5. Người Di Dân Trở Thành Giáo Hội
Naomi Turner, trong cuốn Catholics In Australia, cho rằng từ thập niên 1870, người dân thường Úc Châu không muốn có thêm di dân nữa vì họ sợ những người này sẽ tràn ngập thị trường nhân công, lấy mất công ăn việc làm của người Úc và hạ thấp tiêu chuẩn sống. Sau Thế Chiến II, vì thấy mình quá gần với một Á Châu đông dân đầy đe dọa, người Úc đành phải mở cửa tiếp nhận số đông di dân, phần lớn đến từ Âu Châu… Trong số các di dân này, nhiều người là Công Giáo và họ tác động mạnh trên đạo Công Giáo có tính Ái Nhĩ Lan mà hầu hết người Công Giáo ở đây tin là căn bản cho Giáo Hội Công Giáo hoàn cầu. Số di dân được nhận vào Úc lên cao nhất vào thời kỳ 1969-1970 và xuống thấp nhất giữa các năm 1975 và 1976; từ đó, con số di dân lại chậm chạp gia tăng, nhưng con số di dân từ Âu Châu thì ít đi hẳn.
Các thay đổi trong thành phần học sinh tại các trường Công Giáo tại Sydney cho thấy nhiều thay đổi lớn trong thành phần dân số Công Giáo nói chung. Năm 1978, 36.9% tổng số học sinh có một hoặc cả hai cha mẹ là di dân và có hơn 18% học sinh nói một ngôn ngữ không phải là tiếng Anh tại nhà. Trong khi có đến hơn 100 đại diện sắc dân, số học sinh sinh tại Úc vẫn chiếm 62% và 27% khác đến từ 8 sắc dân chủ chốt sau đây: Ý, Libăng, Anh, Malta, Nam Tư, Ái Nhĩ Lan, Hy Lạp và Hòa Lan. Tuy nhiên tới năm 1989, các con số kia đã thay đổi đáng kể và con số học sinh từ nguồn không nói tiếng Anh chiếm đến 50.42%, trong đó phải kể đến các học sinh từ nguồn nói tiếng Tây Ban Nha và Á Châu như Phi Luật Tân, Trung Hoa và Việt Nam.
Cuộc Kiểm Tra Dân Số năm 1986 của Văn Phòng Thống Kê Úc cho thấy những con số người Công Giáo Úc sinh tại hải ngoại như sau:
Theo linh mục Adrian Pittarello, nếu kể cả con cái di dân sinh tại Úc nữa, thì tỷ lệ di dân Công Giáo tại Sydney lên tới gần 60%. Nên ngài kết luận: không thể kể họ như những người được thêm vào cho Giáo Hội ở đây mà thực ra họ đã trở thành Giáo Hội ở đây rồi… Tuy nhiên, cả hàng giáo sĩ lẫn hàng giáo dân gốc Úc hình như chưa ý thức được các thách đố do hoàn cảnh mới tạo nên.
Dù Vatican, với Tông Hiến Exsul Familia năm 1952, ra chỉ thị cho các giáo phận có người di dân phải thiết lập ra các giáo xứ di dân do các linh mục của người di dân đảm nhiệm hoặc ít nhất cũng là những chuẩn giáo xứ (quasi-parish) trong đó các tuyên úy di dân làm việc trong các khu vực đã qui định trước, song hành với các cha xứ trong tư cách đồng trách nhiệm săn sóc phần hồn cho các di dân, nhưng các chỉ thị này đã không được hàng giáo phẩm của Úc thi hành. Các ngài buộc người di dân phải vào khuôn phép các giáo xứ trong cả tổ chức lẫn việc sùng kính.
Phần lớn người giáo dân Úc không thích di dân nào không chịu đóng góp đầy đủ về phương diện tài chánh cho giáo xứ và trường nhà xứ. Tháng 8 năm 1972, Giám Đốc Văn Phòng Di Trú Công Giáo Sydney nhìn nhận rằng có rất ít liên lạc chuyên nghiệp hay nâng đỡ thân ái giữa các cha xứ địa phương và các cha tuyên úy di dân. Các tuyên úy này cảm thấy “các tổ chức giáo dân của giáo xứ đã không cố gắng đủ để làm người di dân cảm thấy dễ chịu trong giáo xứ”. Chính các cha xứ thấy người di dân như một yếu tố gây chia rẽ trong cộng đoàn giáo xứ, nên không muốn họ can thiệp vào các chương trình của giáo xứ. Người di dân vì thế cảm thấy mình chỉ như khách trọ, và do đó lại càng co cụm lại với nhau. Đến tận những năm 1990, linh mục Frank Mecham vẫn còn có thể tường thuật lại như sau: “Gần đây tôi khá buồn về nhận xét của một linh mục Úc gốc Ý lúc ấy đang mừng kỷ niệm 40 năm đời linh mục… Ngài tâm sự với tôi rằng với cái tên và gốc gác Ý, dù ngài từng theo học một trong các chủng viện của chúng ta, nhưng ngài cảm thấy không bao giờ được chấp nhận hoàn toàn nơi các giáo xứ ngài từng làm việc qua".
Thái độ của hàng giáo phẩm Úc buộc Vatican phải duyệt lại Tông Hiến Exsul Familia của mình qua tự sắc Pastoralis Migratorum năm 1969. Nhưng cho đến tận năm 1987, vẫn có lời chỉ trích cho rằng hàng giáo phẩm Úc chỉ giải thích cách hạn chế tối đa tự sắc này bằng cách không chịu ban cho các tuyên úy di dân tư cách pháp lý như các cha xứ địa phương. Điều ấy cho thấy hàng giáo phẩm Úc phần nào vẫn chỉ phản ảnh lại thái độ của xã hội Úc nói chung đòi người di dân phải đồng hóa (assimilated) vào quê hương mới.
Các di dân Công Giáo gốc Ý, mà phần lớn xuất thân từ vùng quê Miền Nam nước này, cảm thấy các nghi lễ tại nhà thờ Úc thiếu hẳn cái ấm áp và lôi cuốn nhân bản. Họ nhớ da diết nét chồng chéo lên nhau của những ngày lễ hội và ăn chay tại quê nhà, cũng như những hình thức sùng kính tôn thờ theo truyền thống của cái quê hương nay đã xa vời kia. Cái truyền thống Ái Nhĩ Lan từng tạo nên bản sắc Công Giáo Úc, đối với họ, chẳng ăn nhập vào đâu.
Adrian Pittarello đưa ra nhận định rằng: thực sự làm gì có niềm tin Ý hay niềm tin Ái Nhĩ Lan, chỉ có niềm tin Công Giáo mà thôi: bản sắc định chế dưới quyền lãnh đạo của Đức Giáo Hoàng chỉ là một; tổ chức các giáo xứ và các học thuyết do các linh mục dạy dỗ chỉ là một; Thánh Lễ và các Bí Tích như nhau hoàn toàn. Kinh sách và việc sùng kính cũng như nhau. Khác nhau chỉ là các yếu tố văn hóa xã hội mà thôi. Thành ra, “tôn giáo, trong yếu tính, là một gia tài văn hóa, và cũng giống như bất cứ tôn giáo nào khác, đức tin Công Giáo đã được tiếp nhận nhờ văn hóa, chứ không trực tiếp phú ban nhờ ơn Thánh Chúa”. Không lạ gì, một số hành vi và tác phong tôn giáo có một ý nghĩa và tầm quan trọng cao ở một lãnh vực xã hội nhất định nào đó lại mất đi hẳn cái ý nghĩa và tầm quan trọng ấy khi cái lãnh vực xã hội kia thay đổi.
6. Một Số Cộng Đoàn Di Dân Công Giáo Tiêu Biểu
A. Ba Lan: Di dân Ba Lan tới Úc theo hai đợt: ngay sau Thế Chiến II và cuối thập niên 1970, Năm 1986, có gần 48,000 người di dân Công Giáo Úc sinh tại Ba Lan, 8 tuyên úy Ba Lan. Các thánh Lễ Ba Lan được cử hành tại các nhà thờ Úc nhưng người Công Giáo Ba Lan xây nhà thờ riêng tại Sydney, Melbourne và Perth.
Năm 1957, một phụ nữ Ba Lan thắc mắc tại sao lại buộc các phụ nữ phải trùm đầu trong nhà thờ, một việc ở Ba Lan không hề có. Câu trả lời của linh mục tiến sĩ Leslie Rumble cho thấy thái độ chính thức của hàng giáo phẩm Úc thời đó. Ngài cho hay đây là một biện pháp kỷ luật mà nếu bất tuân sẽ phạm tội nhẹ. Những phong tục ngược lại có thể là do không chịu tuân giữ luật chung của Giáo Hội. Phụ nữ di dân buộc phải chấp nhận phong tục phù hợp với luật lệ và trật tự của Giáo Hội…”Bà sẽ không sai lầm khi chấp nhận các phong tục có sẵn hiện hành nơi người Công Giáo của xứ sở này” (Catholic Weekly, số ngày 2 tháng 5 năm 1957).
Nina Skoroszewski, một phụ nữ 70 tuổi, di dân Công Giáo từ Ba Lan nhận xét về buổi đầu khi mới tới Úc: “Mọi cấp bậc trong hàng giáo phẩm Úc đều có chung một thái độ với quảng đại quần chúng: phần lớn đó là ngờ vực những người họ cho là khác biệt và xa lạ. Hàng giáo phẩm Úc ủng hộ chính sách đồng hóa của chính phủ dựa trên giả thiết cho rằng những người mới đến phải nhanh chóng thành thạo tiếng Anh, vứt bỏ quá khứ và tiếp nhận lối sống mới của xứ sở mới, và không được đòi hỏi bất cứ trợ giúp nào để thực hiện các việc ấy. Nhìn nhận bất cứ nhu cầu đặc biệt nào của họ chỉ là làm chậm trễ diễn trình trên. Tại bình diện giáo xứ, linh mục và giáo dân Công Giáo cho rằng chỉ có một cách phát biểu đức tin của mình và tình yêu của Chúa. Cách đó là cách của người Úc, cách mà người mới tới phải tuân theo. Họ quên sự kiện này là ở trong các xứ Công Giáo lớn, Giáo Hội và giáo huấn của Giáo Hội đã trở thành một phần trong nền văn hóa của họ, trong đó các truyền thống hàng thế kỷ đã hòa nhập vào các lễ nghi của Giáo Hội và hết sức gần gũi với tâm hồn dân chúng và sinh hoạt cộng đồng…Đối với nhiều người Ba Lan, các lễ nghi của Giáo Hội Úc xem ra lạnh lùng, thiếu hẳn tinh thần cộng đoàn và xa lìa kinh nghiệm nhân bản…
Trước thời Cộng Sản, ở Ba Lan sinh hoạt tôn giáo là sinh hoạt của cả nước, cả Tổng Thống cũng tham dự những cuộc Rước Kiệu Mình Thánh Chúa trên các đường phố… “Người Ba Lan rất lấy làm lạ khi thấy khuôn mặt Giáo Hội tại Úc ít có trong đời sống công ở đây”. Người Công Giáo Ba Lan, dưới chế độ Cộng Sản, thường chạy tới với Giáo Hội để được chở che và hướng dẫn cả trong phạm vi nhân bản và Giáo Hội không làm họ thất vọng. Ở Úc, hình như họ chỉ tiếp xúc với các linh mục Úc để dự thánh lễ! Và tìm gặp các tuyên úy Ba Lan để tham dự các sinh hoạt khác có tính tôn giáo xã hội hơn…
Krystyna Scislowski, một phụ nữ khác, 32 tuổi, đến Úc năm 1980 cùng với chồng. Theo cô, tại Ba Lan nhà thờ luôn luôn chật người, tại Úc, trái lại ghế trống nhiều quá. Tại Ba Lan, người ta đi tham dự thánh lễ với áo quần tươm tất nhất và chỉ rước lễ sau khi đã xưng tội. Cô rất ngỡ ngàng khi thấy tại Úc, ai cũng lên rước lễ cả, dù chả thấy xưng tội chi hết!
B. Nam Mỹ: Thống kê 1986 cho thấy có 47,232 người công giáo di dân đến từ Nam Mỹ, phần lớn nói tiếng Tây Ban Nha.
Cặp vợ chồng người Chilê Georgina và Clemente, đến Úc năm 1980 với ba con nhỏ, thấy người công giáo Úc không thân thiện mấy. Như muốn treo một số biển ngữ bằng tiếng Tây Ban Nha ở bàn thờ nhân ngày Giáng Sinh nhưng người công giáo Úc không cho. Họ bảo Clemente: “đừng quên các anh là khách tại Úc”. Clemente giận, nói lại “tôi không phải là khách trong chính Giáo Hội của tôi”. Theo Clemente, Giáo Hội phải là một cộng đoàn chia sẻ chứ không phải là một toà nhà. Người Úc hình như không muốn nghĩ như thế.
Christina bỏ Uruguay qua Úc năm 1978 cùng với chồng và 3 con. Sáu năm sau, chồng bà qua đời. Vốn là 1 giáo lý viên, bà tiếp tục công việc ấy khi đến Úc, giúp các trẻ nói tiếng Tây Ban Nha chuẩn bị lãnh nhận bí tích Thánh Thể và Thêm Sức. Các linh mục ở ba khu vực ngoại ô cấm Christina không được trang hoàng nhà thờ với các kiểu trang trí Tây Ban Nha, dù là trong các dịp đặc biệt. “Các ngài nói với tôi rằng đó không phải là nhà thờ của chúng tôi. Nhưng tôi thiết nghĩ vì chúng ta hết thẩy đều chia sẻ một Hiệp Lễ, thì ta nên chia sẻ cả những điều khác nữa mới đúng chứ… Người Công Giáo Úc không nhận chúng tôi như thành viên của họ. Chúng tôi tham dự Thánh Lễ Thứ Năm Tuần Thánh với người Công Giáo Úc, nhưng họ không tự động tỏ dấu bình an với chúng tôi. Họ nhận dấu bình an của chúng tôi, nhưng không khởi sự tỏ dấu hiệu ấy trước tiên. Dù chúng tôi lắng nghe cùng một Phúc Âm và chia sẻ cùng một Hiệp Lễ. Tôi không thể nào hiểu nổi thái độ của họ”.
C. Người Croatia: Năm 1986, có tất cả 60,000 di dân Công Giáo Úc sinh tại Croatia. Họ giống người Ba Lan ở cả ba điểm: Công Giáo, tinh thần quốc gia và chống Cộng. Họ không thích khi thấy các linh mục gốc Úc đòi họ phải hòa nhập vào cộng đồng địa phương.
Marica lên 13 lúc đến Úc năm 1965. Bà nhận xét “Tôi thấy Giáo Hội tại Úc quá dễ dãi và hết sức ngỡ ngàng về cách một số người ăn vận lúc tham dự Thánh Lễ”.
Nada, 40 tuổi, đến Úc năm 1971 cùng với chồng. Bà cho hay: “Bước vào một nhà thờ Công Giáo ở Croatia, tôi cảm thấy một bầu không khí bình an và không có tiếng nói chuyện làm tôi chia trí. Mọi sự đều trang trọng. Người ta ăn vận quần áo đẹp nhất và tỏ lòng kính trọng các linh mục hết mực… Trái lại khi viếng một nhà thờ Úc, ít khi tôi cảm thấy mình đang ở trong nhà thờ: kiểu nhà thờ đã khác, người ta lại nói chuyện ồn ào. Một số người còn mang cả dép quai vào nhà thờ nữa”.
D. Người Việt: Khó mà nói con số chính xác người Việt ở Úc. Nhưng Thống Kê năm 1986 cho biết có 16,000 di dân sinh tại Việt Nam; khoảng 1/3 số ấy là người Công Giáo. Như thế, nếu tỷ lệ kia vẫn còn giá trị, thì hiện nay con số người Việt Nam Công Giáo tại Úc phải vào khoảng trên dưới 40,000 người.
Kim sinh tại Bắc Việt Nam năm 1950, di cư vào Nam, rồi cùng chồng và 2 đứa cháu trốn khỏi Việt Nam năm 1980 qua Indonesia, và từ đó qua Úc định cư năm 1981. Bà cho hay: “Ở Việt Nam đi lễ hàng ngày là chuyện dễ thực hiện vì nhà thờ khá nhiều, cách nhau chừng 2 cây số, và rất gần với dân chúng. Thường có ba linh mục chăm sóc cho khoảng 5 ngàn giáo dân. Trong nhà thờ, đàn ông ngồi một bên, đàn bà ngồi một bên, con nít thì ngồi phía trên, được các thiện nguyên viên canh chừng để cha mẹ chúng có thể dễ dàng cầu nguyện hơn. Giáo dân cầu nguyện trước và sau Thánh Lễ, nên họ có mặt trong nhà thờ ít ra cũng 1 tiếng rưỡi. Bàn thờ được trang trí nhiều hơn ở Úc. Ít người Úc chịu đi nhà thờ, nên các nhà thờ Úc đối với chúng tôi xem ra trống vắng và lạnh lẽo. Nhiều người Công Giáo Việt Nam thoạt đầu đi nhà thờ Anh Giáo vì họ thấy các nhà thờ ấy chẳng khác nào các nhà thờ Công Giáo. Không người Công Giáo Úc nào tới giúp chúng tôi khi chúng tôi đến đây nhưng bây giờ chúng tôi thấy mình đã được chấp nhận”.
Mạnh đến Úc năm 1980, nay vào tuổi trên 30. Anh nhận xét: “Tôi thích đi lễ Chúa Nhật do linh mục người Việt cử hành vì tôi thích các phong tục Việt Nam được bảo tồn trong Thánh Lễ. Thí dụ, chúng tôi dùng các lư hương được trang trí bằng các hình thù Việt Nam và các thẻ hương. Và tôi muốn các con tôi biết nhiều kinh hơn là chỉ biết Kinh Lạy Cha và Kinh Kính Mừng. Người Việt thường đọc kinh trước và sau Thánh Lễ. Tôi muốn các con tôi tỏ ra cung kính trong nhà thờ nhiều hơn các trẻ người Úc. Tôi muốn chúng duy trì phần nào nền văn hóa Việt Nam”.
E. Người Ý: Theo thống kê năm 1986, có 261,879 người sinh tại Ý ở Úc, trong đó hết 238,017 tự cho mình là Công Giáo. Dù số đông như thế, nhưng vì thiếu thống nhất, nên họ không gây được nhiều ảnh hưởng đối với Giáo Hội Công Giáo tại đây. Sở dĩ như thế là vì phần lớn họ xuất thân từ những làng quê biệt lập, nên thích đồng hóa mình với những làng quê ấy chứ không với nước Ý nói chung. Hơn nữa, giữa người Ý miền Bắc và người Ý miền Nam, có khác biệt về văn hóa. Lý do thiếu thống nhất nữa là vì con cái di dân Ý thường thích đồng hóa mình với bạn bè người Úc hơn.
Nói chung, di dân Ý thấy khó hòa mình và đóng góp cho các giáo xứ Úc. Lý do thông thường nhất là ngôn ngữ. Hơn nữa, phần lớn họ không được học nhiều lúc còn ở quê nhà.
Chính vì thế, các tuyên úy Ý hay nhấn mạnh đến hình thức tổ chức mục vụ sao cho phù hợp với nhu cầu di dân Ý. Họ đề nghị hình thức mục vụ miền, giống như hình thức của Exsul Familia, vì hình thức giáo xứ quá nặng yếu tố lãnh thổ, một yếu tố không thích hợp với người Ý tại Úc. Chính vì lẽ đó, ít người Công Giáo Ý tại Úc chịu đi lễ Chúa Nhật tại các nhà thờ Úc.
Pittarello cho hay: “Đối với người Ý, thiên hướng nội tâm không đủ… Cả con người phải biểu lộ thái độ tôn giáo… Đối với người Úc… thờ phượng là một trong nhiều điều người ta phải làm, và việc ấy có thể làm được mà không cần phải can thiệp vào các sinh hoạt khác… Ở Úc, tôn giáo không có tính bàng bạc (pervasive) như ở Ý, nhưng nó đã đạt tới một mức độ “nội tâm hóa” hơn là ở nước kia… Người Công Giáo ở Úc, dù tụ tập với nhau để thờ phượng công khai, vẫn nhấn mạnh đến lối cầu nguyện riêng tư… khi người ta đi nhà thờ ở Ý… cả cộng đoàn thờ phượng, chứ không phải các cá nhân.
Ngày nay, tình thế đã ra khác nhiều lắm. Sự đóng góp của người di dân Công Giáo vào xã hội và giáo hội Úc về mọi phương diện, kể cả lối sống đạo đặc thù của họ, càng ngày càng được đánh giá cao. Riêng người Công Giáo Việt Nam càng ngày càng có nhiều đóng góp nhân sự hơn cho Giáo Hội ở vùng đất này. Không ai có thể phủ nhận sự đóng góp to lớn của họ. Ảnh hưởng Công Giáo Ái Nhĩ Lan đương nhiên vẫn còn đó, nhưng dần đã mất đi tính độc chiếm và cũng như diễn trình đối thoại đang rầm rộ khai mở ở mọi ngả đường trong Giáo Hội hoàn cầu, đối thoại không riêng với các hệ phái Kitô Giáo khác, mà còn cả với các tôn giáo hoàn cầu khác, và nhất là với các nền văn hóa khác nhau của nhân loại, người ta có quyền kỳ vọng nhìn về tương lai để thấy một Giáo Hội Úc với rất nhiều sắc thái khác nhau nhưng vẫn là một Giáo Hội Công Giáo, Duy Nhất, Thánh Thiện và Tông Truyền.
Tài liệu
1. Mechem, Rev. F., The Church And Migrants, 1946-1987, St Joan Of Arc Press, 1991
2. Pittarello, A. ‘Multiculturalism and the Catholic Church’, CCJP Occasional Papers, no.8, 1986.
3. Naomi Turner, Catholics In Australia, CollinsDove, Melbourne 1992, Vol 2.
Naomi Turner, trong cuốn Catholics In Australia, cho rằng từ thập niên 1870, người dân thường Úc Châu không muốn có thêm di dân nữa vì họ sợ những người này sẽ tràn ngập thị trường nhân công, lấy mất công ăn việc làm của người Úc và hạ thấp tiêu chuẩn sống. Sau Thế Chiến II, vì thấy mình quá gần với một Á Châu đông dân đầy đe dọa, người Úc đành phải mở cửa tiếp nhận số đông di dân, phần lớn đến từ Âu Châu… Trong số các di dân này, nhiều người là Công Giáo và họ tác động mạnh trên đạo Công Giáo có tính Ái Nhĩ Lan mà hầu hết người Công Giáo ở đây tin là căn bản cho Giáo Hội Công Giáo hoàn cầu. Số di dân được nhận vào Úc lên cao nhất vào thời kỳ 1969-1970 và xuống thấp nhất giữa các năm 1975 và 1976; từ đó, con số di dân lại chậm chạp gia tăng, nhưng con số di dân từ Âu Châu thì ít đi hẳn.
Các thay đổi trong thành phần học sinh tại các trường Công Giáo tại Sydney cho thấy nhiều thay đổi lớn trong thành phần dân số Công Giáo nói chung. Năm 1978, 36.9% tổng số học sinh có một hoặc cả hai cha mẹ là di dân và có hơn 18% học sinh nói một ngôn ngữ không phải là tiếng Anh tại nhà. Trong khi có đến hơn 100 đại diện sắc dân, số học sinh sinh tại Úc vẫn chiếm 62% và 27% khác đến từ 8 sắc dân chủ chốt sau đây: Ý, Libăng, Anh, Malta, Nam Tư, Ái Nhĩ Lan, Hy Lạp và Hòa Lan. Tuy nhiên tới năm 1989, các con số kia đã thay đổi đáng kể và con số học sinh từ nguồn không nói tiếng Anh chiếm đến 50.42%, trong đó phải kể đến các học sinh từ nguồn nói tiếng Tây Ban Nha và Á Châu như Phi Luật Tân, Trung Hoa và Việt Nam.
Cuộc Kiểm Tra Dân Số năm 1986 của Văn Phòng Thống Kê Úc cho thấy những con số người Công Giáo Úc sinh tại hải ngoại như sau:
| Nơi Sinh | Dân Số Công Giáo | Phần Trăm |
| Úc | 3,066,801 | 75.45 |
| Tân Tây Lan | 31,005 | 0.76 |
| Đại Dương Châu | 5,943 | 0.15 |
| Ái Nhĩ Lan | 30,421 | 0.75 |
| Vương Quốc Anh | 17,704 | 0.44 |
| Hy Lạp | 759 | 0.02 |
| Ý | 238,017 | 5.86 |
| Li Băng | 21,430 | 0.53 |
| Malta | 50,789 | 1.25 |
| Hòa Lan | 31,789 | 0.78 |
| Ba Lan | 47,905 | 1.18 |
| Nam Tư | 69,346 | 1.71 |
| Các Nước Âu Châu khác | 215,066 | 5.29 |
| Các Nước Á Châu khác | 116,180 | 2.86 |
| Châu Mỹ | 47,232 | 1.16 |
| Châu Phi | 37,067 | 0.91 |
| Tổng Số Sinh Ở Hải Ngoại | 936,653 | 23.64 |
| Không nêu rõ nguồn gốc | 36,958 | 0.91 |
| Tổng Số | 4,064,412 | 100.00 |
Dù Vatican, với Tông Hiến Exsul Familia năm 1952, ra chỉ thị cho các giáo phận có người di dân phải thiết lập ra các giáo xứ di dân do các linh mục của người di dân đảm nhiệm hoặc ít nhất cũng là những chuẩn giáo xứ (quasi-parish) trong đó các tuyên úy di dân làm việc trong các khu vực đã qui định trước, song hành với các cha xứ trong tư cách đồng trách nhiệm săn sóc phần hồn cho các di dân, nhưng các chỉ thị này đã không được hàng giáo phẩm của Úc thi hành. Các ngài buộc người di dân phải vào khuôn phép các giáo xứ trong cả tổ chức lẫn việc sùng kính.
Phần lớn người giáo dân Úc không thích di dân nào không chịu đóng góp đầy đủ về phương diện tài chánh cho giáo xứ và trường nhà xứ. Tháng 8 năm 1972, Giám Đốc Văn Phòng Di Trú Công Giáo Sydney nhìn nhận rằng có rất ít liên lạc chuyên nghiệp hay nâng đỡ thân ái giữa các cha xứ địa phương và các cha tuyên úy di dân. Các tuyên úy này cảm thấy “các tổ chức giáo dân của giáo xứ đã không cố gắng đủ để làm người di dân cảm thấy dễ chịu trong giáo xứ”. Chính các cha xứ thấy người di dân như một yếu tố gây chia rẽ trong cộng đoàn giáo xứ, nên không muốn họ can thiệp vào các chương trình của giáo xứ. Người di dân vì thế cảm thấy mình chỉ như khách trọ, và do đó lại càng co cụm lại với nhau. Đến tận những năm 1990, linh mục Frank Mecham vẫn còn có thể tường thuật lại như sau: “Gần đây tôi khá buồn về nhận xét của một linh mục Úc gốc Ý lúc ấy đang mừng kỷ niệm 40 năm đời linh mục… Ngài tâm sự với tôi rằng với cái tên và gốc gác Ý, dù ngài từng theo học một trong các chủng viện của chúng ta, nhưng ngài cảm thấy không bao giờ được chấp nhận hoàn toàn nơi các giáo xứ ngài từng làm việc qua".
Thái độ của hàng giáo phẩm Úc buộc Vatican phải duyệt lại Tông Hiến Exsul Familia của mình qua tự sắc Pastoralis Migratorum năm 1969. Nhưng cho đến tận năm 1987, vẫn có lời chỉ trích cho rằng hàng giáo phẩm Úc chỉ giải thích cách hạn chế tối đa tự sắc này bằng cách không chịu ban cho các tuyên úy di dân tư cách pháp lý như các cha xứ địa phương. Điều ấy cho thấy hàng giáo phẩm Úc phần nào vẫn chỉ phản ảnh lại thái độ của xã hội Úc nói chung đòi người di dân phải đồng hóa (assimilated) vào quê hương mới.
Các di dân Công Giáo gốc Ý, mà phần lớn xuất thân từ vùng quê Miền Nam nước này, cảm thấy các nghi lễ tại nhà thờ Úc thiếu hẳn cái ấm áp và lôi cuốn nhân bản. Họ nhớ da diết nét chồng chéo lên nhau của những ngày lễ hội và ăn chay tại quê nhà, cũng như những hình thức sùng kính tôn thờ theo truyền thống của cái quê hương nay đã xa vời kia. Cái truyền thống Ái Nhĩ Lan từng tạo nên bản sắc Công Giáo Úc, đối với họ, chẳng ăn nhập vào đâu.
Adrian Pittarello đưa ra nhận định rằng: thực sự làm gì có niềm tin Ý hay niềm tin Ái Nhĩ Lan, chỉ có niềm tin Công Giáo mà thôi: bản sắc định chế dưới quyền lãnh đạo của Đức Giáo Hoàng chỉ là một; tổ chức các giáo xứ và các học thuyết do các linh mục dạy dỗ chỉ là một; Thánh Lễ và các Bí Tích như nhau hoàn toàn. Kinh sách và việc sùng kính cũng như nhau. Khác nhau chỉ là các yếu tố văn hóa xã hội mà thôi. Thành ra, “tôn giáo, trong yếu tính, là một gia tài văn hóa, và cũng giống như bất cứ tôn giáo nào khác, đức tin Công Giáo đã được tiếp nhận nhờ văn hóa, chứ không trực tiếp phú ban nhờ ơn Thánh Chúa”. Không lạ gì, một số hành vi và tác phong tôn giáo có một ý nghĩa và tầm quan trọng cao ở một lãnh vực xã hội nhất định nào đó lại mất đi hẳn cái ý nghĩa và tầm quan trọng ấy khi cái lãnh vực xã hội kia thay đổi.
6. Một Số Cộng Đoàn Di Dân Công Giáo Tiêu Biểu
A. Ba Lan: Di dân Ba Lan tới Úc theo hai đợt: ngay sau Thế Chiến II và cuối thập niên 1970, Năm 1986, có gần 48,000 người di dân Công Giáo Úc sinh tại Ba Lan, 8 tuyên úy Ba Lan. Các thánh Lễ Ba Lan được cử hành tại các nhà thờ Úc nhưng người Công Giáo Ba Lan xây nhà thờ riêng tại Sydney, Melbourne và Perth.
Năm 1957, một phụ nữ Ba Lan thắc mắc tại sao lại buộc các phụ nữ phải trùm đầu trong nhà thờ, một việc ở Ba Lan không hề có. Câu trả lời của linh mục tiến sĩ Leslie Rumble cho thấy thái độ chính thức của hàng giáo phẩm Úc thời đó. Ngài cho hay đây là một biện pháp kỷ luật mà nếu bất tuân sẽ phạm tội nhẹ. Những phong tục ngược lại có thể là do không chịu tuân giữ luật chung của Giáo Hội. Phụ nữ di dân buộc phải chấp nhận phong tục phù hợp với luật lệ và trật tự của Giáo Hội…”Bà sẽ không sai lầm khi chấp nhận các phong tục có sẵn hiện hành nơi người Công Giáo của xứ sở này” (Catholic Weekly, số ngày 2 tháng 5 năm 1957).
Nina Skoroszewski, một phụ nữ 70 tuổi, di dân Công Giáo từ Ba Lan nhận xét về buổi đầu khi mới tới Úc: “Mọi cấp bậc trong hàng giáo phẩm Úc đều có chung một thái độ với quảng đại quần chúng: phần lớn đó là ngờ vực những người họ cho là khác biệt và xa lạ. Hàng giáo phẩm Úc ủng hộ chính sách đồng hóa của chính phủ dựa trên giả thiết cho rằng những người mới đến phải nhanh chóng thành thạo tiếng Anh, vứt bỏ quá khứ và tiếp nhận lối sống mới của xứ sở mới, và không được đòi hỏi bất cứ trợ giúp nào để thực hiện các việc ấy. Nhìn nhận bất cứ nhu cầu đặc biệt nào của họ chỉ là làm chậm trễ diễn trình trên. Tại bình diện giáo xứ, linh mục và giáo dân Công Giáo cho rằng chỉ có một cách phát biểu đức tin của mình và tình yêu của Chúa. Cách đó là cách của người Úc, cách mà người mới tới phải tuân theo. Họ quên sự kiện này là ở trong các xứ Công Giáo lớn, Giáo Hội và giáo huấn của Giáo Hội đã trở thành một phần trong nền văn hóa của họ, trong đó các truyền thống hàng thế kỷ đã hòa nhập vào các lễ nghi của Giáo Hội và hết sức gần gũi với tâm hồn dân chúng và sinh hoạt cộng đồng…Đối với nhiều người Ba Lan, các lễ nghi của Giáo Hội Úc xem ra lạnh lùng, thiếu hẳn tinh thần cộng đoàn và xa lìa kinh nghiệm nhân bản…
Trước thời Cộng Sản, ở Ba Lan sinh hoạt tôn giáo là sinh hoạt của cả nước, cả Tổng Thống cũng tham dự những cuộc Rước Kiệu Mình Thánh Chúa trên các đường phố… “Người Ba Lan rất lấy làm lạ khi thấy khuôn mặt Giáo Hội tại Úc ít có trong đời sống công ở đây”. Người Công Giáo Ba Lan, dưới chế độ Cộng Sản, thường chạy tới với Giáo Hội để được chở che và hướng dẫn cả trong phạm vi nhân bản và Giáo Hội không làm họ thất vọng. Ở Úc, hình như họ chỉ tiếp xúc với các linh mục Úc để dự thánh lễ! Và tìm gặp các tuyên úy Ba Lan để tham dự các sinh hoạt khác có tính tôn giáo xã hội hơn…
Krystyna Scislowski, một phụ nữ khác, 32 tuổi, đến Úc năm 1980 cùng với chồng. Theo cô, tại Ba Lan nhà thờ luôn luôn chật người, tại Úc, trái lại ghế trống nhiều quá. Tại Ba Lan, người ta đi tham dự thánh lễ với áo quần tươm tất nhất và chỉ rước lễ sau khi đã xưng tội. Cô rất ngỡ ngàng khi thấy tại Úc, ai cũng lên rước lễ cả, dù chả thấy xưng tội chi hết!
B. Nam Mỹ: Thống kê 1986 cho thấy có 47,232 người công giáo di dân đến từ Nam Mỹ, phần lớn nói tiếng Tây Ban Nha.
Cặp vợ chồng người Chilê Georgina và Clemente, đến Úc năm 1980 với ba con nhỏ, thấy người công giáo Úc không thân thiện mấy. Như muốn treo một số biển ngữ bằng tiếng Tây Ban Nha ở bàn thờ nhân ngày Giáng Sinh nhưng người công giáo Úc không cho. Họ bảo Clemente: “đừng quên các anh là khách tại Úc”. Clemente giận, nói lại “tôi không phải là khách trong chính Giáo Hội của tôi”. Theo Clemente, Giáo Hội phải là một cộng đoàn chia sẻ chứ không phải là một toà nhà. Người Úc hình như không muốn nghĩ như thế.
Christina bỏ Uruguay qua Úc năm 1978 cùng với chồng và 3 con. Sáu năm sau, chồng bà qua đời. Vốn là 1 giáo lý viên, bà tiếp tục công việc ấy khi đến Úc, giúp các trẻ nói tiếng Tây Ban Nha chuẩn bị lãnh nhận bí tích Thánh Thể và Thêm Sức. Các linh mục ở ba khu vực ngoại ô cấm Christina không được trang hoàng nhà thờ với các kiểu trang trí Tây Ban Nha, dù là trong các dịp đặc biệt. “Các ngài nói với tôi rằng đó không phải là nhà thờ của chúng tôi. Nhưng tôi thiết nghĩ vì chúng ta hết thẩy đều chia sẻ một Hiệp Lễ, thì ta nên chia sẻ cả những điều khác nữa mới đúng chứ… Người Công Giáo Úc không nhận chúng tôi như thành viên của họ. Chúng tôi tham dự Thánh Lễ Thứ Năm Tuần Thánh với người Công Giáo Úc, nhưng họ không tự động tỏ dấu bình an với chúng tôi. Họ nhận dấu bình an của chúng tôi, nhưng không khởi sự tỏ dấu hiệu ấy trước tiên. Dù chúng tôi lắng nghe cùng một Phúc Âm và chia sẻ cùng một Hiệp Lễ. Tôi không thể nào hiểu nổi thái độ của họ”.
C. Người Croatia: Năm 1986, có tất cả 60,000 di dân Công Giáo Úc sinh tại Croatia. Họ giống người Ba Lan ở cả ba điểm: Công Giáo, tinh thần quốc gia và chống Cộng. Họ không thích khi thấy các linh mục gốc Úc đòi họ phải hòa nhập vào cộng đồng địa phương.
Marica lên 13 lúc đến Úc năm 1965. Bà nhận xét “Tôi thấy Giáo Hội tại Úc quá dễ dãi và hết sức ngỡ ngàng về cách một số người ăn vận lúc tham dự Thánh Lễ”.
Nada, 40 tuổi, đến Úc năm 1971 cùng với chồng. Bà cho hay: “Bước vào một nhà thờ Công Giáo ở Croatia, tôi cảm thấy một bầu không khí bình an và không có tiếng nói chuyện làm tôi chia trí. Mọi sự đều trang trọng. Người ta ăn vận quần áo đẹp nhất và tỏ lòng kính trọng các linh mục hết mực… Trái lại khi viếng một nhà thờ Úc, ít khi tôi cảm thấy mình đang ở trong nhà thờ: kiểu nhà thờ đã khác, người ta lại nói chuyện ồn ào. Một số người còn mang cả dép quai vào nhà thờ nữa”.
D. Người Việt: Khó mà nói con số chính xác người Việt ở Úc. Nhưng Thống Kê năm 1986 cho biết có 16,000 di dân sinh tại Việt Nam; khoảng 1/3 số ấy là người Công Giáo. Như thế, nếu tỷ lệ kia vẫn còn giá trị, thì hiện nay con số người Việt Nam Công Giáo tại Úc phải vào khoảng trên dưới 40,000 người.
Kim sinh tại Bắc Việt Nam năm 1950, di cư vào Nam, rồi cùng chồng và 2 đứa cháu trốn khỏi Việt Nam năm 1980 qua Indonesia, và từ đó qua Úc định cư năm 1981. Bà cho hay: “Ở Việt Nam đi lễ hàng ngày là chuyện dễ thực hiện vì nhà thờ khá nhiều, cách nhau chừng 2 cây số, và rất gần với dân chúng. Thường có ba linh mục chăm sóc cho khoảng 5 ngàn giáo dân. Trong nhà thờ, đàn ông ngồi một bên, đàn bà ngồi một bên, con nít thì ngồi phía trên, được các thiện nguyên viên canh chừng để cha mẹ chúng có thể dễ dàng cầu nguyện hơn. Giáo dân cầu nguyện trước và sau Thánh Lễ, nên họ có mặt trong nhà thờ ít ra cũng 1 tiếng rưỡi. Bàn thờ được trang trí nhiều hơn ở Úc. Ít người Úc chịu đi nhà thờ, nên các nhà thờ Úc đối với chúng tôi xem ra trống vắng và lạnh lẽo. Nhiều người Công Giáo Việt Nam thoạt đầu đi nhà thờ Anh Giáo vì họ thấy các nhà thờ ấy chẳng khác nào các nhà thờ Công Giáo. Không người Công Giáo Úc nào tới giúp chúng tôi khi chúng tôi đến đây nhưng bây giờ chúng tôi thấy mình đã được chấp nhận”.
Mạnh đến Úc năm 1980, nay vào tuổi trên 30. Anh nhận xét: “Tôi thích đi lễ Chúa Nhật do linh mục người Việt cử hành vì tôi thích các phong tục Việt Nam được bảo tồn trong Thánh Lễ. Thí dụ, chúng tôi dùng các lư hương được trang trí bằng các hình thù Việt Nam và các thẻ hương. Và tôi muốn các con tôi biết nhiều kinh hơn là chỉ biết Kinh Lạy Cha và Kinh Kính Mừng. Người Việt thường đọc kinh trước và sau Thánh Lễ. Tôi muốn các con tôi tỏ ra cung kính trong nhà thờ nhiều hơn các trẻ người Úc. Tôi muốn chúng duy trì phần nào nền văn hóa Việt Nam”.
E. Người Ý: Theo thống kê năm 1986, có 261,879 người sinh tại Ý ở Úc, trong đó hết 238,017 tự cho mình là Công Giáo. Dù số đông như thế, nhưng vì thiếu thống nhất, nên họ không gây được nhiều ảnh hưởng đối với Giáo Hội Công Giáo tại đây. Sở dĩ như thế là vì phần lớn họ xuất thân từ những làng quê biệt lập, nên thích đồng hóa mình với những làng quê ấy chứ không với nước Ý nói chung. Hơn nữa, giữa người Ý miền Bắc và người Ý miền Nam, có khác biệt về văn hóa. Lý do thiếu thống nhất nữa là vì con cái di dân Ý thường thích đồng hóa mình với bạn bè người Úc hơn.
Nói chung, di dân Ý thấy khó hòa mình và đóng góp cho các giáo xứ Úc. Lý do thông thường nhất là ngôn ngữ. Hơn nữa, phần lớn họ không được học nhiều lúc còn ở quê nhà.
Chính vì thế, các tuyên úy Ý hay nhấn mạnh đến hình thức tổ chức mục vụ sao cho phù hợp với nhu cầu di dân Ý. Họ đề nghị hình thức mục vụ miền, giống như hình thức của Exsul Familia, vì hình thức giáo xứ quá nặng yếu tố lãnh thổ, một yếu tố không thích hợp với người Ý tại Úc. Chính vì lẽ đó, ít người Công Giáo Ý tại Úc chịu đi lễ Chúa Nhật tại các nhà thờ Úc.
Pittarello cho hay: “Đối với người Ý, thiên hướng nội tâm không đủ… Cả con người phải biểu lộ thái độ tôn giáo… Đối với người Úc… thờ phượng là một trong nhiều điều người ta phải làm, và việc ấy có thể làm được mà không cần phải can thiệp vào các sinh hoạt khác… Ở Úc, tôn giáo không có tính bàng bạc (pervasive) như ở Ý, nhưng nó đã đạt tới một mức độ “nội tâm hóa” hơn là ở nước kia… Người Công Giáo ở Úc, dù tụ tập với nhau để thờ phượng công khai, vẫn nhấn mạnh đến lối cầu nguyện riêng tư… khi người ta đi nhà thờ ở Ý… cả cộng đoàn thờ phượng, chứ không phải các cá nhân.
Ngày nay, tình thế đã ra khác nhiều lắm. Sự đóng góp của người di dân Công Giáo vào xã hội và giáo hội Úc về mọi phương diện, kể cả lối sống đạo đặc thù của họ, càng ngày càng được đánh giá cao. Riêng người Công Giáo Việt Nam càng ngày càng có nhiều đóng góp nhân sự hơn cho Giáo Hội ở vùng đất này. Không ai có thể phủ nhận sự đóng góp to lớn của họ. Ảnh hưởng Công Giáo Ái Nhĩ Lan đương nhiên vẫn còn đó, nhưng dần đã mất đi tính độc chiếm và cũng như diễn trình đối thoại đang rầm rộ khai mở ở mọi ngả đường trong Giáo Hội hoàn cầu, đối thoại không riêng với các hệ phái Kitô Giáo khác, mà còn cả với các tôn giáo hoàn cầu khác, và nhất là với các nền văn hóa khác nhau của nhân loại, người ta có quyền kỳ vọng nhìn về tương lai để thấy một Giáo Hội Úc với rất nhiều sắc thái khác nhau nhưng vẫn là một Giáo Hội Công Giáo, Duy Nhất, Thánh Thiện và Tông Truyền.
Tài liệu
1. Mechem, Rev. F., The Church And Migrants, 1946-1987, St Joan Of Arc Press, 1991
2. Pittarello, A. ‘Multiculturalism and the Catholic Church’, CCJP Occasional Papers, no.8, 1986.
3. Naomi Turner, Catholics In Australia, CollinsDove, Melbourne 1992, Vol 2.