục tại đó, người đã hướng dẫn tôi thăm đó đây, quay về phía tôi một cách thân tình và nói: ‘tôi hy vọng ngài sẽ nói với các em đôi lời’ (những lời mà nhiều giáo sĩ được dạy để mà phát khiếp!). Nhưng đối với tôi, đó quả là thời điểm của đại kết tử đạo. Quả là một hồng ân được cử hành ngay tại nơi chốn đáng ghi nhớ ấy các vị tử đạo của một giáo hội chị em, vì biết rằng Chúa Kitô chịu đóng đinh, mà vì Người, các vị tử đạo kia từng chịu chết, không phải là sở hữu của bất cứ định chế hay cộng đồng nào, mà là sở hữu của Thiên Chúa Cha và là của chung nhân loại.

Tu sĩ Dòng Tên và Thi Sĩ Avon (Shakespeare)

Edmund Campion vốn có một vai trò đặc biệt trong các quan tâm của tôi vì xưa nay tôi vẫn ám ảnh bởi lý thuyết cho rằng William Shakespeare, lúc còn trẻ, có sống ít tháng trong gia đình một nhà qúy tộc Công Giáo tại Lancashire và gia đình đó vốn được Edmund Campion năng lui tới viếng thăm trong cùng khoảng thời gian đó, nghĩa là giữa hai năm 1580 và 1581. Chúng ta biết rằng Campion quả có tới Lancashire và sống ít lâu tại Houghton Hall. Và chúng ta cũng biết rằng trong số các người giúp việc tại Houghton Hall có một thanh niên tên là William Shakeshafte. Các học giả thế kỷ 20 từng khai triển một lý thuyết cho rằng cậu thanh niên Shakespeare đã được chở tới miền bắc để học nghề quản lý trường học lúc sự hiện diện của cậu ở vùng Midlands gây rắc rối vì nhiều lý do. Tôi không biết điều ấy có thực hay không và dĩ nhiên điều rõ ràng là không một ai trong chúng ta biết chắc điều đó. Nhưng nhiều lần tôi đã thử tưởng tượng ra cuộc đàm thoại có thể có giữa chàng tuổi trẻ Shakespeare và tu sĩ Dòng Tên trung niên này trên đường ông đi chịu chết vì đạo.

Shakespeare là một người luôn muốn khẳng định với thế giới rằng trong nhân tính, có một cái gì đó còn hơn là người ta vốn nghĩ. Vua Lear từng đặt câu hỏi: “Phải chăng con người không có gì ngoài cái đó?”. Quan điểm đầy trí tưởng tượng của Shakespeare dĩ nhiên là câu trả lời phủ định cho câu hỏi đó. Nhân tính không bao giờ chỉ là điều này hay điều nọ. Nhân tính có nhiều khả thể, do ơn thánh thúc đẩy và lên khuôn, và những khả thể ấy bất tận, khôn lường, đầy mầu nhiệm và đáng sợ, cả tốt lẫn xấu. Một điều ta không bao giờ có thể nói về nhân tính là giờ đây ta đã biết hết những điều cần biết về nó.

Tôi thích nghĩ rằng vị linh mục đang trên đường đi tử đạo kia có lẽ đã gieo một hạt giống nào đó ở đấy. Tử đạo là điều quá đáng, quá lạm và điên rồ. Tử đạo là một khẳng định sâu sắc về chiều sâu của khả thể nhân bản đối diện với điều, trong nhiều hoàn cảnh, xem ra chỉ là một tội ác khôn lường. Tử đạo khẳng định rằng có một cái gì đó đáng để ta chết cho. Nó là ơn thánh, là tình yêu, là lòng trắc ẩn vô bờ của Thiên Chúa. Nếu Shakespeare là một người Công Giáo La Mã, hẳn ông phải là một người Công Giáo La Mã rất tồi. Và nếu ông quả là một tín hữu Anh Giáo, thì hẳn ông cũng sẽ là một tín hữu Anh Giáo rất tồi! Tôi tin chắc rằng như nhiều người thuộc thời đại ấy, dù tốt bụng với ông mấy cũng thấy ông khá mơ hồ về hệ phái tôn giáo của mình. Ấy thế nhưng, một cái gì đó thuộc cái nhìn hết sức căn để, hết sức công giáo, hết sức chính thống, một cái gì đó thuộc tính khôn lường của ơn thánh tự trồi lên sâu sắc hơn cả cái hố thẳm của cuộc nổi loạn và sự ác của con người, vẫn bàng bạc trong các kịch bản của ông, ngày càng nhiều với tuổi đời.

Chính trong số các vở kịch cuối cùng của ông, ta nghe thấy tiếng kèn đồng Kitô Giáo kêu gọi “Tha thứ là ngôn từ cho mọi người”. Và điều ấy đưa ta trở về với đại kết tử đạo. Tử đạo là một hình thức của “quá trớn” Kitô Giáo, một khẳng định về phẩm giá và vinh quang, một khải huyền của vinh quang, có thể bộc lộ bằng khuôn mặt nhân bản. Nhưng tha thứ cũng thế. Một trình thuật có tính chức năng, giảm thiểu về các liên hệ nhân bản không bao giờ có khả năng đương đầu được với tha thứ, với ơn thánh căn để, với sáng tạo mới vốn là việc Thiên Chúa tái dựng sau khi con người phạm tội và thất bại.

Bởi thế, nếu trả lời cho câu hỏi “Phải chăng con người chỉ có thế?” rằng “Không, con người còn hơn thế nữa” thì khả năng tử đạo đơn thuần chỉ là một khía cạnh của khả năng bất tận biết cho mình đi, mà tha thứ tự nó là hình thức có sẵn trong từng người và trong mọi người chúng ta: nó là cái phạm vi bao la của khả năng tự cho đi, một hình ảnh của Thiên Chúa ở trong ta. Và khi chúng ta, trong tư cách tín hữu Kitô Giáo, biết cố gắng dấn thân vào xã hội quanh ta, vào văn hóa, chính trị, kinh tế thời ta, điều ta muốn thực hiện không đơn thuần chỉ là đặt trước nền văn hóa ấy các đề cương của chúng ta về Thiên Chúa. Nhưng là cho nền văn hóa ấy thấy chiều sâu các khả thể của con người: là nói với nền văn hóa ấy rằng nhân tính còn hơn điều này điều nọ; là nói với nó rằng cho mình đi trong cái chết và hy sinh là điều con người nhân bản có thể làm được; là nói với nó rằng tha thứ và hoà giải là điều con người nhân bản nào cũng làm được.

Cách nay mấy tháng, tôi có viếng thăm Nhật Bản, và để chuẩn bị cho chuyến viếng thăm ấy, tôi tìm đọc ít bài mà cố linh mục Pedro Arrupe từng viết về kinh nghiệm của ngài tại Nhật Bản lúc xẩy ra các vụ ném bom năm 1945. Trong lúc đọc như thế, tôi bắt đầu càng lúc càng hiểu sâu sắc hơn nhờ đâu một người được đào tạo trong truyền thống Dòng Tên như Campion đã có thể nhìn vào trái tim, vào hố thẳm của tội ác, mà vẫn thấy được phía bên kia. Đối diện với những phi nhân không bút nào tả xiết, Pedro Arrupe vẫn có khả năng làm chứng cho chủ nghĩa nhân bản, cho đỉnh cao hy vọng vốn là sự đóng góp thích đáng của Kitô hữu cho văn hóa, cho chính trị và cho đại kết.

Tôi tin rằng người nhận huy chương này lần đầu tiên chính là Jacques Maritain. Maritain, người theo tôi cũng là một ảnh hưởng vĩ đại về trí thức và tâm linh, từng viết cuốn sách thời danh tựa là Nhân Bản Thuyết Toàn Diện (Integral Humanism), và xem ra, cuối cùng đó chính là điều hiện ta đang suy tư về: nhân bản thuyết là toàn diện vì nó từ khước không chịu làm ngơ chiều sâu của khả thể nhân bản, dù là để phục vụ điều thiện hay điều ác; một nhân bản thuyết chỉ toàn diện khi biết nhìn ra khả năng của những con người nhân bản biết toàn diện hóa mình, biết tụ lại với nhau bằng tình yêu và tha thứ khôn lường của Thiên Chúa.

Bởi thế, khi hết lòng biết ơn và khiêm hạ chấp nhận huy chương cao qúy này, tôi muốn cùng với toàn thể qúy vị cử hành sự kiện này “tha thứ là ngôn từ cho mọi người”, sự kiện mọi người đàn ông và mọi người đàn bà đều không phải chỉ là điều này hay điều nọ, sự kiện trong trái tim ta Thiên Chúa đã đặt hình ảnh của Người, nghĩa là khả năng biết hoà giải và khả năng biết cho đi một cách hoàn toàn và triệt để. Chúng ta vốn yêu, vốn nhìn nhận và cử hành việc cho đi ấy, niềm cảm thương ấy, việc sẵn sàng chấp nhận rủi ro ấy nơi các thánh như Edmund Campion. Chúng ta cũng cử hành chúng trong những bậc thiên tài như William Shakespeare, hay Shakeshafte (1). Chúng ta cũng cử hành chúng trong cuộc đời nhiều người ta được diễm phúc quen biết, trong đó nhiều vị thuộc anh em Dòng Tên trong thời đại ta, dĩ nhiên, đều là người từng hiến mình nhiều cách cho cái nhìn trên. Và tôi xin kết thúc bằng cách bày tỏ niềm hy vọng bền bỉ và hàng ngày của tôi cũng như lời cầu nguyện để chúng ta mỗi ngày mỗi tìm ra phương thế, nhờ tinh thần đại kết tử đạo và nhiều tình đồng đạo khác, biết tụ hội với nhau để cùng cử hành hồng ân Thiên Chúa cũng như mục tiêu của Người trong khi ta mừng lễ các thánh của Người.

Ghi chú

(1) William Shakeshafte có phải là William Shakespeare hay không, xin xem

John Mortimer, "William Shakeshafte, international man of mystery", The Observer, Sunday 14 November 1999; và Robert Bearman, "Was William Shakespeare William Shakeshafte?", Shakespeare Quarterly - Volume 53, Number 1, Spring 2002, pp. 83-94