Hôm nay 26 tháng 1, ngày Quốc Khánh của Úc, tục gọi là ngày Australia Day, ngày đánh dấu đoàn tầu đầu tiên do Thuyền Trưởng Arthur Phillip chỉ huy tới Sydney Cove. Theo tin đài truyền hình SkyNews, hôm nay trên toàn quốc có nghi lễ tuyên thệ gia nhập quốc tịch Úc của hơn 16,500 người đến từ hơn 140 quốc gia. Việc nhập quốc tịch này nay đã ra khó khăn, không gần tự động như các thập niên 1970, 1980 và 1990. Sau nghi lễ tuyên thệ này, số người trên được gọi là Người-Úc-Do-Chọn-Lựa. Đối với người di dân và tị nạn Công Giáo, họ là thành viên của Giáo Hội Úc ngay từ những ngày đầu tới đây, không cần một ngày chờ đợi, cũng không cần một nghi thức tuyên thệ nào. Họ tự động là Người-Công-Giáo-Úc-Do-Phép-Rửa. Đặc tính công giáo quả là tuyệt diệu, nó phá đổ các biên giới. Nhưng có hẳn là mọi biên giới không?
Một số sự kiện mới đây xẩy ra cho Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam ở Sydney khiến nhiều người nghĩ: không hẳn như thế. Vẫn còn một thứ biên giới nào đó, ít nhất cho Cộng Đồng di dân tị nạn này, khi họ bị khước từ không được cử hành thánh lễ và thực hành nhiều sinh hoạt sống đạo khác theo ngôn ngữ và cung cách Việt Nam tại các cơ sở của một xứ đạo Úc. Nếu chỉ dừng lại ở bình diện giáo xứ, thì vấn đề không đến nỗi nặng nề khó thở, nhưng khi thẩm quyền cao nhất của giáo phận can thiệp vào và nghiêng về phía giáo xứ Úc, thì không những phẫn nộ mà còn đôi chút tủi buồn cho cộng đồng di dân tị nạn. Thực ra các hành động và phản ứng trên phức tạp hơn nhiều, không thể đơn giản tóm lược như trên. Nhưng để có được một cái nhìn khách quan và bình thản hơn, nguyên tắc biết người biết ta vẫn là nguyên tắc bất hủ để đưa ta ra khỏi thế bí, tìm được giải pháp để vừa là Người-Công-Giáo-Úc-Do-Phép-Rửa vừa là Người Công-Giáo-Việt-Nam-Do-Phép-Rửa-Và-Do-Truyền-Thống. Như sẽ thấy sau đây, lịch sử chính sách đối với người di dân và tị nạn suốt trong các thập niên qua vẫn là một giữa chính phủ Úc và giáo quyền ở đây.
Nước Úc liên hệ đến người tị nạn ngay từ trước Thế Chiến II, với việc tiếp nhận 7,000 người Do Thái trốn thoát chế độ Đức Quốc Xã năm 1938. Riêng Hội Đồng Giám Mục Úc Châu, năm 1944, đã lập ra Tiểu Ban Di Dân. Chính Tiểu Ban này đã gửi công hàm cho chính phủ Úc yêu cầu tiếp nhận các trẻ mồ côi từ Âu Châu. Tháng 4 năm 1946, ngay khi Châu Âu còn đang ngổn ngang với các tàn phá của chiến tranh, đức tổng giám mục Justin Simonds, vị tổng giám mục đầu tiên người Úc lúc đó đang là phó tổng giám mục của giáo phận Melbourne, được gửi qua đó để đích thân tìm hiểu nhu cầu của khu vực và phương cách Giáo Hội Úc có thể đáp ứng nhu cầu ấy. Ngài được đích thân đức cha Montini, tức đức Phaolô VI tương lai, lúc đó là thứ trưởng phủ quốc vụ khanh Tòa Thánh cung cấp xe và tài xế để du hành qua các nước Âu Châu đang bị chiếm đóng. Nhờ các cuộc du hành này mà có các chương trình tiếp nhận các trẻ em người Anh, chương trình nhận người di dân từ Malta và Balan. Cũng nhờ sự vận động của ngài mà năm 1947, bộ trưởng Di Trú đầu tiên của Úc là Arthur Calwell đã chịu ký tham gia Cơ Quan Tị Nạn Quốc Tế (IRO) vừa được Liên Hiệp Quốc thành lập, và đóng góp 860,000 bảng Anh một năm cho Cơ Quan này. Năm 1946, Đức Cha McGuire được Hội Đồng Giám Mục Úc trao nhiệm vụ thành lập Ủy Ban Di Dân Công Giáo Liên Bang (FCMC) sau đổi thành Ủy Ban Di Trú Công Giáo Liên Bang (FCIC) với nhiệm vụ nhân danh Hội Đồng Giám Mục Úc giải quyết mọi vấn đề liên quan đến Di Dân Công Giáo; đặc biệt, cung cấp sự chăm sóc thiêng liêng cho mọi di dân Công Giáo; giúp họ hội nhập vào cuộc sống giáo xứ và cộng đồng; giữ vai trò liên lạc với các cơ quan chính phủ và mọi cơ quan khác nhằm phục vụ lợi ích của các di dân Công Giáo. Tháng Sáu năm 1947, Ủy Ban này chính thức ra mắt. Tại mỗi Tiểu Bang, đều có Văn Phòng Di Trú Công Giáo.
1. Di Dân Tị Nạn Sau Thế Chiến II
Việc thành lập các cơ cấu trên rất hợp thời vì ngay sau đó, con số di dân vào Úc mỗi ngày một gia tăng đáng kể: 6 tháng đầu năm 1947, con số ấy chỉ chừng trên dưới 2 ngàn, nhưng đến nửa năm sau, con số ấy đã tăng tới 10,000 và đến năm 1949 thì cứ 6 tháng, Úc tiếp nhận chừng 66,000 di dân. Bộ Di Trú của Chính Phủ Liên Bang, mỗi khi có di dân Công Giáo, đều thông báo cho Ủy Ban để sắp xếp người ra gặp gỡ họ trên tầu và giúp đỡ họ định cư. Tưởng cũng nên ghi chú: trong số 840 người tị nạn đến Úc đợt đầu tháng 12 năm 1947, sáu mươi phần trăm là người Công Giáo. Tỷ lệ này sau đó có giảm đi. Nhưng cũng đủ chứng tỏ sự đóng góp to lớn của Giáo Hội Úc trong việc tiếp nhận người tị nạn sau Thế Chiến II. Không lạ gì, đức Tổng Giám Mục Montini, ngay tháng 9 năm 1947, đã nhân danh Đức Thánh Cha, gửi thư chúc mừng việc thành lập Ủy Ban Di Trú Công Giáo Liên Bang. Ủy Ban cũng được các cơ quan Chính Phủ Tiểu Bang cũng như Liên Bang hết lòng ca ngợi.
Đã đành các chính phủ Tiểu Bang cũng như Liên Bang cung cấp nhiều ngân khoản cho công việc định cư di dân cũng như người tị nạn. Nhưng ngân khoản ấy không bao giờ đầy đủ cho một công tác nhiều mặt này. Nên Giáo Hội Úc đã phải sử dụng đến cả các ngân khoản vốn do Bộ Truyền Giáo cung cấp cho việc truyền bá đức tin. Ngoài ra, hàng giáo phẩm còn phải nghĩ đến nhiều cách thế có thêm ngân khoản cho công tác này như tổ chức quyên tiền khắp nước Úc trong cùng một ngày Chúa Nhật. Cuộc quyên tiền đầu tiên năm 1949 thu được 3,499 bảng Anh, một số tiền không nhỏ khi mang so sánh với ngân sách hàng năm của Ủy Ban Di Trú Công Giáo Liên Bang là 11,690 Bảng. Nhưng nhu cầu thiêng liêng của người di dân tị nạn còn làm hàng giáo phẩm Úc lo âu hơn nữa. Các phúc trình từ Mỹ cho thấy số người di dân tị nạn Công Giáo chạy qua các giáo phái khác chỉ vì thiếu các giáo sĩ bản xứ chăm lo nhu cầu thiêng liêng cho họ làm các ngài chạy đôn chạy đáo vận động sao cho có đủ các tuyên úy sắc tộc đến Úc phục vụ. Trong khi chờ đợi, các giáo phận phải tìm cách in ấn mẫu xưng tội cũng như các bí tích khác bằng 17, 18 ngôn ngữ khác nhau giúp người xưng tội cũng như các cha giải tội có thể thi hành phận sự của mình một cách “hợp phép”.
Điều khó khăn hơn cả trong khía cạnh này là các tín hữu thuộc các giáo hội theo nghi lễ Đông Phương. Họ gây “kinh hoàng” cho giáo dân Úc không ít. Một giáo dân Úc báo cáo: “trời đất, sáng nay có ông từ tầu bước xuống, tự xưng mình là linh mục mà lại có vợ mới khổ, sao có người thánh mà lại nói với tôi như thế không biết!”. Phản ứng tâm lý này không những chỉ có nơi người giáo dân bình thường, chính đức hồng y Gilroy cũng bỗng nhiên tái mặt trong lúc đang vui vẻ dùng tiếng Latinh phỏng vấn một linh mục theo nghi lễ này, chỉ vì vị linh mục này cho ngài hay: “sum uxuratus” (con có vợ!). Nói tóm lại, phản ứng này mạnh đến nỗi hàng giáo phẩm Úc phải đưa ra khuyến cáo chỉ cho phép các giáo sĩ theo nghi lễ Đông Phương nào sống độc thân mới được quyền thi hành thừa tác vụ của mình cách công khai tại nước Úc mà thôi.
Khuyến cáo này bị Thánh Bộ Giáo Hội Đông Phương bác bỏ bằng văn thư ngày 5 tháng 10 năm 1949. Các khác biệt về văn hóa cũng gây nhiều trở ngại: đối với người Úc, việc dùng một cơ sở vừa làm nhà thờ vừa làm trường học là điều thông thường, nhưng người di dân không chấp nhận việc ấy vì coi nó như một việc phạm thánh không hơn không kém. Ngoài ra, hàng giáo phẩm Úc còn phải đương đầu với các tệ nạn phát sinh từ chương trình tiếp nhận di dân ồ ạt của chính phủ Úc. Ngày 9 tháng 11 năm 1949, hội nghị thường niên các giám mục Úc tại Sydney đã gửi cho chính phủ nhiều khuyến cáo, đặc biệt là các khuyến cáo số 15 và số 16, trong đó các ngài lên án việc cưỡng bức phân rẽ chồng khỏi vợ và con cái vì lý do công ăn việc làm, coi nó như phá hủy cuộc sống gia đình và sui khiến người ta vi phạm luật luân lý.
2. Tông Hiến Exsul Familia
Như trên đã nói, sau Thế Chiến II, Liên Hiệp Quốc thiết lập ra cơ quan Tị Nạn Quốc Tế (IRO) phụ trách giải quyết vấn đề hàng triệu người bị bứng gốc không muốn trở về quê hương của họ. Cơ quan này đặc biệt chú ý tới số phận những người không có quốc gia (stateless), giúp họ di cư ra nước ngoài. Cơ quan này vì thế cung cấp cả sự che chở quốc tế lẫn trợ giúp vật chất. Nó đã giúp hàng triệu người định cư trên các vùng đất mới với một phí tổn lớn lao lên đến 430,000,000 mỹ kim. Điều ấy khiến các chính phủ cảm thấy mệt mỏi và họ đã đi đến kết luận phải giải tán cơ quan này vào cuối năm 1951. Trách nhiệm giải quyết số nạn nhân tồn đọng trao cho các quốc gia hiện có những người này hiện diện. Thay thế cho IRO, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc cho thiết lập tại Genève Văn Phòng Cao Úy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR), với nhiệm vụ thu nhỏ vào phạm vi bảo vệ mà thôi.
Tuy nhiên, các nước  Châu, vì vừa ra khỏi cuộc chiến tàn khốc, đến chính công dân của mình cũng chưa cung cấp đủ nhà ở và công ăn việc làm, nên khó có thể cáng đáng số 130,000 người đang được UNHCR bảo vệ trong các trại tị nạn ở Âu Châu và chắc chắn từng ấy người nữa sống ngoài các trại ấy. Chính vì thế, Hội Nghị Di Dân họp tại Naples ngày 2 tháng 10 năm 1951 đã quyết định thiết lập ra một cơ chế di dân liên chính phủ để chăm lo số dân thặng dư, trong đó có người tị nạn. Cơ chế mới này có tên là Ủy Ban Liên Chính Phủ Phụ Trách Di Dân Âu Châu (ICEM) sau đổi thành Ủy Ban Liên Chính Phủ Phụ Trách Di Dân (ICM), thoạt đầu đặt tại Brussels, nhưng sau được rời về Genève.
Ngay từ đầu, hai cơ quan UNHCR và ICEM làm việc chặt chẽ bên cạnh nhau. Tuy nhiên phạm vi hoạt động của UNHCR chỉ là người tị nạn được họ định nghĩa là người sống bên ngoài xứ sở quốc tịch (hay nếu không có quốc tịch, thì bên ngoài xứ sở họ thường cư trú trước đây) vì họ hiện có hay đã có mối sợ có căn cứ vững chắc sẽ bị bách hại vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch hay chính kiến. Phạm vi của ICEM rộng rãi hơn: họ coi bất cứ ai sống ngoài xứ sở quốc tịch hay nơi thường trú đều là người tị nạn.
Tại Âu Châu hậu chiến, Giáo Hội Công Giáo vốn bận bịu chăm lo cho người tị nạn theo nghĩa rộng rãi của từ này từ lâu. Tòa Thánh đã thiết lập ra Văn Phòng Di Dân Vatican (VMB) trực thuộc Phủ Quốc Vụ Khanh. Khi thấy các cố gắng giúp người tị nạn của Liên Hiệp Quốc tập trung tại Genève, trọng tâm hoạt động của Giáo Hội trong phạm vi này cũng chuyển từ Rome qua thành phố nổi tiếng kia. Đóng vai trò lớn trong vấn đề này là đức hồng y Frings của Cologne, vị hồng y đang hết sức tích cực lo giải quyết hàng triệu người rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn của mình trên đất Đức.
Ngài thỉnh cầu đức thánh cha Piô XII tập hợp các cố gắng của Công Giáo trên khắp thế giới nhằm trợ giúp người tị nạn. Từ đó mà có Hội Đồng Di Dân Công Giáo Quốc Tế (ICMC), với phiên họp đầu tiên tại Rome vào ngày 5 và 6 tháng 6 năm 1951. Cơ quan này làm việc chặt chẽ với ICEM, gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp nhờ các chi nhánh rải rác khắp thế giới. Dù Giáo Hội Úc tỏ ra dè dặt lúc đầu vì các lo ngại tài chánh, nên chỉ gửi quan sát viên là linh mục Vivian Morrison lúc đó đang du học tại Rome đến tham dự. Mãi một năm sau, mới có đại diện chính thức của Úc là linh mục Patrick McCabe tham dự hội nghị của Tổ Chức này tại Barcelona. Tuy thế, Hội Đồng đánh giá cao sự đóng góp của Giáo Hội Úc qua việc chấp nhận huy hiệu của Úc làm huy hiệu của mình.
Nhờ tham gia ICMC, Ủy Ban Di Trú Công Giáo Úc sử dụng được Quỹ Cho Di Dân Công Giáo Quốc Tế Vay Tiền (ICMLF) giúp họ trả được phí tổn du hành qua Úc. Nói chung, từ lúc thành lập tới năm 1956, qũy này đã chi 17,000,000 mỹ kim, giúp 50,000 di dân đi định cư. Đó mới chỉ là con số tại Úc, con số khắp thế giới là 164,371,291 mỹ kim, với số người thụ hưởng là 576,663.
Một biến cố quan trọng xẩy ra năm 1952 (tháng Tám) đó là việc ban hành tông hiến Exsul Familia. Dù từ lâu, nhất là từ đời Đức Lêô XIII, Giáo Hội Công Giáo đã tích cực tham dự vào việc giúp đỡ người di dân trên khắp thế giới, nhưng phải đợi đến thế kỷ 20, Giáo Hội mới long trọng và chính thức lên tiếng về vấn đề di dân và tị nạn qua tông hiến trên, nhằm hệ thống hóa các nguyên tắc xưa nay mình vẫn có về việc trợ giúp các di dân và tị nạn về phương diện tâm linh. Tông Hiến này thiết lập ra một thánh bộ riêng lo mọi vấn đề về di dân. Một Hội Đồng Di Dân Tối Cao được thiết lập trong thánh bộ này để làm việc với các ủy ban giám mục các quốc gia lo về di dân. Tổng Thư Ký của Hội Đồng này đứng đầu Văn Phòng Đại Biểu Di Dân, đồng thời cũng là Tổng Thư Ký của Văn Phòng Quốc Tế Tông Đồ Trên Biển. Hiến chế này có điều đặc biệt là đã dự liệu việc thiết lập ra các Giáo Xứ Quốc Gia (National Parishes), ban cho các nhà truyền giáo di dân việc chăm sóc các linh hồn, và mỗi nhóm truyền giáo thuộc một quốc tịch có quyền có một Giám Đốc riêng. Tông Hiến cũng kêu gọi các giám mục khắp thế giới Công Giáo hãy dành Chúa Nhật Thứ Nhất mùa Vọng hàng năm làm Ngày Di Dân.
Giáo Hội Úc không tiếp nhận mẫu Giáo Xứ Quốc Gia được Tông Hiến dự liệu,cũng như không trao cho các nhà truyền giáo di dân quyền chăm sóc các linh hồn, nhưng đã tiếp tục thi hành phương thức vốn có của mình là yêu cầu các tuyên úy di dân cộng tác với các cha xứ là những người thực sự được trao phó việc chăm sóc các linh hồn. Giáo quyền Úc cũng không đề cử Giám Đốc Toàn Quốc cho các tuyên úy di dân của một quốc tịch, coi điều đó không thích hợp với việc tông đồ di dân tại đây… Tuy nhiên, việc dành một ngày Chúa Nhật làm ngày Di Dân hàng năm, thì Giáo Hội Úc chấp hành nghiêm chỉnh (tuy không đúng Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng). Việc quyên tiền trong ngày ấy tiếp diễn đến tận năm 1980. Sau đó, để tránh có quá nhiều lần xin tiền, nên Giáo Hội Úc đã quyết định quyên tiền mỗi năm một số lần làm qũy chung cho các chương trình mục vụ của mình, trong đó có vấn đề Di Dân. Việc này, và nhất là kết quả khả quan trong chương trình di dân Công Giáo của Úc, đã làm Vatican, nói chung, hài lòng về đáp ứng có trách nhiệm của Giáo Hội Úc đối với Tông Hiến Exsul Familia. Đức Hồng Y Piazza, tổng trưởng thánh bộ di dân, trong văn thư năm 1954 gửi Khâm Sứ Tòa Thánh tại Úc đã viết như sau: “Thánh bộ này, hơn bao giờ hết, tin tưởng rằng việc áp dụng cách khôn ngoan và thông minh các qui định của Exsul Familia – mà không gây bất cứ xáo trộn nào – đã đem lại thành quả đáng kể trong việc chăm sóc đầy tình mẫu tử, nhiều mặt và thực sự hữu hiệu của Giáo Hội đối với những người con khốn khó nhất của mình”.
Giáo Hội Úc cũng cảm thấy lên tinh thần nhờ những thay đổi vào năm 1969 qua tông thư Pastoralis Migratorum qua đó, hàng giáo phẩm địa phương được trao nhiều thẩm quyền hơn. Trước đây các tuyên úy di dân được Thánh Bộ cử nhiệm, nay việc bổ nhiệm ấy là do hội đồng các giám mục sở tại; Chúa Nhật Di Dân có thể là bất cứ Chúa Nhật nào…Các biện pháp từng được Giáo Hội Úc áp dụng nay được tông thư này biến thành qui định. Tông thư này vì thế đã chú trọng nhiều hơn đến tính đa dạng của vấn đề di dân trong các môi trường khác nhau, chứ không quanh quẩn ở các kinh nghiệm Âu Châu như tông hiến Exsul Familia. Tông thư này cũng còn một điểm son là đã lưu ý các nước tiếp nhận di dân và tị nạn không nên chỉ nhìn vấn đề di dân dưới con mắt riêng của mình mà quên đi gia tài thiêng liêng của chính các di dân. Về điểm này, tuy Giáo Hội Úc không khích lệ sự hiện diện của các “giáo hội quốc gia” tại Úc (trừ trường hợp cực chẳng đã của các Giáo Hội theo nghi lễ Đông Phương), nhưng khuyến khích các trung tâm quốc gia cho các nhóm di dân sắc tộc, như Trung Tâm Công Giáo Đức ở Croydon với nhà thờ Thánh Christophorus bên cạnh. Tiền bạc để mua lại ngôi nhà thờ của Tin Lành này đến từ Đức và giấy tờ sở hữu là tên của Cộng Đồng Công Giáo Đức sở tại. Chỉ có điều nếu Cộng Đồng này không sử dụng ngôi nhà thờ này nữa, họ không có quyền bán nó đi mà phải trao lại cho Tổng Giáo Phận Sydney. Các vị tuyên úy của Cộng Đồng này chấp hành nghiêm chỉnh các cố gắng của Tổng Giáo Phận như trong các lần quyên tiền hàng năm cho các dự án bác ái của Tổng Giáo Phận. Người ta nghĩ rằng, nếu cho phép thiết lập ra các giáo xứ quốc gia, thì việc chấp hành tương tự sẽ không có. Tại Summer Hill, có Trung Tâm Công Giáo Croatia. Trung tâm này và mọi trung tâm Công Giáo Croatia khác trên đất Úc đều thuộc các Cha Dòng Phanxicô, do đó mọi tài sản đều thuộc tỉnh dòng Phanxicô Úc Châu, nhưng nhân sự thì đến từ Croatia. Thành thử khác với Cộng Đồng Đức nơi linh mục tuyên úy của họ thuộc Tổng Giáo Phận Sydney, các tuyên úy của Cộng Đồng Croatia không thuộc Tổng Giáo Phận ấy.
Đến cuối năm 1950, tổng số di dân sau chiến tranh lên tới 567,000 người trong đó 80,000 thuộc đại vương quốc Anh, 43,000 người Ba Lan, 35,000 người Ý, 19,000 người Nam Tư, 17,000 người Nga, 13,000 người Lithuania, 13,000 người Hòa Lan, 11,000 người Hung gia lợi, và 10,000 người Tiệp.
Cuối năm 1951, tổng số di dân lên đến 700,000 người trong đó hết 180,000 người rời cư từ các trại ở Âu Châu. Và giữa thập niên 1950, con số di dân tới Úc trung bình mỗi năm chừng 100,000 người. Năm 1957, phúc trình gửi hội đồng giám mục Úc cho hay kể từ lúc chấm dứt Thế Chiến II, đã có 1 triệu rưỡi di dân tới Úc.
Thoạt đầu, di dân phần lớn đến từ đại vương quốc Anh và những người rời cư tại Âu Châu. Nhưng cuối thập niên 1950, phạm vi được mở rộng hơn để tiếp đón di dân từ các nơi khác, như Nam Mỹ (Brazil và Argentina), Nam Phi, Armenia, Egypt, Lebanon, Syria và Ethiopia, rồi Ấn Độ, Trung Hoa, Jordan, và Tunisia.
Trong thập niên 1960, chính phủ Úc đưa ra mục tiêu tiếp nhận mỗi năm chừng 100,000 di dân. Nhưng con số thực tế tới đây bao giờ cũng đông hơn: 120,000 năm 1968, 160,000 năm 1969, trong đó ít nhất 43,000 là di dân Công Giáo.
3. Thập Niên 1970 và Người Tị Nạn Đông Dương
Qua thập niên 1970, tại Úc, vấn đề di dân có trợ giúp được đem ra thảo luận rộng rãi. Nhân cơ hội này, chính phủ tài trợ nhiều cuộc nghiên cứu về phí tổn của việc di dân, mức độ và sự phân bổ dân số sao cho thật tốt, các điều kiện môi sinh, việc phát triển quốc gia và tiến bộ kinh tế. Chương trình di dân được quan niệm là để đảm bảo an ninh quốc gia, gia tăng tiềm lực kinh tế và mang lại cho người dân Úc các điều kiện môi sinh tốt nhất. Tiêu mức nhận di dân được ấn định cho tài khóa 1970-1971 là 180,000 người, cao hơn năm trước một chút, bao gồm 80,000 thần dân Anh, 25,000 người Nam Tư, 60,000 người thuộc các nước khác ở Âu Châu, 8,000 người Trung Đông, 4,000 người Bắc Mỹ, 2,000 người Châu Mỹ Latinh và 8,000 người khác không phải là Âu Châu. Con số di dân Công Giáo được uớc lượng là khoảng một phần tư số người trên. Với con số ấy, các di dân không phải là Anh sẽ chiếm 15% Dân số Úc.
Thực tế, chỉ có 170,011 di dân tới Úc năm 1970-1971, trong đó, người Công Giáo chiếm khoảng 30%. Năm sau, mục tiêu bị cắt giảm còn 130,000 người (thực tế 107,401 người tới), trong đó hết 10,000 không phải là người Âu Châu. Và cứ thế, giảm dần, năm sau chỉ còn 110,000. Số người không phải là Âu Châu cũng giảm theo, dù chính sách “Nước Úc Da Trắng” đã được bãi bỏ (1973). Lý do có thể vì tiêu chuẩn di dân trở nên khó khăn hơn chăng. Họ phải hội đủ 5 tiêu chuẩn như có giá trị về kinh tế, có đủ phẩm tính bản thân để hội nhập vào cộng đồng Úc, có chuyên môn tay nghề hay nghề nghiệp tương xứng với nhu cầu của cộng đồng, đầy đủ sức khỏe; tính tình thoả đáng, có ý định chọn Úc làm nơi thường trú và gia nhập Gia Đình Úc Châu như một công dân. Rõ ràng di dân được liên kết với nhu cầu nhân dụng và bị chi phối bởi các đòi hỏi kinh tế. Chính phủ Whitlam còn lộ liễu tái tổ chức Bộ Di Trú và đặt nó dưới quyền Bộ Trưởng Lao Động. Chính vì thế, tài khóa 1974-1975, chỉ có 80,000 di dân tới Úc. Vì tháng 10 năm 1974, lúc đã thi hành đến 7/8, chương trình di trú bị ngưng lại vì “sợ nạn thất nghiệp và kiệt quệ các phương tiện giáo dục và cộng đồng”. Chỉ những trường hợp hạn hữu như đoàn tụ gia đình, tay nghề cao hay chuyên nghiệp hoặc các cá nhân hay nhóm tị nạn có tính cách nhân đạo cao mới được nhận mà thôi.
Theo linh mục Frank Mecham, chủ nhiệm tam cá nguyệt san nghiên cứu The Australasian Catholic Record và tác giả cuốn “The Church And Migrants 1946-1987” (St Joan of Arc Press, 1991), một lần nữa, chính sách di dân của Úc lại đặt trọng tâm vào người tị nạn như thời sau Thế Chiến II. Tuy nhiên, chính phủ Whitlam thuộc Đảng Lao Động, vì những lý do chính trị (thiên Hà Nội), đã đối xử với người tị nạn Việt Nam một cách nghiệt ngã (so sánh họ với những người di dân bất hảo vùng Baltic). Chính Ủy Ban Ngoại Vụ của Thượng Viện Úc, trong phúc trình Australia and the Refugee Problem công bố năm 1976, đã chỉ trích chính phủ ấy không đóng vai trò tích cực trong việc di tản thường dân Việt Nam khỏi vùng lửa đạn. Ủy Ban này cho hay các vận tải cơ Hercules chở 34 nữ tu của Dòng Trinh Vương còn rất nhiều chỗ trống, nhưng phi hành đoàn đã từ khước rất nhiều thường dân khác dù họ đã có giấy phép rời Việt Nam. Sau khi Sài Gòn thất thủ, Úc đã cố tình kéo dài việc cứu xét giấy tờ di tản để hạn chế tối đa số người được nhận vào Úc, dù lúc đó có đến 11,000 giường trống tại các căn cứ tiếp nhận di dân (hostels) trên khắp lãnh thổ. Số sinh viên Việt Nam du học bị kẹt lại Úc lúc đó là 475 người. Họ nạp đơn cho 2,687 thân nhân qua đoàn tụ, cộng với 970 người do những người Việt Nam khác bảo lãnh, tất cả là 3,667 người, nhưng chính phủ Úc chỉ chấp thuận 251 người!
Úc chỉ thực sự tham gia việc tiếp nhận người tị nạn Việt Nam 9 tháng sau ngày Sài Gòn thất thủ, nghĩa là sau khi chính phủ Whitlam mất chức (11/11/1975) và chính phủ Fraser nhậm chức. Nhờ thế trong hai năm 1975, 1976, có tất cả 10,000 người tị nạn Việt-Nam được tiếp nhận vào Úc. Sau đó, mỗi năm, Úc tiếp nhận thêm 15,000 người nữa làm cho tổng số người tị nạn Việt Nam đến Úc định cư từ năm 1975 đến năm 1985 là trên 90,000. Và hơn số ấy di dân qua Úc trong thập niên 1990. Ngày nay, người ta ước chừng có khoảng 200,000 người Việt sinh sống tại Úc, mặc dù con số thống kê chính thức có hơi khác. Theo thống kê năm 2001, số cư dân Úc nhận mình sinh tại Việt Nam là 154,807 người, trong khi số người tự nhận mình nói tiếng Việt ở nhà lại lên tới 174,246 (có thể bao gồm người Việt thuộc thế hệ thứ hai, vốn sinh tại Úc?). Thống kê năm 2006 cho thấy có tất cả 156,581 người nhận mình sinh ra tại Việt Nam, tức chiếm 0.8% dân số Úc, trong đó, 30.3% theo Công Giáo, 0.4% theo Anh Giáo, 3.1 % theo các hệ phái Kitô Giáo khác, 55.2% theo các tôn giáo khác và 11% không theo tôn giáo nào. Số người Công Giáo Việt Nam tại Úc vì thế vào khoảng 47,000.
4. Giáo Hội Úc Với Người Di Dân Công Giáo Việt Nam
Andrew Jakubowicz, giáo sư xã hội học của Trường Đại Học Kỹ Thuật Sydney, trong một giảng khóa về Úc tựa là “Úc có phải là một Xã Hội Kỳ Thị Chủng Tộc hay không?” đọc tại Jakarta, Indonesia năm 1997, đã nhìn nhận trước đây quả Úc là một xã hội kỳ thị chủng tộc, nhưng nay đang cố vươn ra khỏi chính sách lỗi thời ấy.
Cái tình trạng còn tranh tối tranh sáng như thế được thể hiện rõ nhất qua hai lời tuyên bố trái ngược nhau của Alan Jones, người hết mình ủng hộ thủ tướng John Howard, trên làn sóng 2GB tháng 5 năm 2003 rằng: “Úc không phải là một xã hội đa văn hóa… mà là một xã hội đa sắc tộc với một nền văn hóa duy nhất (multiracial monocultural society)” và lời khác của Gary Hardgrave, tổng trưởng Công Dân và Đa Văn Hóa Sự Vụ thuộc chính phủ Howard vào tháng 7 cùng năm: “Hạn từ ‘chính sách đa văn hóa’ trong 25 năm tới sẽ trở thành dư thừa vì càng ngày càng có nhiều người Úc chấp nhận nó như một lối sống”.
Nói cho cùng, Úc vẫn là quốc gia đế quốc (imperial state); các chính phủ của nó cảm thấy bó buộc phải bảo vệ mảnh đất vốn tước đoạt được bằng vũ lực từ tay người Thổ Dân. Phải bảo vệ nó cho bằng được, chống lại các chính phủ hay các nhóm văn hóa nào dám thách thức sự tước đoạt kia. Họ cần phải kiểm soát cả người Thổ Dân lẫn những người mới tới để đảm bảo cho bằng được cái trật tự văn hóa, xã hội và kinh tế hiện hữu. Chính cái quyết tâm ấy đã đẻ ra chính sách “Nước Úc Da Trắng” (White Australia) chính thức tác động lên đời sống Úc từ năm 1901 (Immigration Restriction Act) tới tận năm 1973 thời chính phủ Gough Whitlam, dù nó đã thực sự ra đời trước đó từ lâu (chống người Trung Hoa trong biến bố tìm vàng thập niên 1850) và hiện vẫn còn âm ỉ, chưa bao giờ lùi bước hoàn toàn (hiện tượng Pauline Hanson, cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21). Chính sách này nhằm hạn chế việc tiếp nhận các di dân không da trắng, chỉ khuyến khích các di dân Âu Châu mà thôi. Thập niên 1940, nhiều biện pháp thực tiễn được đưa ra để khuyến khích việc tiếp nhận các di dân không phải người Anh và da trắng. Từ năm 1973 trở đi, chính sách này coi như bị bức tử vì những lý do thực tiễn, và năm 1975, chính phủ Úc (do Gough Whitlam lãnh đạo) ra đạo luật Chống Kỳ Thị Sắc Tộc đặt mọi tiêu chuẩn lựa chọn người dựa vào yếu tố sắc tộc ra ngoài vòng pháp luật.
Như thế, suốt ba thế hệ người Úc đã quá quen thuộc với chính sách Nước Úc Da Trắng mà cụ thể là đòi người di dân phải tan hòa (assimilated) vào cấu trúc xã hội Úc, như những cá thể. Nguyên tắc tan hòa này coi các thực hành văn hóa sắc tộc như điều gì đó còn tồn đọng và đang lùi dần vào dĩ vãng. Nó cho rằng duy trì nền văn hóa ấy là gây ra nhiều nan đề mà chính phủ không nên hỗ trợ. Những người ủng hộ nguyên tắc tan hòa, như nguyên thủ tướng Harold Holt, trong thập niên 1950, lúc ấy là bộ trưởng Di Trú, đòi phải có một nền văn hóa chung cho mọi người Úc, một nền văn hóa mà người Úc nào cũng có thể nhận dạng được và sẵn sàng chấp nhận không thắc mắc. Tuy chính sách Nước Úc Da Trắng đã chính thức được cáo chung năm 1973, mãi 1978, nguyên lý tan hòa này mới chính thức được khai tử khi thủ tướng Tin Lành Malcolm Fraser mời luật sư Công Giáo gốc Ái Nhĩ Lan là Francis Galbally cầm đầu một nhóm nghiên cứu tìm phương thức đưa các cộng đồng di dân hội nhập vào cộng đồng Úc. Chính sách đa văn hóa chính thức ra đời.
Tuy nhiên phúc trình “Migrant Services and Programs” của Galbally không đưa ra câu định nghĩa cho chính sách đa văn hóa mà chỉ đề nghị ra bốn nguyên tắc điều hướng việc củng cố và mở rộng các chương trình phúc lợi và giáo dục dành cho di dân. Bốn nguyên tắc đó là: cơ hội đồng đều đối với các chương trình và dịch vụ; mỗi người có quyền duy trì nền văn hóa riêng của mình và được khích lệ tôn trọng các nền văn hóa khác; nhu cầu di dân phải được thỏa mãn qua các chương trình tổng quát khi có thể, tuy nhiên cần phải có các chương trình đặc biệt để đảm bảo cơ hội đồng đều; các chương trình và dịch vụ cần phải được đưa ra với sự tham khảo các đối tượng phục vụ. Cuối thời chính phủ Fraser (1982), bốn nguyên tắc trên được thay thế bằng bốn nguyên tắc mới dựa vào phúc trình của Zubrzycki: gắn bó xã hội (social cohesion); tự do duy trì bản sắc văn hóa của mỗi người; bình đẳng về cơ hội; trách nhiệm, cam kết và dự phần đồng đều vào xã hội Úc. Chiều hướng thấy rõ là: mời gọi người di dân hội nhập vào cộng đồng Úc, một thực tại càng ngày càng được nhấn mạnh hơn, trước những chống đối kịch liệt của những người phần nào còn luyến tiếc thuở vàng son của Nước Úc Da Trắng. Năm 1983, chính phủ Lao Động của Bob Hawke lên cầm quyền, tuy vẫn tôn trọng các nguyên tắc của chính sách đa văn hóa, nhưng thực tế đã cắt giảm khá nhiều các cơ chế và chương trình dành cho di dân. Chiều hướng muốn lùi dần về quá khứ càng mạnh hơn với chính phủ Howard, người từng tuyên bố “Tôi không ủng hộ việc trở lại với chính sách Nước Úc Da Trắng. Nhưng tôi tin rằng, dưới cái nhìn của một số người trong cộng đồng ta, điều tuyệt diệu nhằm ích lợi ngay lúc này và để củng cố sự gắn bó xã hội, là nên giảm nhịp độ di dân đi một chút để cộng đồng có đủ khả năng hấp thụ nó nhiều hơn”.
Chính trong thời John Howard làm thủ tướng, “ngôi sao sáng” kỳ thị chủng tộc Pauline Hanson đã xuất hiện, với bài diễn văn đầu tiên đọc tại quốc hội ( 10-09-1996) trong đó có câu: “Tôi cũng như hầu hết các người Úc muốn chính sách di dân của chúng ta được tái duyệt một cách triệt để và bãi bỏ hẳn chính sách đa văn hóa. Tôi tin rằng chúng ta đang bị nguy cơ tràn ngập bởi người Á Châu. Trong khỏang các năm 1984 và 1995, bốn mươi phần trăm các di dân du nhập xứ này có nguồn gốc Á Châu. Họ có văn hóa và tôn giáo riêng của họ, tạo nên những khu biệt cư (ghettos) và không chịu đồng hóa”.
Giáo hội Công Giáo Úc, thoạt đầu, chịu ảnh hưởng nặng nề của hòan cảnh chính trị, nên đã tỏ ra khá khắt khe với những người di dân không cùng gia tài Ái Nhĩ Lan với mình. Điều này, xét cho cùng, chỉ là một phần trong diễn trình đấu tranh cho sự sống còn của chính họ mà thôi. Tuyệt đại đa số những người Công Giáo Úc đầu tiên đều là tội đồ gốc Ái Nhĩ Lan. Họ bị kỳ thị và bức bách đủ điều bởi những người Anh lúc ấy đang nắm quyền bính cả đời lẫn đạo. Nên bắt buộc họ phải gắn bó với Ái Nhĩ Lan như một thứ bản sắc để nhất định duy trì cho bằng được. Các tâm tình gắn bó ấy đến mãi hậu bán thế kỷ 20 vẫn còn rất mạnh nơi tâm thức người Công Giáo Úc, một tâm thức hết sức Công Giáo Ái Nhĩ Lan. Điều ấy giải thích một phần tại sao Giáo Hội này đã không chấp nhận hoàn toàn thông điệp Exul Familia của Toà Thánh ngay lúc nó vừa được ban hành. Điều ấy cũng giải thích phần nào thái độ và chính sách hiện nay của hầu hết các giáo phận Úc đối với các cộng đồng Công Giáo di dân tại đây về phương diện cơ cấu tổ chức, dù thái độ và chính sách ấy đã giúp đỡ người di dân một cách tốt đẹp, nhất là người tị nạn Công Giáo Việt Nam. Trong khi tại Hoa Kỳ, có giáo phận đã cho phép người Công Giáo Việt Nam thành lập giáo xứ riêng, thì tại Úc, chưa một giáo xứ nào như thế đã được thành lập, dù là ở Sydney hay Melbourne, Brisbane, Adelaide hay Perth.
(còn một kỳ)
Một số sự kiện mới đây xẩy ra cho Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam ở Sydney khiến nhiều người nghĩ: không hẳn như thế. Vẫn còn một thứ biên giới nào đó, ít nhất cho Cộng Đồng di dân tị nạn này, khi họ bị khước từ không được cử hành thánh lễ và thực hành nhiều sinh hoạt sống đạo khác theo ngôn ngữ và cung cách Việt Nam tại các cơ sở của một xứ đạo Úc. Nếu chỉ dừng lại ở bình diện giáo xứ, thì vấn đề không đến nỗi nặng nề khó thở, nhưng khi thẩm quyền cao nhất của giáo phận can thiệp vào và nghiêng về phía giáo xứ Úc, thì không những phẫn nộ mà còn đôi chút tủi buồn cho cộng đồng di dân tị nạn. Thực ra các hành động và phản ứng trên phức tạp hơn nhiều, không thể đơn giản tóm lược như trên. Nhưng để có được một cái nhìn khách quan và bình thản hơn, nguyên tắc biết người biết ta vẫn là nguyên tắc bất hủ để đưa ta ra khỏi thế bí, tìm được giải pháp để vừa là Người-Công-Giáo-Úc-Do-Phép-Rửa vừa là Người Công-Giáo-Việt-Nam-Do-Phép-Rửa-Và-Do-Truyền-Thống. Như sẽ thấy sau đây, lịch sử chính sách đối với người di dân và tị nạn suốt trong các thập niên qua vẫn là một giữa chính phủ Úc và giáo quyền ở đây.
Nước Úc liên hệ đến người tị nạn ngay từ trước Thế Chiến II, với việc tiếp nhận 7,000 người Do Thái trốn thoát chế độ Đức Quốc Xã năm 1938. Riêng Hội Đồng Giám Mục Úc Châu, năm 1944, đã lập ra Tiểu Ban Di Dân. Chính Tiểu Ban này đã gửi công hàm cho chính phủ Úc yêu cầu tiếp nhận các trẻ mồ côi từ Âu Châu. Tháng 4 năm 1946, ngay khi Châu Âu còn đang ngổn ngang với các tàn phá của chiến tranh, đức tổng giám mục Justin Simonds, vị tổng giám mục đầu tiên người Úc lúc đó đang là phó tổng giám mục của giáo phận Melbourne, được gửi qua đó để đích thân tìm hiểu nhu cầu của khu vực và phương cách Giáo Hội Úc có thể đáp ứng nhu cầu ấy. Ngài được đích thân đức cha Montini, tức đức Phaolô VI tương lai, lúc đó là thứ trưởng phủ quốc vụ khanh Tòa Thánh cung cấp xe và tài xế để du hành qua các nước Âu Châu đang bị chiếm đóng. Nhờ các cuộc du hành này mà có các chương trình tiếp nhận các trẻ em người Anh, chương trình nhận người di dân từ Malta và Balan. Cũng nhờ sự vận động của ngài mà năm 1947, bộ trưởng Di Trú đầu tiên của Úc là Arthur Calwell đã chịu ký tham gia Cơ Quan Tị Nạn Quốc Tế (IRO) vừa được Liên Hiệp Quốc thành lập, và đóng góp 860,000 bảng Anh một năm cho Cơ Quan này. Năm 1946, Đức Cha McGuire được Hội Đồng Giám Mục Úc trao nhiệm vụ thành lập Ủy Ban Di Dân Công Giáo Liên Bang (FCMC) sau đổi thành Ủy Ban Di Trú Công Giáo Liên Bang (FCIC) với nhiệm vụ nhân danh Hội Đồng Giám Mục Úc giải quyết mọi vấn đề liên quan đến Di Dân Công Giáo; đặc biệt, cung cấp sự chăm sóc thiêng liêng cho mọi di dân Công Giáo; giúp họ hội nhập vào cuộc sống giáo xứ và cộng đồng; giữ vai trò liên lạc với các cơ quan chính phủ và mọi cơ quan khác nhằm phục vụ lợi ích của các di dân Công Giáo. Tháng Sáu năm 1947, Ủy Ban này chính thức ra mắt. Tại mỗi Tiểu Bang, đều có Văn Phòng Di Trú Công Giáo.
1. Di Dân Tị Nạn Sau Thế Chiến II
Việc thành lập các cơ cấu trên rất hợp thời vì ngay sau đó, con số di dân vào Úc mỗi ngày một gia tăng đáng kể: 6 tháng đầu năm 1947, con số ấy chỉ chừng trên dưới 2 ngàn, nhưng đến nửa năm sau, con số ấy đã tăng tới 10,000 và đến năm 1949 thì cứ 6 tháng, Úc tiếp nhận chừng 66,000 di dân. Bộ Di Trú của Chính Phủ Liên Bang, mỗi khi có di dân Công Giáo, đều thông báo cho Ủy Ban để sắp xếp người ra gặp gỡ họ trên tầu và giúp đỡ họ định cư. Tưởng cũng nên ghi chú: trong số 840 người tị nạn đến Úc đợt đầu tháng 12 năm 1947, sáu mươi phần trăm là người Công Giáo. Tỷ lệ này sau đó có giảm đi. Nhưng cũng đủ chứng tỏ sự đóng góp to lớn của Giáo Hội Úc trong việc tiếp nhận người tị nạn sau Thế Chiến II. Không lạ gì, đức Tổng Giám Mục Montini, ngay tháng 9 năm 1947, đã nhân danh Đức Thánh Cha, gửi thư chúc mừng việc thành lập Ủy Ban Di Trú Công Giáo Liên Bang. Ủy Ban cũng được các cơ quan Chính Phủ Tiểu Bang cũng như Liên Bang hết lòng ca ngợi.
Đã đành các chính phủ Tiểu Bang cũng như Liên Bang cung cấp nhiều ngân khoản cho công việc định cư di dân cũng như người tị nạn. Nhưng ngân khoản ấy không bao giờ đầy đủ cho một công tác nhiều mặt này. Nên Giáo Hội Úc đã phải sử dụng đến cả các ngân khoản vốn do Bộ Truyền Giáo cung cấp cho việc truyền bá đức tin. Ngoài ra, hàng giáo phẩm còn phải nghĩ đến nhiều cách thế có thêm ngân khoản cho công tác này như tổ chức quyên tiền khắp nước Úc trong cùng một ngày Chúa Nhật. Cuộc quyên tiền đầu tiên năm 1949 thu được 3,499 bảng Anh, một số tiền không nhỏ khi mang so sánh với ngân sách hàng năm của Ủy Ban Di Trú Công Giáo Liên Bang là 11,690 Bảng. Nhưng nhu cầu thiêng liêng của người di dân tị nạn còn làm hàng giáo phẩm Úc lo âu hơn nữa. Các phúc trình từ Mỹ cho thấy số người di dân tị nạn Công Giáo chạy qua các giáo phái khác chỉ vì thiếu các giáo sĩ bản xứ chăm lo nhu cầu thiêng liêng cho họ làm các ngài chạy đôn chạy đáo vận động sao cho có đủ các tuyên úy sắc tộc đến Úc phục vụ. Trong khi chờ đợi, các giáo phận phải tìm cách in ấn mẫu xưng tội cũng như các bí tích khác bằng 17, 18 ngôn ngữ khác nhau giúp người xưng tội cũng như các cha giải tội có thể thi hành phận sự của mình một cách “hợp phép”.
Điều khó khăn hơn cả trong khía cạnh này là các tín hữu thuộc các giáo hội theo nghi lễ Đông Phương. Họ gây “kinh hoàng” cho giáo dân Úc không ít. Một giáo dân Úc báo cáo: “trời đất, sáng nay có ông từ tầu bước xuống, tự xưng mình là linh mục mà lại có vợ mới khổ, sao có người thánh mà lại nói với tôi như thế không biết!”. Phản ứng tâm lý này không những chỉ có nơi người giáo dân bình thường, chính đức hồng y Gilroy cũng bỗng nhiên tái mặt trong lúc đang vui vẻ dùng tiếng Latinh phỏng vấn một linh mục theo nghi lễ này, chỉ vì vị linh mục này cho ngài hay: “sum uxuratus” (con có vợ!). Nói tóm lại, phản ứng này mạnh đến nỗi hàng giáo phẩm Úc phải đưa ra khuyến cáo chỉ cho phép các giáo sĩ theo nghi lễ Đông Phương nào sống độc thân mới được quyền thi hành thừa tác vụ của mình cách công khai tại nước Úc mà thôi.
Khuyến cáo này bị Thánh Bộ Giáo Hội Đông Phương bác bỏ bằng văn thư ngày 5 tháng 10 năm 1949. Các khác biệt về văn hóa cũng gây nhiều trở ngại: đối với người Úc, việc dùng một cơ sở vừa làm nhà thờ vừa làm trường học là điều thông thường, nhưng người di dân không chấp nhận việc ấy vì coi nó như một việc phạm thánh không hơn không kém. Ngoài ra, hàng giáo phẩm Úc còn phải đương đầu với các tệ nạn phát sinh từ chương trình tiếp nhận di dân ồ ạt của chính phủ Úc. Ngày 9 tháng 11 năm 1949, hội nghị thường niên các giám mục Úc tại Sydney đã gửi cho chính phủ nhiều khuyến cáo, đặc biệt là các khuyến cáo số 15 và số 16, trong đó các ngài lên án việc cưỡng bức phân rẽ chồng khỏi vợ và con cái vì lý do công ăn việc làm, coi nó như phá hủy cuộc sống gia đình và sui khiến người ta vi phạm luật luân lý.
2. Tông Hiến Exsul Familia
Như trên đã nói, sau Thế Chiến II, Liên Hiệp Quốc thiết lập ra cơ quan Tị Nạn Quốc Tế (IRO) phụ trách giải quyết vấn đề hàng triệu người bị bứng gốc không muốn trở về quê hương của họ. Cơ quan này đặc biệt chú ý tới số phận những người không có quốc gia (stateless), giúp họ di cư ra nước ngoài. Cơ quan này vì thế cung cấp cả sự che chở quốc tế lẫn trợ giúp vật chất. Nó đã giúp hàng triệu người định cư trên các vùng đất mới với một phí tổn lớn lao lên đến 430,000,000 mỹ kim. Điều ấy khiến các chính phủ cảm thấy mệt mỏi và họ đã đi đến kết luận phải giải tán cơ quan này vào cuối năm 1951. Trách nhiệm giải quyết số nạn nhân tồn đọng trao cho các quốc gia hiện có những người này hiện diện. Thay thế cho IRO, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc cho thiết lập tại Genève Văn Phòng Cao Úy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR), với nhiệm vụ thu nhỏ vào phạm vi bảo vệ mà thôi.
Tuy nhiên, các nước  Châu, vì vừa ra khỏi cuộc chiến tàn khốc, đến chính công dân của mình cũng chưa cung cấp đủ nhà ở và công ăn việc làm, nên khó có thể cáng đáng số 130,000 người đang được UNHCR bảo vệ trong các trại tị nạn ở Âu Châu và chắc chắn từng ấy người nữa sống ngoài các trại ấy. Chính vì thế, Hội Nghị Di Dân họp tại Naples ngày 2 tháng 10 năm 1951 đã quyết định thiết lập ra một cơ chế di dân liên chính phủ để chăm lo số dân thặng dư, trong đó có người tị nạn. Cơ chế mới này có tên là Ủy Ban Liên Chính Phủ Phụ Trách Di Dân Âu Châu (ICEM) sau đổi thành Ủy Ban Liên Chính Phủ Phụ Trách Di Dân (ICM), thoạt đầu đặt tại Brussels, nhưng sau được rời về Genève.
Ngay từ đầu, hai cơ quan UNHCR và ICEM làm việc chặt chẽ bên cạnh nhau. Tuy nhiên phạm vi hoạt động của UNHCR chỉ là người tị nạn được họ định nghĩa là người sống bên ngoài xứ sở quốc tịch (hay nếu không có quốc tịch, thì bên ngoài xứ sở họ thường cư trú trước đây) vì họ hiện có hay đã có mối sợ có căn cứ vững chắc sẽ bị bách hại vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch hay chính kiến. Phạm vi của ICEM rộng rãi hơn: họ coi bất cứ ai sống ngoài xứ sở quốc tịch hay nơi thường trú đều là người tị nạn.
Tại Âu Châu hậu chiến, Giáo Hội Công Giáo vốn bận bịu chăm lo cho người tị nạn theo nghĩa rộng rãi của từ này từ lâu. Tòa Thánh đã thiết lập ra Văn Phòng Di Dân Vatican (VMB) trực thuộc Phủ Quốc Vụ Khanh. Khi thấy các cố gắng giúp người tị nạn của Liên Hiệp Quốc tập trung tại Genève, trọng tâm hoạt động của Giáo Hội trong phạm vi này cũng chuyển từ Rome qua thành phố nổi tiếng kia. Đóng vai trò lớn trong vấn đề này là đức hồng y Frings của Cologne, vị hồng y đang hết sức tích cực lo giải quyết hàng triệu người rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn của mình trên đất Đức.
Ngài thỉnh cầu đức thánh cha Piô XII tập hợp các cố gắng của Công Giáo trên khắp thế giới nhằm trợ giúp người tị nạn. Từ đó mà có Hội Đồng Di Dân Công Giáo Quốc Tế (ICMC), với phiên họp đầu tiên tại Rome vào ngày 5 và 6 tháng 6 năm 1951. Cơ quan này làm việc chặt chẽ với ICEM, gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp nhờ các chi nhánh rải rác khắp thế giới. Dù Giáo Hội Úc tỏ ra dè dặt lúc đầu vì các lo ngại tài chánh, nên chỉ gửi quan sát viên là linh mục Vivian Morrison lúc đó đang du học tại Rome đến tham dự. Mãi một năm sau, mới có đại diện chính thức của Úc là linh mục Patrick McCabe tham dự hội nghị của Tổ Chức này tại Barcelona. Tuy thế, Hội Đồng đánh giá cao sự đóng góp của Giáo Hội Úc qua việc chấp nhận huy hiệu của Úc làm huy hiệu của mình.
Nhờ tham gia ICMC, Ủy Ban Di Trú Công Giáo Úc sử dụng được Quỹ Cho Di Dân Công Giáo Quốc Tế Vay Tiền (ICMLF) giúp họ trả được phí tổn du hành qua Úc. Nói chung, từ lúc thành lập tới năm 1956, qũy này đã chi 17,000,000 mỹ kim, giúp 50,000 di dân đi định cư. Đó mới chỉ là con số tại Úc, con số khắp thế giới là 164,371,291 mỹ kim, với số người thụ hưởng là 576,663.
Một biến cố quan trọng xẩy ra năm 1952 (tháng Tám) đó là việc ban hành tông hiến Exsul Familia. Dù từ lâu, nhất là từ đời Đức Lêô XIII, Giáo Hội Công Giáo đã tích cực tham dự vào việc giúp đỡ người di dân trên khắp thế giới, nhưng phải đợi đến thế kỷ 20, Giáo Hội mới long trọng và chính thức lên tiếng về vấn đề di dân và tị nạn qua tông hiến trên, nhằm hệ thống hóa các nguyên tắc xưa nay mình vẫn có về việc trợ giúp các di dân và tị nạn về phương diện tâm linh. Tông Hiến này thiết lập ra một thánh bộ riêng lo mọi vấn đề về di dân. Một Hội Đồng Di Dân Tối Cao được thiết lập trong thánh bộ này để làm việc với các ủy ban giám mục các quốc gia lo về di dân. Tổng Thư Ký của Hội Đồng này đứng đầu Văn Phòng Đại Biểu Di Dân, đồng thời cũng là Tổng Thư Ký của Văn Phòng Quốc Tế Tông Đồ Trên Biển. Hiến chế này có điều đặc biệt là đã dự liệu việc thiết lập ra các Giáo Xứ Quốc Gia (National Parishes), ban cho các nhà truyền giáo di dân việc chăm sóc các linh hồn, và mỗi nhóm truyền giáo thuộc một quốc tịch có quyền có một Giám Đốc riêng. Tông Hiến cũng kêu gọi các giám mục khắp thế giới Công Giáo hãy dành Chúa Nhật Thứ Nhất mùa Vọng hàng năm làm Ngày Di Dân.
Giáo Hội Úc không tiếp nhận mẫu Giáo Xứ Quốc Gia được Tông Hiến dự liệu,cũng như không trao cho các nhà truyền giáo di dân quyền chăm sóc các linh hồn, nhưng đã tiếp tục thi hành phương thức vốn có của mình là yêu cầu các tuyên úy di dân cộng tác với các cha xứ là những người thực sự được trao phó việc chăm sóc các linh hồn. Giáo quyền Úc cũng không đề cử Giám Đốc Toàn Quốc cho các tuyên úy di dân của một quốc tịch, coi điều đó không thích hợp với việc tông đồ di dân tại đây… Tuy nhiên, việc dành một ngày Chúa Nhật làm ngày Di Dân hàng năm, thì Giáo Hội Úc chấp hành nghiêm chỉnh (tuy không đúng Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng). Việc quyên tiền trong ngày ấy tiếp diễn đến tận năm 1980. Sau đó, để tránh có quá nhiều lần xin tiền, nên Giáo Hội Úc đã quyết định quyên tiền mỗi năm một số lần làm qũy chung cho các chương trình mục vụ của mình, trong đó có vấn đề Di Dân. Việc này, và nhất là kết quả khả quan trong chương trình di dân Công Giáo của Úc, đã làm Vatican, nói chung, hài lòng về đáp ứng có trách nhiệm của Giáo Hội Úc đối với Tông Hiến Exsul Familia. Đức Hồng Y Piazza, tổng trưởng thánh bộ di dân, trong văn thư năm 1954 gửi Khâm Sứ Tòa Thánh tại Úc đã viết như sau: “Thánh bộ này, hơn bao giờ hết, tin tưởng rằng việc áp dụng cách khôn ngoan và thông minh các qui định của Exsul Familia – mà không gây bất cứ xáo trộn nào – đã đem lại thành quả đáng kể trong việc chăm sóc đầy tình mẫu tử, nhiều mặt và thực sự hữu hiệu của Giáo Hội đối với những người con khốn khó nhất của mình”.
Giáo Hội Úc cũng cảm thấy lên tinh thần nhờ những thay đổi vào năm 1969 qua tông thư Pastoralis Migratorum qua đó, hàng giáo phẩm địa phương được trao nhiều thẩm quyền hơn. Trước đây các tuyên úy di dân được Thánh Bộ cử nhiệm, nay việc bổ nhiệm ấy là do hội đồng các giám mục sở tại; Chúa Nhật Di Dân có thể là bất cứ Chúa Nhật nào…Các biện pháp từng được Giáo Hội Úc áp dụng nay được tông thư này biến thành qui định. Tông thư này vì thế đã chú trọng nhiều hơn đến tính đa dạng của vấn đề di dân trong các môi trường khác nhau, chứ không quanh quẩn ở các kinh nghiệm Âu Châu như tông hiến Exsul Familia. Tông thư này cũng còn một điểm son là đã lưu ý các nước tiếp nhận di dân và tị nạn không nên chỉ nhìn vấn đề di dân dưới con mắt riêng của mình mà quên đi gia tài thiêng liêng của chính các di dân. Về điểm này, tuy Giáo Hội Úc không khích lệ sự hiện diện của các “giáo hội quốc gia” tại Úc (trừ trường hợp cực chẳng đã của các Giáo Hội theo nghi lễ Đông Phương), nhưng khuyến khích các trung tâm quốc gia cho các nhóm di dân sắc tộc, như Trung Tâm Công Giáo Đức ở Croydon với nhà thờ Thánh Christophorus bên cạnh. Tiền bạc để mua lại ngôi nhà thờ của Tin Lành này đến từ Đức và giấy tờ sở hữu là tên của Cộng Đồng Công Giáo Đức sở tại. Chỉ có điều nếu Cộng Đồng này không sử dụng ngôi nhà thờ này nữa, họ không có quyền bán nó đi mà phải trao lại cho Tổng Giáo Phận Sydney. Các vị tuyên úy của Cộng Đồng này chấp hành nghiêm chỉnh các cố gắng của Tổng Giáo Phận như trong các lần quyên tiền hàng năm cho các dự án bác ái của Tổng Giáo Phận. Người ta nghĩ rằng, nếu cho phép thiết lập ra các giáo xứ quốc gia, thì việc chấp hành tương tự sẽ không có. Tại Summer Hill, có Trung Tâm Công Giáo Croatia. Trung tâm này và mọi trung tâm Công Giáo Croatia khác trên đất Úc đều thuộc các Cha Dòng Phanxicô, do đó mọi tài sản đều thuộc tỉnh dòng Phanxicô Úc Châu, nhưng nhân sự thì đến từ Croatia. Thành thử khác với Cộng Đồng Đức nơi linh mục tuyên úy của họ thuộc Tổng Giáo Phận Sydney, các tuyên úy của Cộng Đồng Croatia không thuộc Tổng Giáo Phận ấy.
Đến cuối năm 1950, tổng số di dân sau chiến tranh lên tới 567,000 người trong đó 80,000 thuộc đại vương quốc Anh, 43,000 người Ba Lan, 35,000 người Ý, 19,000 người Nam Tư, 17,000 người Nga, 13,000 người Lithuania, 13,000 người Hòa Lan, 11,000 người Hung gia lợi, và 10,000 người Tiệp.
Cuối năm 1951, tổng số di dân lên đến 700,000 người trong đó hết 180,000 người rời cư từ các trại ở Âu Châu. Và giữa thập niên 1950, con số di dân tới Úc trung bình mỗi năm chừng 100,000 người. Năm 1957, phúc trình gửi hội đồng giám mục Úc cho hay kể từ lúc chấm dứt Thế Chiến II, đã có 1 triệu rưỡi di dân tới Úc.
Thoạt đầu, di dân phần lớn đến từ đại vương quốc Anh và những người rời cư tại Âu Châu. Nhưng cuối thập niên 1950, phạm vi được mở rộng hơn để tiếp đón di dân từ các nơi khác, như Nam Mỹ (Brazil và Argentina), Nam Phi, Armenia, Egypt, Lebanon, Syria và Ethiopia, rồi Ấn Độ, Trung Hoa, Jordan, và Tunisia.
Trong thập niên 1960, chính phủ Úc đưa ra mục tiêu tiếp nhận mỗi năm chừng 100,000 di dân. Nhưng con số thực tế tới đây bao giờ cũng đông hơn: 120,000 năm 1968, 160,000 năm 1969, trong đó ít nhất 43,000 là di dân Công Giáo.
3. Thập Niên 1970 và Người Tị Nạn Đông Dương
Qua thập niên 1970, tại Úc, vấn đề di dân có trợ giúp được đem ra thảo luận rộng rãi. Nhân cơ hội này, chính phủ tài trợ nhiều cuộc nghiên cứu về phí tổn của việc di dân, mức độ và sự phân bổ dân số sao cho thật tốt, các điều kiện môi sinh, việc phát triển quốc gia và tiến bộ kinh tế. Chương trình di dân được quan niệm là để đảm bảo an ninh quốc gia, gia tăng tiềm lực kinh tế và mang lại cho người dân Úc các điều kiện môi sinh tốt nhất. Tiêu mức nhận di dân được ấn định cho tài khóa 1970-1971 là 180,000 người, cao hơn năm trước một chút, bao gồm 80,000 thần dân Anh, 25,000 người Nam Tư, 60,000 người thuộc các nước khác ở Âu Châu, 8,000 người Trung Đông, 4,000 người Bắc Mỹ, 2,000 người Châu Mỹ Latinh và 8,000 người khác không phải là Âu Châu. Con số di dân Công Giáo được uớc lượng là khoảng một phần tư số người trên. Với con số ấy, các di dân không phải là Anh sẽ chiếm 15% Dân số Úc.
Thực tế, chỉ có 170,011 di dân tới Úc năm 1970-1971, trong đó, người Công Giáo chiếm khoảng 30%. Năm sau, mục tiêu bị cắt giảm còn 130,000 người (thực tế 107,401 người tới), trong đó hết 10,000 không phải là người Âu Châu. Và cứ thế, giảm dần, năm sau chỉ còn 110,000. Số người không phải là Âu Châu cũng giảm theo, dù chính sách “Nước Úc Da Trắng” đã được bãi bỏ (1973). Lý do có thể vì tiêu chuẩn di dân trở nên khó khăn hơn chăng. Họ phải hội đủ 5 tiêu chuẩn như có giá trị về kinh tế, có đủ phẩm tính bản thân để hội nhập vào cộng đồng Úc, có chuyên môn tay nghề hay nghề nghiệp tương xứng với nhu cầu của cộng đồng, đầy đủ sức khỏe; tính tình thoả đáng, có ý định chọn Úc làm nơi thường trú và gia nhập Gia Đình Úc Châu như một công dân. Rõ ràng di dân được liên kết với nhu cầu nhân dụng và bị chi phối bởi các đòi hỏi kinh tế. Chính phủ Whitlam còn lộ liễu tái tổ chức Bộ Di Trú và đặt nó dưới quyền Bộ Trưởng Lao Động. Chính vì thế, tài khóa 1974-1975, chỉ có 80,000 di dân tới Úc. Vì tháng 10 năm 1974, lúc đã thi hành đến 7/8, chương trình di trú bị ngưng lại vì “sợ nạn thất nghiệp và kiệt quệ các phương tiện giáo dục và cộng đồng”. Chỉ những trường hợp hạn hữu như đoàn tụ gia đình, tay nghề cao hay chuyên nghiệp hoặc các cá nhân hay nhóm tị nạn có tính cách nhân đạo cao mới được nhận mà thôi.
Theo linh mục Frank Mecham, chủ nhiệm tam cá nguyệt san nghiên cứu The Australasian Catholic Record và tác giả cuốn “The Church And Migrants 1946-1987” (St Joan of Arc Press, 1991), một lần nữa, chính sách di dân của Úc lại đặt trọng tâm vào người tị nạn như thời sau Thế Chiến II. Tuy nhiên, chính phủ Whitlam thuộc Đảng Lao Động, vì những lý do chính trị (thiên Hà Nội), đã đối xử với người tị nạn Việt Nam một cách nghiệt ngã (so sánh họ với những người di dân bất hảo vùng Baltic). Chính Ủy Ban Ngoại Vụ của Thượng Viện Úc, trong phúc trình Australia and the Refugee Problem công bố năm 1976, đã chỉ trích chính phủ ấy không đóng vai trò tích cực trong việc di tản thường dân Việt Nam khỏi vùng lửa đạn. Ủy Ban này cho hay các vận tải cơ Hercules chở 34 nữ tu của Dòng Trinh Vương còn rất nhiều chỗ trống, nhưng phi hành đoàn đã từ khước rất nhiều thường dân khác dù họ đã có giấy phép rời Việt Nam. Sau khi Sài Gòn thất thủ, Úc đã cố tình kéo dài việc cứu xét giấy tờ di tản để hạn chế tối đa số người được nhận vào Úc, dù lúc đó có đến 11,000 giường trống tại các căn cứ tiếp nhận di dân (hostels) trên khắp lãnh thổ. Số sinh viên Việt Nam du học bị kẹt lại Úc lúc đó là 475 người. Họ nạp đơn cho 2,687 thân nhân qua đoàn tụ, cộng với 970 người do những người Việt Nam khác bảo lãnh, tất cả là 3,667 người, nhưng chính phủ Úc chỉ chấp thuận 251 người!
Úc chỉ thực sự tham gia việc tiếp nhận người tị nạn Việt Nam 9 tháng sau ngày Sài Gòn thất thủ, nghĩa là sau khi chính phủ Whitlam mất chức (11/11/1975) và chính phủ Fraser nhậm chức. Nhờ thế trong hai năm 1975, 1976, có tất cả 10,000 người tị nạn Việt-Nam được tiếp nhận vào Úc. Sau đó, mỗi năm, Úc tiếp nhận thêm 15,000 người nữa làm cho tổng số người tị nạn Việt Nam đến Úc định cư từ năm 1975 đến năm 1985 là trên 90,000. Và hơn số ấy di dân qua Úc trong thập niên 1990. Ngày nay, người ta ước chừng có khoảng 200,000 người Việt sinh sống tại Úc, mặc dù con số thống kê chính thức có hơi khác. Theo thống kê năm 2001, số cư dân Úc nhận mình sinh tại Việt Nam là 154,807 người, trong khi số người tự nhận mình nói tiếng Việt ở nhà lại lên tới 174,246 (có thể bao gồm người Việt thuộc thế hệ thứ hai, vốn sinh tại Úc?). Thống kê năm 2006 cho thấy có tất cả 156,581 người nhận mình sinh ra tại Việt Nam, tức chiếm 0.8% dân số Úc, trong đó, 30.3% theo Công Giáo, 0.4% theo Anh Giáo, 3.1 % theo các hệ phái Kitô Giáo khác, 55.2% theo các tôn giáo khác và 11% không theo tôn giáo nào. Số người Công Giáo Việt Nam tại Úc vì thế vào khoảng 47,000.
4. Giáo Hội Úc Với Người Di Dân Công Giáo Việt Nam
Andrew Jakubowicz, giáo sư xã hội học của Trường Đại Học Kỹ Thuật Sydney, trong một giảng khóa về Úc tựa là “Úc có phải là một Xã Hội Kỳ Thị Chủng Tộc hay không?” đọc tại Jakarta, Indonesia năm 1997, đã nhìn nhận trước đây quả Úc là một xã hội kỳ thị chủng tộc, nhưng nay đang cố vươn ra khỏi chính sách lỗi thời ấy.
Cái tình trạng còn tranh tối tranh sáng như thế được thể hiện rõ nhất qua hai lời tuyên bố trái ngược nhau của Alan Jones, người hết mình ủng hộ thủ tướng John Howard, trên làn sóng 2GB tháng 5 năm 2003 rằng: “Úc không phải là một xã hội đa văn hóa… mà là một xã hội đa sắc tộc với một nền văn hóa duy nhất (multiracial monocultural society)” và lời khác của Gary Hardgrave, tổng trưởng Công Dân và Đa Văn Hóa Sự Vụ thuộc chính phủ Howard vào tháng 7 cùng năm: “Hạn từ ‘chính sách đa văn hóa’ trong 25 năm tới sẽ trở thành dư thừa vì càng ngày càng có nhiều người Úc chấp nhận nó như một lối sống”.
Nói cho cùng, Úc vẫn là quốc gia đế quốc (imperial state); các chính phủ của nó cảm thấy bó buộc phải bảo vệ mảnh đất vốn tước đoạt được bằng vũ lực từ tay người Thổ Dân. Phải bảo vệ nó cho bằng được, chống lại các chính phủ hay các nhóm văn hóa nào dám thách thức sự tước đoạt kia. Họ cần phải kiểm soát cả người Thổ Dân lẫn những người mới tới để đảm bảo cho bằng được cái trật tự văn hóa, xã hội và kinh tế hiện hữu. Chính cái quyết tâm ấy đã đẻ ra chính sách “Nước Úc Da Trắng” (White Australia) chính thức tác động lên đời sống Úc từ năm 1901 (Immigration Restriction Act) tới tận năm 1973 thời chính phủ Gough Whitlam, dù nó đã thực sự ra đời trước đó từ lâu (chống người Trung Hoa trong biến bố tìm vàng thập niên 1850) và hiện vẫn còn âm ỉ, chưa bao giờ lùi bước hoàn toàn (hiện tượng Pauline Hanson, cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21). Chính sách này nhằm hạn chế việc tiếp nhận các di dân không da trắng, chỉ khuyến khích các di dân Âu Châu mà thôi. Thập niên 1940, nhiều biện pháp thực tiễn được đưa ra để khuyến khích việc tiếp nhận các di dân không phải người Anh và da trắng. Từ năm 1973 trở đi, chính sách này coi như bị bức tử vì những lý do thực tiễn, và năm 1975, chính phủ Úc (do Gough Whitlam lãnh đạo) ra đạo luật Chống Kỳ Thị Sắc Tộc đặt mọi tiêu chuẩn lựa chọn người dựa vào yếu tố sắc tộc ra ngoài vòng pháp luật.
Như thế, suốt ba thế hệ người Úc đã quá quen thuộc với chính sách Nước Úc Da Trắng mà cụ thể là đòi người di dân phải tan hòa (assimilated) vào cấu trúc xã hội Úc, như những cá thể. Nguyên tắc tan hòa này coi các thực hành văn hóa sắc tộc như điều gì đó còn tồn đọng và đang lùi dần vào dĩ vãng. Nó cho rằng duy trì nền văn hóa ấy là gây ra nhiều nan đề mà chính phủ không nên hỗ trợ. Những người ủng hộ nguyên tắc tan hòa, như nguyên thủ tướng Harold Holt, trong thập niên 1950, lúc ấy là bộ trưởng Di Trú, đòi phải có một nền văn hóa chung cho mọi người Úc, một nền văn hóa mà người Úc nào cũng có thể nhận dạng được và sẵn sàng chấp nhận không thắc mắc. Tuy chính sách Nước Úc Da Trắng đã chính thức được cáo chung năm 1973, mãi 1978, nguyên lý tan hòa này mới chính thức được khai tử khi thủ tướng Tin Lành Malcolm Fraser mời luật sư Công Giáo gốc Ái Nhĩ Lan là Francis Galbally cầm đầu một nhóm nghiên cứu tìm phương thức đưa các cộng đồng di dân hội nhập vào cộng đồng Úc. Chính sách đa văn hóa chính thức ra đời.
Tuy nhiên phúc trình “Migrant Services and Programs” của Galbally không đưa ra câu định nghĩa cho chính sách đa văn hóa mà chỉ đề nghị ra bốn nguyên tắc điều hướng việc củng cố và mở rộng các chương trình phúc lợi và giáo dục dành cho di dân. Bốn nguyên tắc đó là: cơ hội đồng đều đối với các chương trình và dịch vụ; mỗi người có quyền duy trì nền văn hóa riêng của mình và được khích lệ tôn trọng các nền văn hóa khác; nhu cầu di dân phải được thỏa mãn qua các chương trình tổng quát khi có thể, tuy nhiên cần phải có các chương trình đặc biệt để đảm bảo cơ hội đồng đều; các chương trình và dịch vụ cần phải được đưa ra với sự tham khảo các đối tượng phục vụ. Cuối thời chính phủ Fraser (1982), bốn nguyên tắc trên được thay thế bằng bốn nguyên tắc mới dựa vào phúc trình của Zubrzycki: gắn bó xã hội (social cohesion); tự do duy trì bản sắc văn hóa của mỗi người; bình đẳng về cơ hội; trách nhiệm, cam kết và dự phần đồng đều vào xã hội Úc. Chiều hướng thấy rõ là: mời gọi người di dân hội nhập vào cộng đồng Úc, một thực tại càng ngày càng được nhấn mạnh hơn, trước những chống đối kịch liệt của những người phần nào còn luyến tiếc thuở vàng son của Nước Úc Da Trắng. Năm 1983, chính phủ Lao Động của Bob Hawke lên cầm quyền, tuy vẫn tôn trọng các nguyên tắc của chính sách đa văn hóa, nhưng thực tế đã cắt giảm khá nhiều các cơ chế và chương trình dành cho di dân. Chiều hướng muốn lùi dần về quá khứ càng mạnh hơn với chính phủ Howard, người từng tuyên bố “Tôi không ủng hộ việc trở lại với chính sách Nước Úc Da Trắng. Nhưng tôi tin rằng, dưới cái nhìn của một số người trong cộng đồng ta, điều tuyệt diệu nhằm ích lợi ngay lúc này và để củng cố sự gắn bó xã hội, là nên giảm nhịp độ di dân đi một chút để cộng đồng có đủ khả năng hấp thụ nó nhiều hơn”.
Chính trong thời John Howard làm thủ tướng, “ngôi sao sáng” kỳ thị chủng tộc Pauline Hanson đã xuất hiện, với bài diễn văn đầu tiên đọc tại quốc hội ( 10-09-1996) trong đó có câu: “Tôi cũng như hầu hết các người Úc muốn chính sách di dân của chúng ta được tái duyệt một cách triệt để và bãi bỏ hẳn chính sách đa văn hóa. Tôi tin rằng chúng ta đang bị nguy cơ tràn ngập bởi người Á Châu. Trong khỏang các năm 1984 và 1995, bốn mươi phần trăm các di dân du nhập xứ này có nguồn gốc Á Châu. Họ có văn hóa và tôn giáo riêng của họ, tạo nên những khu biệt cư (ghettos) và không chịu đồng hóa”.
Giáo hội Công Giáo Úc, thoạt đầu, chịu ảnh hưởng nặng nề của hòan cảnh chính trị, nên đã tỏ ra khá khắt khe với những người di dân không cùng gia tài Ái Nhĩ Lan với mình. Điều này, xét cho cùng, chỉ là một phần trong diễn trình đấu tranh cho sự sống còn của chính họ mà thôi. Tuyệt đại đa số những người Công Giáo Úc đầu tiên đều là tội đồ gốc Ái Nhĩ Lan. Họ bị kỳ thị và bức bách đủ điều bởi những người Anh lúc ấy đang nắm quyền bính cả đời lẫn đạo. Nên bắt buộc họ phải gắn bó với Ái Nhĩ Lan như một thứ bản sắc để nhất định duy trì cho bằng được. Các tâm tình gắn bó ấy đến mãi hậu bán thế kỷ 20 vẫn còn rất mạnh nơi tâm thức người Công Giáo Úc, một tâm thức hết sức Công Giáo Ái Nhĩ Lan. Điều ấy giải thích một phần tại sao Giáo Hội này đã không chấp nhận hoàn toàn thông điệp Exul Familia của Toà Thánh ngay lúc nó vừa được ban hành. Điều ấy cũng giải thích phần nào thái độ và chính sách hiện nay của hầu hết các giáo phận Úc đối với các cộng đồng Công Giáo di dân tại đây về phương diện cơ cấu tổ chức, dù thái độ và chính sách ấy đã giúp đỡ người di dân một cách tốt đẹp, nhất là người tị nạn Công Giáo Việt Nam. Trong khi tại Hoa Kỳ, có giáo phận đã cho phép người Công Giáo Việt Nam thành lập giáo xứ riêng, thì tại Úc, chưa một giáo xứ nào như thế đã được thành lập, dù là ở Sydney hay Melbourne, Brisbane, Adelaide hay Perth.
(còn một kỳ)