CHƯƠNG II: HIỆP THÔNG GIÁO HỘI
A. Nhập đề
36. Sự sống Thiên Chúa trong mầu nhiệm Ba Ngôi là nền tảng và mẫu mực cho sự hiệp thông Kitô Giáo.
37. Chúa Giêsu dùng hình ảnh cây nho và ngành (Ga 15:1-7) để nói về sự hợp nhất sự sống. Thánh Phaolô dùng hình ảnh thân thể để nói về cùng một sự hợp nhất ấy (1Cor 12:12-21).
B. Hiệp thông trong GHCG và nơi các GH
38. Hiệp thông trong GH Hoàn Vũ được thể hiện 2 cách: hiệp thông trong Thánh Thể và hiệp thông với Đức Giáo Hoàng. Đối với cách thứ hai, tài liệu nói tới Bộ Giáo Luật dành cho các GH Đông Phương cũng như Thánh Bộ Các GH Đông Phương như phương tiện thực hiện nó.
39. Trên bình diện tín hữu, mọi định chế giáo dục và xã hội của CG đểu tiếp đón mọi Kitô hữu không hề phân biệt. Tại các thị trấn, tín hữu CG thuộc các GH khác nhau thường viếng thăm bất cứ Nhà Thờ nào gần nhất, tuy vẫn trung thành với cộng đồng nơi họ tiếp nhận các bí tích.
C. Hiệp thông giữa giám mục, giáo sĩ và giáo dân
40. Tài liệu kể ra các công đồng của một tòa thượng phụ quanh vị thượng phụ; tại cấp giáo phận, mọi người quây quần quanh vị giám mục; vị này có trách nhiệm chăm lo sao cho mọi sự được nhịp nhàng, hòa điệu.
41. Ơn hòa hợp ấy được giám mục thông truyền cho mọi mục tử cấp giáo xứ, những cộng đoàn gồm đủ thành viên mạnh yếu khác nhau, nhưng hết thẩy đều là dụng cụ trong tay Thiên Chúa.
42. Các thừa tác viên của Chúa Kitô không phải chỉ là mục tử, mà còn phải hướng dẫn đoàn chiên của mình về thiêng liêng và luân lý. Họ phải là mẫu mực và gương sáng, biết sống đơn giản, xa lánh tiền bạc và của cải thế gian, thực hành đức khiết trinh và có cuộc sống luân lý tinh ròng.
43. Tránh tinh thần cạnh tranh hơn thua, dựa vào con số tín hữu xem ai lớn ai nhỏ. Trái lại, phải cố gắng thi đua thực hành tốt các thừa tác thiêng liêng và mục vụ để phát huy tính sáng tạo. Phải luôn có tinh thần thanh tẩy liên tục. THĐ là cơ hội để xét lương tâm, nhận ra điểm mạnh để phát huy, nhìn nhận điểm yếu để can đảm sửa chữa.
44. Phải tìm lại mẫu mực của cộng đồng Kitô hữu tiên khởi “chỉ có một lòng một ý” (Acts 4:32-34).
45. Các hiệp hội và phong trào tông đồ, có nguồn gốc địa phương hay nơi khác, phải thích ứng với tâm trí và phương thức của GH địa phương. Các phong trào quốc tế cần trở thành thành phần của xã hội ta, dù không hy sinh đặc sủng của mình.
Các câu hỏi
Sáu câu hỏi từ 12 tới 17 hỏi về ý nghĩa hiệp thông; việc hiệp thông ấy biểu lộ ra sao đối với các GH tại Trung Đông, trong nội bộ từng GH và với Đức Giáo Hoàng; làm cách nào cải thiện mối liên hệ giữa các GH liên quan tới hoạt động tôn giáo, bác ái và văn hóa; nghĩ sao về thái độ của “người Giáo Hội” liên quan tới tiền bạc; nghĩ gì về việc tín hữu tham dự các cử hành tại các Giáo Hội CG khác; cách gì để cải thiện liên hệ giữa giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân.
CHƯƠNG III: KITÔ HỮU LÀM CHỨNG NHÂN
46. Đức tin không việc làm là đức tin chết (Gc 2:17). Các GH của ta có nhiều hoạt động và dự án. Đôi khi hữu hiệu theo nghĩa thực dụng, nhưng không luôn làm chứng cho tình yêu vô vị lợi của Phúc Âm.
A. Làm chứng cho Phúc Âm trong lòng GH: giáo lý và việc làm
47. Việc phúc âm hóa thông thường xẩy ra trong các bài giảng khi cử hành bí tích, trong bài giáo lý tại trường học và giáo xứ. Các giáo lý viên cần được huấn luyện kỹ và phải là mẫu mực cho giới trẻ. Giáo lý cũng cần phổ biến qua tập san, sách vở và internet. Không thiếu các trung tâm huấn luyện Thánh Kinh và thần học tại Giêrusalem và nhiều nơi khác.
48. Hơn bất cứ nơi nào khác, tại Trung Đông, Thánh Kinh phải chiếm vị trí trung tâm và nhiều đoạn Thánh Kinh nên học thuộc lòng. Biết truyền thống GH cũng là điều chủ yếu, cũng như các kiến thức về người Do Thái Giáo và Hồi Giáo cùng những luận điểm chống lại ta của họ để biết đường giải thích.
49. Quan điểm Kitô Giáo về các vấn đề công dân trong xã hội cần được nói ra một cách rõ ràng, vững chắc và thông mình. Phải dạy người trẻ và tín hữu cách làm việc trong liên đới với những người nghèo nhất bằng một tình yêu thành thực, nhằm ích chung cho toàn thể xã hội.
50. Các phương tiện rất công hiệu để làm chứng cho Phúc Âm như internet, truyền thanh và truyền hình, rất ít được sử dụng. Tài liệu nhắc tới hai chương trình truyền thông “Tiếng Nói Bác Ái” và TéléLumière rất đáng ca ngợi tại Libăng vì phát tuyến khắp vùng Trung Đông. Phải hỗ trợ những chương trình như thế.
51. Sống trong một vùng đủ thứ tranh chấp, người trẻ cần được dạy giáo lý về đức yêu thương để có thể tích cực đóng góp. Yêu kẻ thù có nghĩa gì? Làm sao yêu được như thế? Làm thế nào lấy điều tốt thắng điều xấu. Phải khuyến khích Kitô hữu tham gia đời sống công với ánh sáng, sức mạnh và đặc tính hiền hòa trong đức tin của mình. Phải huấn luyện để người trẻ biết vuợt lên trên các rào cản tôn giáo, gia đình và phe phái chính trị cũng như các thù nghịch nội bộ để nhìn ra khuôn mặt Thiên Chúa trong mọi con người, ngõ hầu cùng nhau xây dựng một trật tự công dân bao gồm mọi người cùng nhau chia sẻ.
52. Hiện nay, các công tác xã hội của GH khá nhiều. Vai rò của giáo dân trong các công tá đó cần đề cao. Hơn nữa, phải tránh óc tị hiềm có tính tông phái trong phạm vi này. Cũng nên tránh sự trùng lắp trong một số phạm vi.
B. Cùng làm nhân chứng với các GH và Cộng Đồng khác
53. Liên hệ với các giáo hội và cộng đồng Kitô giáo khác nói chung tốt đẹp và thân hữu. Các liên hệ có hai loại:
-- tình thân hữu và hợp tác giữa các GH, giám mục, linh mục hay giáo dân trên bình diện cá nhân;
-- trên bình diện cộng đồng, khi các giám mục của một thành phố gặp nhau thường xuyên để giải quyết các vấn đề mục vụ, xã hội hay chính trị.
54. Liên hệ cấp giáo xứ nói chung khá thân hữu, nhưng không tránh khỏi va chạm. Ở đây, có hai khó khăn: Một là liên quan tới các vấn đề mục vụ. Trong trường hợp hôn nhân hỗn hợp, một số GH không phải là Công Giáo đòi bên CG phải được rửa tội lại. Cũng nên lưu ý: các “giáo phái phúc âm” hiện đang gia tăng nỗ lực cải đạo và chia rẽ giữa các Kitô hữu. Khó khăn thứ hai có tính lịch sử và cố hữu đối với Đất Thánh, nơi đó quy chế dành cho các Nơi Thánh vẫn dẫm chân tại chỗ (status quo). Tại Nhà Thờ Mộ Thánh và Nhà Thờ Giáng Sinh, đôi khi liên hệ hết sức căng thẳng.
55. Đối thoại đại kết diễn tiến qua Hội Đồng Các Giáo Hội Trung Đông, gọi là Ủy Ban Đức Tin và Hợp Nhất, gồm 4 nhóm: Chính Thống Hy Lạp; Chính Thống Đông Phương (Cốptíc, Syria và các GH Ácmêni); Công Giáo (sáu Giáo Hội Thượng Phụ và Giáo Hội La Tinh) và Thệ Phản (Anh Giáo, Luthêrô, Trưởng Lão và một số hệ phái khác). Trong thực tế, Hội Đồng này đại diện mọi Kitô hữu trong thế giới Ả Rập. Với 7 ủy ban (đức tin, các viện và chủng viện thần học, công lý và hòa bình, giới trẻ v.v…), Hội Đồng này thể hiện nhiệm vụ đại kết nhằm bơm sinh lực mới vào Giáo Hội và khả năng gặp gỡ và tôn trọng nhau.
56. Mặt khác, Tòa Thánh đang tiến hành một cuộc đối thoại phong phú và nhiều thành quả chung với mọi Giáo Hội Chính Thống và riêng với các GH Chính Thống Đông Phương, trong đó, các GHCG tại Trung Đông cũng đóng một vai trò tích cực. Thỉnh thoảng Qũy Vì Đông Phương (Pro Oriente Foundation) tại Vienna cũng tụ tập các GH Công Giáo và Chính Thống trong vùng lại với nhau để cùng suy tư về thần học và đại kết.
57. Các trường CG tiếp đón mọi Kitô hữu. Chỉ cần cha mẹ đồng ý, các học sinh Chính Thống có thể tiếp nhận các bí tích hòa giải và Thánh Thể. Việc cải đạo không bao giờ được phép. Học trò Chính Thống được kêu gọi tìm hiểu Giáo Hội của các em và trung thành với GH ấy. Hiện có nhiều dự án xã hội chung, do chính các tín hữu khởi xướng và quản trị.
58. Các dự án mục vụ chung đang được thảo luận bởi Hội Đồng Các Thượng Phụ Công Giáo Của Trung Đông và các Thượng Phụ Chính Thống của Libăng và Syria, căn bản bàn đến bốn vấn đề sau: hôn nhân hỗn hợp giữa các hệ phái Kitô Giáo, rước lễ lần đầu, giáo lý chung và ngày mừng Lễ Giáng Sinh và Lễ Phục Sinh chung. Ba vấn đề đầu đã đạt được thỏa hiệp. Cuốn thứ 6 của sách giáo lý chung đã được phát hành cho lớp 6 tại các trường tiểu học. Vấn đề ấn định ngày chung cho Lễ Giáng Sinh và Lễ Phục Sinh, do Hội Đồng Các Giáo Hội Trung Đông bàn luận, hiện đang gặp trở ngại khó vượt qua (về kỷ luật, về truyền thống…) Tuy nhiên, nguyện vọng lớn lao của mọi quốc gia Trung Đông là mong muốn có ngày được cử hành hai ngày lễ đó chung với nhau.
59. Về phương diện học thuật (academic), hiện đang có sự hợp tác giữa các đại học, phân khoa hay học viện thần học. Việc nghiên cứu các gia tài tôn giáo Syria và Ả Rập, một ngành nghiên cứu đang thu hút chú ý của các định chế đại học lẫn các hàng giáo phẩm, đang đem lại nhiều hứa hẹn và là một nguồn phong phú hóa tâm linh. Trở về với Truyền Thống chung cũng là một cách tuyệt hảo để trở nên gần gũi nhau hơn về phương diện thần học. Đàng khác, gia tài Kitô Giáo trong ngôn ngữ Ả Rập, dưới tầm nhìn đích đáng của học thuật, là một hỗ trợ chân thực trong cuộc đối thoại văn hóa và tôn giáo giữa các Kitô hữu và với người Hồi Giáo.
60. Phụng vụ hứa hẹn sẽ trở thành lãnh vực hợp tác thường xuyên giữa người Công Giáo và người Chính Thống Giáo. Nhiều người mong muốn có một cuộc canh tân phụng vụ đặt cơ sở trên Thánh Truyền và ý thức được các nhạy cảm hiện đại cũng như các nhu cầu tâm linh và mục vụ hiện nay. Công trình này cần có sự hợp tác tối đa của các bên.
C. Các liên hệ đặc biệt với Do Thái Giáo
61. Vì cuộc tranh chấp chính trị giữa thế giới Palestine và Ả Rập ở một bên và ở bên kia, nhà nước Do Thái, nên cuộc đối thoại trong các GH trong vùng tiến triển không bao nhiêu. Các liên hệ với Do Thái Giáo là đặc quyền của các GH tại Giêrusalem. Một số hiệp hội chuyên lo đối thoại giữa Do Thái Giáo và Kitô Giáo đang có mặt tại Palestine và Israel. Các sáng kiến đối thoại tương tự giữa người Do Thái Giáo, Kitô Giáo và Hồi Giáo cũng đang hoạt động, mà quan trọng nhất chính là “Hội Đồng Liên Tôn Các Định Chế Tôn Giáo”, hiện diện từ năm 2001 (bao gồm Tòa Trưởng Giáo Chủ, Trưởng qādi và Bộ Trưởng Waqf, và 13 Thượng Phụ hay Đứng Đầu các GH tại Giêrusalem). Đặc biệt quan trọng là cuộc đối thoại giữa Tòa Thánh (có sự tham dự của các GH điạ phương) và Tòa Trưởng Giáo Chủ Israel.
62. Bắt đầu với Thư Mục Vụ thứ hai năm 1992, Hội Đồng Các Thượng Phụ CG của TĐ đã minh nhiên lên tiếng về các mối liên hệ với Do Thái Giáo. Trong thư mới nhất, tức thư thứ 10 (năm 2009), Hội Đồng viết rằng: “Các mối liên hệ này chính là quan tâm hiện nay của người Kitô hữu Ả Rập và của chung toàn thể thế giới Ả Rập. Chính bởi thế, phải xem sét nó trên 3 bình diện: nhân bản, tôn giáo và chính trị. Trên bình diện nhân bản, mỗi con người đều là tạo vật của Thiên Chúa. Trên bình diện gặp gỡ này, mỗi người chúng ta thấy khuôn mặt Thiên Chúa trong người khác khi nhìn nhận phẩm giá của họ và dành cho họ sự tôn trọng, bất kể tôn giáo hay quốc tịch của họ. Trên bình diện tôn giáo, các tôn giáo được mời gọi gặp gỡ, dấn thân vào đối thoại và hành động để mang con người lại với nhau, nhất là trong các thời điểm khủng hoảng và chiến tranh (…) Vai trò nhà lãnh đạo tôn giáo trong mọi tôn giáo khá khó khăn, nhất là khi thù nghịch cứ tiếp diễn giữa hai bên (…) Các xã hội của ta cần có các nhà lãnh đạo tôn giáo thành thật, biết phục vụ giáo dân của họ cũng như nhân loại nói chung, biết thấy rằng trong mọi hoàn cảnh, điều cốt yếu trong mọi tôn giáo là thờ phượng Thiên Chúa và tôn trọng mọi tạo vật của Người.
63. “Trên bình diện chính trị, mối liên hệ này một lần nữa đang được đánh dấu bằng một tình huống thù địch giữa một bên là thế giới Palestine và Ả Rập và bên kia là Nhà Nước Israel (đang tệ hại hơn vì các quan điểm tôn giáo). Sự thù địch này là do việc Israel chiếm đóng các Lãnh Thổ Palestine và một số lãnh thổ của Libăng và Syria”. Trên bình diện này, các nhà lãnh đạo chính trị liên hệ, với sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, có trách nhiệm phải đưa ra các quyết định cần thiết phù hợp với các nghị quyết của LHQ.
64. Tài liệu nhắc tới 2 lời tuyên bố của Đức Bênêđíctô XVI nhân dịp ngài tông du Đất Thánh. Ngày 13-5-2009, tại Bêlem, ngài nói: “Thưa ông chủ tịch, Tòa Thánh ủng hộ quyền của dân tộc ông có được một quê hương Palestine có chủ quyền trên chính mảnh đất của cha ông, một quê hương an ninh và hòa bình với các liên bang, bên trong các biên giới được quốc tế thừa nhận”. Trước đó, ngày 11-5, tại phi trường Tel Aviv, ngài biểu lộ ý muốn “hai bên có thể sống hòa bình trong một quê hương riêng, bên trong các biên giới an ninh và được quốc tế công nhận”.
65. Là Kitô hữu, trách nhiệm của ta là triển khai mọi phương thế hòa bình để đạt cho được hòa bình bằng công lý. Đức Gioan Phaolô II từng nói: “không nền hòa bình nào lại thiếu công lý và không nền công lý nào lại thiếu tha thứ”. Ta cần học để biết tha thứ, bằng cách không bao giờ nhân nhượng bất công.
66. Làm việc để tạo ra những nhóm thân hữu và suy tư cho việc phát huy hòa bình giữa những người Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Kitô Giáo là một trách vụ chủ yếu và có tính Kitô Giáo trổi vượt. Như Chúa Kitô đã hủy diệt bức tường phân cách Ngưòi Do Thái với người Hy Lạp bằng cách gánh lấy sự ác trong chính nhục thân mình thế nào, thì trách nhiệm của ta cũng phải giật sập bức tường sợ sệt, nghi kỵ và thù hận như thế bằng tình thân hữu với người Do Thái Giáo, người Hồi Giáo, người Do Thái và Palestine.
67. Trên bình diện thần học, theo giáo huấn của Nostra Aetate, số 4, mối liên hệ tôn giáo giữa Do Thái Giáo và Kitô Giáo, dựa trên sợi dây cố hữu giữa Cựu Ước và Tân Ước, cần được giải thích cho tín hữu để tránh việc các ý thức hệ chính trị làm ung thối các mối liên hệ ấy đi. Cần phải phân biệt một cách cẩn thận giữa chính trị và thần học. Đồng thời, không bao giờ được dùng Thánh Kinh cho các mục tiêu chính trị cũng như không được dùng chính trị cho các mục tiêu thần học.
D. Các liên hệ với người Hồi Giáo
68. Các liên hệ giữa Kitô hữu và người Hồi Giáo cần được đặt trên 2 nguyên tắc. Một đàng, cả hai phải được coi là công dân của cùng một đất nước và quê hương, có chung một ngôn ngữ và một văn hóa, chưa kể cùng một vận may vận rủi chung của đất nước. Đàng khác, Kitô hữu phải coi mình như thành viên của xã hội nơi họ sinh sống và làm việc nhân danh xã hội ấy trong tư cách chứng nhân của Chúa Kitô và Phúc Âm của Người. Đôi khi các liên hệ ấy khá khó khăn, chủ yếu vì người Hồi Giáo thường lẫn lộn tôn giáo với chính trị, khiến người Kitô hữu lâm vào tình huống mỏng manh bị coi không phải là công dân (non-citizens).
69. Ngày 28 tháng 10 năm 1965, thời Công Đồng Vatican II, Giáo Hội từng công bố cho thế giới thấy quan điểm của mình đối với Hồi Giáo: “Giáo Hội cũng coi trọng người Hồi Giáo. Họ thờ lạy một Thiên Chúa duy nhất, sống và tự tồn tại trong chính Người; nhân từ và toàn năng, tạo nên trời và đất, từng lên tiếng nói với con người”.
70. Do đó, trách nhiệm của ta là làm việc trong tinh thần yêu thương và trung tín, để thiết lập sự bình đẳng cho mọi công dân trên mọi bình diện: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và tôn giáo, hòa hợp với hiến pháp của đa số các quốc gia của ta. Trung thành với quốc gia mình và với tinh thần Kitô Giáo, ta đang phải đương đầu với một thực tế sống đầy rẫy các thách thức hàng ngày, chưa kể tới các tuyên ngôn và đe dọa của một số phong trào. Dù đang có việc gia tăng chủ nghĩa cực đoan ở nhiều quốc gia, ta vẫn thấy một số lớn người Hồi Giáo sẵn sàng chống lại chủ nghĩa cực đoan tôn giáo đang lớn mạnh này.
71. Do kết quả của tình thế khái quát ấy, các liên hệ giữa người Kitô hữu và người Hồi Giáo không luôn luôn thoải mái. Rõ ràng, phải làm những gì có thể làm được để cải thiện và đem lại hòa bình cho tình thế ấy, bất luận khó khăn như thế nào. Các sáng kiến, phần lớn do người Kitô hữu khởi xướng, cần có đặc tính kiên nhẫn. Các liên hệ này bắt đầu bằng việc trở thành láng giềng tốt và có thể diễn tiến thành việc hợp tác đầy cởi mở theo nhóm hay theo từng cá nhân của hai tôn giáo. Các trung tâm đối thoại giữa người Hồi Giáo và người Kitô Giáo, nếu có, rất hữu ích, nhất là trong các thời kỳ khủng hoảng. Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn có một vai trò quan trọng, nhờ vị thế là một thực thể chính thức của Tòa Thánh.
72. Các trường học và định chế của ta cũng có vai trò rất quan trọng trong các liên hệ này. Các cơ sở này mở cửa cho mọi người, cả người Hồi Giáo lẫn Kitô Giáo, và đem lại cơ hội hiểu biết nhau tốt hơn, loại bỏ nhiều thiên kiến đặc thù và biểu lộ rõ ràng hơn ý nghĩa của Kitô Giáo và tư cách Kitô hữu của ta. Giáo dục về nhân quyền và tự do lương tâm, một phần của việc đào luyện tôn giáo và nhân bản nói chung, là điều sinh tử đối với các xã hội của ta và do đó, cần được triển khai.
73. Hiều biết lẫn nhau là căn bản cho mọi cuộc đối thoại. Vì lý do này, việc trình bày đơn giản về Phúc Âm và Chúa Kitô bằng ngôn ngữ địa phương, chủ yếu dựa trên Tân Ước và dễ hiểu đối với não trạng của những con người sống trong các xã hội của ta, phải được khẩn cấp thực hiện, với sự hợp tác của các Kitô hữu khác trong vùng. Điều này mang lợi ích lại cho cả người Kitô Giáo lẫn người Hồi Giáo, trong cả các cuộc đối thoại lẫn cuộc sống hàng ngày.
74. Ngày nay, số kênh truyền hình Kitô Giáo và Hồi Giáo bằng tiếng Ả Rập và bằng các thứ tiếng khác đủ cung cấp cho người quan tâm phương thế hiểu biết lẫn nhau. Hy vọng mọi Giáo Hội cùng làm việc với nhau trong lãnh vực này. Duy trì tính khách quan trong việc đưa tin và biết tôn trọng lẫn nhau trong đối thoại là điều cốt yếu, nếu ta muốn thực sự chia sẻ hồng ân của Phúc Âm.
E. Sự đóng góp của người Kitô hữu vào xã hội
(a) Hai thách đố đối với các quốc gia của ta
75. Ngày nay, các thách đố đang đặt ra cho các quốc gia của ta có liên quan tới mọi người, bất luận là người Kitô hữu, là người Do Thái Giáo hay là người Hồi Giáo. Vì những tranh chấp và can thiệp quân sự, các thách đố hòa bình và bạo lực chiếm một chỗ quan trọng. Nói về và làm việc cho hòa bình dường như là điều không thể có được, vì chiến tranh và bạo lực đã được áp đặt lên ta. Giải quyết tranh chấp hiện nằm trong tay nước mạnh hơn vì chính nó đã chiếm đóng và gây chiến với quốc gia khác. Bạo lực thì nằm trong tay cả nước mạnh lẫn nước yếu. Nước yếu phải sử dụng bất cứ thứ bạo động nào có trong tầm tay để tự giải thoát mình. Một số nước như Palestine, Iraq hiện đang có chiến tranh, và toàn vùng cũng chịu luôn hậu quả một cách trực tiếp. Tình trạng từng kéo dài nhiều thế hệ ấy đang bị một hình thức khủng bố triệt để nhất và có tính hoàn cầu nhất khai thác.
76. Các quốc gia của ta quá thường khi lại đồng hóa Kitô Giáo với Tây Phương. Đã đành Tây Phương (tức Âu Châu và Mỹ) có truyền thống và gốc gác Kitô Giáo, nhưng rõ ràng các quốc gia này hiện nay đang có các chế độ và chính quyền thế tục, nền chính trị của họ ít chịu ảnh hưởng đức tin Kitô Giáo. Do sự kiện thế giới Hồi Giáo không chịu phân biệt giữa chính trị và tôn giáo, nên sự hồ đồ trên đã gây nhiều tai họa nghiêm trọng cho các GH trong vùng. Thực vậy, các quyết định chính trị của các chính phủ tại Tây Phương thường bị gán cho đức tin Kitô Giáo. Điều quan trọng là phải giải thích “thế tục” có nghĩa gì và nhắc cho dân chúng tại các quốc gia của ta nhớ rằng không hề có một Liên Minh Các Quốc Gia Kitô Giáo nhưTổ Chức Hội Đồng Hồi Giáo (Oraganisation of Islamic Conference).
77. Trong các hoàn cảnh ấy, Kitô hữu có thể góp phần bằng cách không những biểu lộ và sống thực các giá trị Phúc Âm mà còn nói lên sự thật cho những kẻ quyền thế luôn áp chế hay thi hành các chính sách đi ngược lại quyền lợi tốt đẹp nhất của xứ sở, và cho những ai dùng bạo lực chống lại áp bức. Sư phạm hòa bình là con đường thực tiễn nhất nên theo, mặc dù đa số người ta bác bỏ nó. Tuy nhiên, cơ may nó được chấp nhận đang gia tăng đáng kể, xét vì trong quá khứ, bạo lực của cả người mạnh lẫn người yếu chỉ dẫn tới thất bại và bế tắc chung cho cả vùng Trung Đông. Dù quả có đòi hỏi nhiều can đảm, nhưng sự đóng góp của ta không thể nào miễn chước được.
78. Tính hiện đại là một thực tại hàm hồ. Xét theo một nghĩa, nó có khía cạnh quyến rũ qua việc hứa hẹn đem lại tiện nghi và thoải mái về vật chất, có khi còn giải thoát người ta khỏi các truyền thống áp bức về văn hóa và tâm linh. Tính hiện đại cũng đã tranh đấu cho công lý và công bình, bênh vực quyền lợi của kẻ yếu, bình đẳng giữa mọi người, bất kể là nam hay nữ, người tin hay người không tin… Nói chung, nó là sự thành tựu hoàn toàn của Nhân Quyền, một bước tiến vĩ đại cho nhân loại. Nhưng xét theo một nghĩa khác, cách riêng đối với các tín hữu Hồi Giáo, tính hiện đại ấy chỉ có nghĩa là vô thần và vô luân. Các tín hữu này coi nó như một cuộc xâm lăng văn hóa đang đe dọa họ và sẽ phá hủy hệ thống giá trị của họ. Họ không biết phải phản ứng với nó ra sao; thực tế, một số đã chống lại nó bằng mọi phương tiện. Như thế, tính hiện đại vừa lôi cuốn vừa đẩy người ta ra xa. Vai trò của ta trong học đường và truyền thông là đào tạo những con người có khả năng phân biệt được các khía cạnh tích cực và các khía cạnh tiêu cực của tính hiện đại để có thể chỉ giữ lại những điều tốt đẹp nhất.
79. Tính hiện đại cũng đặt ra nhiều nguy cơ cho cả người Kitô hữu nữa. Các xã hội của ta cũng đang bị đe dọa bởi việc thiếu vắng cảm thức về Thiên Chúa, bởi chủ nghĩa vô thần, duy vật, và tệ hơn nữa, là chủ nghĩa duy tương đối và dửng dưng. Ta cần nhắc mình nhớ tới chỗ đứng của Thiên Chúa trong cuộc sống bản thân và cuộc sống xã hội của ta, và càng ngày càng phải trở nên người cầu nguyện và làm chứng cho Chúa Thánh Thần, Đấng xây dựng và hợp nhất. Các nguy cơ của tính hiện đại, như chủ nghĩa cực đoan, rất dễ hủy diệt gia đình ta, xã hội ta và các Giáo Hội ta. Từ lối nhìn này, cả người Hồi Giáo lẫn người Kitô Giáo đều phải có chung một nghị trình.
(b) Kitô hữu phục vụ xã hội tại các quốc gia của mình
80. Chúng ta thuộc Trung Đông, sống liên đới với vùng này và là một thành phần cơ yếu của nó. Là công dân, ta chia sẻ mọi khía cạnh của trách nhiệm tái thiết và lật ngược các hậu quả tai hại của tình thế. Đàng khác, sự dấn thân này chủ yếu là của chính chúng ta trong tư cách Kitô hữu và từ đó, hai nhiệm vụ đặt ra cho ta. Một là chia sẻ cuộc đấu tranh chống sự ác trong xã hội, bất luận là chính trị, luật lệ, kinh tế, xã hội hay luân lý, hai là góp phần xây dựng cho được một xã hội công bình hơn, nhân bản hơn, và nhièu liên đới với nhau hơn.
81. Về phương diện này, ta theo chân các thế hệ Kitô hữu đi trước chúng ta. Sự đóng góp của họ cho xã hội trong các công trình giáo dục, văn hóa và xã hội hết sức rộng lớn và liên tiếp trong nhiều thế hệ. Họ đã thể hiện một vai trò chủ chốt trong đời sống văn hóa, kinh tế và chính trị của xứ sở. Họ từng là những nhà tiên phong của Phong Trào Phục Hưng quốc gia Hồi Giáo.
82. Ngoại trừ Libăng, sự hiện diện của họ trong đời sống công dân ngày nay khiêm tốn hơn, chủ yếu vì con số của họ đã giảm đi. Tuy nhiên, vai trò của họ vẫn được nhìn nhận trong xã hội qua nhiều định chế do Giáo Hội và các dòng tu quản trị, tại các nơi Giáo Hội hiện diện, một sự hiện diện phần lớn được đánh gía cao. Hy vọng rằng các tín hữu giáo dân Kitô Giáo càng ngày càng can dự vào xã hội.
(c) Các liên hệ giữa nhà nước và Giáo Hội
83. Trừ Thổ Nhĩ Kỳ, chủ nghĩa thế tục không có trong Hồi Giáo. Bình thường, Hồi Giáo là quốc giáo. Nguồn chính của luật lệ là Hồi Giáo, được gợi hứng từ Luật Shariah. Đối với luật lệ bản thân (mà một số nước gọi là luật gia đình và thừa kế), có các qui định riêng cho các cộng đồng Kitô Giáo. Các tòa án GH được công nhận và các phán quyết của tòa này có hiệu lực. Hiến pháp của mọi nước đều khẳng định sự bình đẳng của các công dân. Giáo dục tôn giáo là điều bắt buộc trong các trường tư và công, nhưng không luôn luôn được bảo đảm đối với người Kitô hữu.
84. Một số nước là quốc gia Hồi Giáo, nơi luật Shariah được áp dụng cả vào đời sống tư lẫn đời sống công, kể cả đời sống những người không phải là Hồi Giáo. Việc này luôn tạo ra kỳ thị và do đó, vi phạm nhân quyền của một người.
Tự do tôn giáo và tự do lương tâm là điều xa lạ đối với tâm trí người Hồi Giáo. Tâm trí này chỉ nhìn nhận tự do thờ phượng, chứ không cho phép việc tuyên xưng một tôn giáo nào khác ngoài Hồi Giáo, bỏ Hồi Giáo lại càng không được hơn. Với đà thắng thế của chủ nghĩa duy Hồi Giáo, các biến cố chống Kitô hữu mỗi ngày một gia tăng hơn tại khắp nơi.
F. Kết luận: Sự đóng góp đặc thù và không thay thế được của người Kitô hữu
85. Sự đóng góp đặc thù và không thay thế được của người Kitô hữu cho xã hội ta đang sống là làm giầu nó bằng các giá trị Phúc Âm. Kitô hữu là người làm chứng cho Chúa Kitô và các giá trị mới mà Người đã hiến tặng nhân loại. Vì thế, nền giáo lý của ta phải đào tạo con người thành tín hữu và công dân, biết thực hiện công việc của mình trong các khu vực khác nhau của xã hội. Can dự vào chinh trị mà không có các giá trị Phúc Âm là phản lại chứng tá, gây hại hơn là có lợi. Các giá trị này, xét về nhiều phương diện, nhất là các nhân quyền, hoàn toàn trùng hợp với các giá trị của Hồi Giáo. Bởi thế, cần phải nói nhiều hơn nữa để phát huy các giá trị này trong việc hợp tác với nhau.
86. Một vài tranh chấp tại Trung Đông phát sinh từ cuộc tranh chấp Do Thái Palestine, vốn được toàn thế giới theo dõi. Người Kitô hữu có thể đóng góp một cách đặc biệt trong phạm vi công lý và hòa bình. Bổn phận ta là can đảm tố cáo bạo lực, bất kể nguồn gốc, và tìm giải pháp, một điều chỉ có thể có được qua đối thoại. Mặt khác, trong khi đòi hỏi công lý cho người bị áp chế, sứ điệp hòa giải, dựa trên việc tha thứ lẫn nhau, phải được công bố. Quyền lực của Chúa Thánh Thần giúp ta tha thứ và xin được tha thứ. Đó là con đường duy nhất để tạo ra một nhân loại mới. Các quyền lực chính trị cần cởi mở đối với các khía cạnh tâm linh của người dân và của tình hình, một điều họ có thể tiếp nhận được từ hoạt động khiêm tốn, quên mình của Kitô Giáo. Để Chúa Thánh Thần vào tận trái tim con người trong vùng, những con người vốn chịu đau khổ từ tình thế tranh chấp, chính là đóng góp đặc thù mà người Kitô hữu có thể làm được, và là phục vụ tốt nhất họ có thể hiến tặng cho xã hội của họ.
Các câu hỏi
10 câu hỏi từ số 18 tới số 27 nói về giáo lý, bài giảng, truyền thanh, truyền hình: làm thế nào giúp người trẻ và tín hữu hiểu và sống đức tin; về các liên hệ đại kết: tái khám phá gia tài chung; về phụng vụ; làm chứng trong xã hội; đối thoại và hợp tác với Do Thái Giáo và Hồi Giáo
KẾT LUẬN
Đâu là tương lai cho các Kitô hữu Trung Đông? “Đừng sợ, hỡi đoàn chiên bé nhỏ!”
A. Tương lai đối với Kitô hữu Trung Đông
87. Con số Kitô hữu giảm thiểu trong vùng là hậu quả của lịch sử. Tuy nhiên, bằng hành động trong tư cách Kitô hữu, ta vẫn có thể cải tiến hiện tại và xây dựng tương lai. Một đàng, dù nền chính trị hoàn cầu có tác động đối với quyết định ra đi hay ở lại quê hương của ta, thì mặt khác chấp nhận ơn gọi làm Kitô hữu bên trong và nhân danh xã hội sẽ là lý do quan trọng nhất khiến ta ở lại làm chứng ngay tại quê hương mình. Đây là vấn đề chính trị và đức tin
88. Hiện nay, đức tin này khá mong manh và bối rối. Thái độ của ta, kể cả thái độ của một số mục tử, biến thiên giữa sợ sệt và ngã lòng. Đức tin này phải trưởng thành và đáng tin tưởng hơn. Ta phải có quyết định mạnh mẽ hơn cho tương lai, một quyết định được lên khuôn bởi cách ta cố gắng cư sử với người khác và tạo nên các liên minh với những người thiện chí trong xã hội. Ta cần một đức tin biết tham dự vào đời sống của xã hội, một đức tin có tác dụng nhắc cho Kitô hữu Trung Đông nhớ các lời lẽ đầy linh hứng sau đây: “Đừng sợ, hỡi đoàn chiên bé nhỏ” (Lc 12:32). Anh em có một sứ mệnh, anh em phải chu toàn sứ mệnh đó và hỗ trợ Giáo Hội và đất nước anh em lớn mạnh và phát triển trong hòa bình, công lý và bình đẳng cho mọi công dân.
B. Hy vọng
89. Niềm hy vọng từng trổ sinh tại Đất Thánh vốn nâng đỡ các dân tộc và các cá nhân trong những thời kỳ thử thách khắp thế giới hơn 2 nghìn năm qua. Trước các khó khăn và thách thức, niềm hy vọng này luôn là nguồn bất tận của đức tin, tình yêu và niềm vui cho các nhân chứng của Chúa Phục Sinh, Đấng hằng hiện diện giữa cộng đoàn các môn đệ của Người. Tại mọi quốc gia, niềm hy vọng này nâng đỡ chúng ta khi ta suy niệm các lời sau đây của Chúa Giêsu: “Đừng sợ, hỡi đoàn chiên bé nhỏ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em” (Lc 12:32).
90. Tuy nhiên, hy vọng có nghĩa là tin tưởng vào Thiên Chúa và Sự Quan Phòng của Người, Đấng hằng theo dõi và hướng dẫn dòng lịch sử của mọi dân tộc, và hành động trong kết hợp với Thiên Chúa như những “người cùng làm việc” với Người (1Cor 3:9), làm bất cứ điều gì con người có thể làm được để góp phần vào sự phát triển đang xẩy ra. Nền giáo lý của ta phải chú tâm nhiều hơn tới lượng hải hà của tình yêu Thiên Chúa dành cho mọi người; nền giáo lý ấy cần đào luyện tín hữu trở thành người cùng làm việc trong mọi khía cạnh của sinh hoạt công trong các xã hội của ta.
91. Phó mình cho sự Quan Phòng của Thiên Chúa cũng có nghĩa là hiệp thông sâu sắc hơn về phần ta, xa lánh nhiều hơn quan điểm trần thế và thoát nhiều hơn ra khỏi những gai góc từng bóp nghẹt Lời Chúa và ơn thánh của Người nơi ta. Như Thánh Phaolô từng khuyên: “Hãy yêu thương nhau bằng tình huynh đệ; coi người khác trọng hơn mình; nhiệt thành, không trễ nải; lấy tinh thần sốt sắng mà phụng sự Chúa. Hãy hân hoan vì có lòng hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện” (Rm 12: 10-12). Và Chúa Kitô dạy ta: “Nếu các con có đức tin nhỏ như hạt mù-tạt, thì dù các con nói với ngọn núi này, ‘rời khỏi đây, qua bên kia’, nó cũng sẽ qua, và sẽ không có gì mà các con không làm được” (Mt 17:20).
92. Niềm tin ấy cần thiết cho cả các mục tử lẫn giáo dân.
Các câu hỏi
5 câu hỏi cuối cùng từ số 28 tới 32 hỏi có sợ tương lai không, phải nhập thể đức tin vào việc làm, vào chính trị và vào xã hội ra sao, có tin mình có sứ mệnh đặc biêt tại TĐ hay không, và có những nhận định nào khác không.
Hy vọng cả người Công Giáo Việt Nam lẫn người Công Giáo Trung Đông cùng đồng loạt mạnh mẽ trả lời: không sợ tương lai, như họ đã không sợ quá khứ và hiện tại.
A. Nhập đề
36. Sự sống Thiên Chúa trong mầu nhiệm Ba Ngôi là nền tảng và mẫu mực cho sự hiệp thông Kitô Giáo.
37. Chúa Giêsu dùng hình ảnh cây nho và ngành (Ga 15:1-7) để nói về sự hợp nhất sự sống. Thánh Phaolô dùng hình ảnh thân thể để nói về cùng một sự hợp nhất ấy (1Cor 12:12-21).
B. Hiệp thông trong GHCG và nơi các GH
38. Hiệp thông trong GH Hoàn Vũ được thể hiện 2 cách: hiệp thông trong Thánh Thể và hiệp thông với Đức Giáo Hoàng. Đối với cách thứ hai, tài liệu nói tới Bộ Giáo Luật dành cho các GH Đông Phương cũng như Thánh Bộ Các GH Đông Phương như phương tiện thực hiện nó.
39. Trên bình diện tín hữu, mọi định chế giáo dục và xã hội của CG đểu tiếp đón mọi Kitô hữu không hề phân biệt. Tại các thị trấn, tín hữu CG thuộc các GH khác nhau thường viếng thăm bất cứ Nhà Thờ nào gần nhất, tuy vẫn trung thành với cộng đồng nơi họ tiếp nhận các bí tích.
C. Hiệp thông giữa giám mục, giáo sĩ và giáo dân
40. Tài liệu kể ra các công đồng của một tòa thượng phụ quanh vị thượng phụ; tại cấp giáo phận, mọi người quây quần quanh vị giám mục; vị này có trách nhiệm chăm lo sao cho mọi sự được nhịp nhàng, hòa điệu.
41. Ơn hòa hợp ấy được giám mục thông truyền cho mọi mục tử cấp giáo xứ, những cộng đoàn gồm đủ thành viên mạnh yếu khác nhau, nhưng hết thẩy đều là dụng cụ trong tay Thiên Chúa.
42. Các thừa tác viên của Chúa Kitô không phải chỉ là mục tử, mà còn phải hướng dẫn đoàn chiên của mình về thiêng liêng và luân lý. Họ phải là mẫu mực và gương sáng, biết sống đơn giản, xa lánh tiền bạc và của cải thế gian, thực hành đức khiết trinh và có cuộc sống luân lý tinh ròng.
43. Tránh tinh thần cạnh tranh hơn thua, dựa vào con số tín hữu xem ai lớn ai nhỏ. Trái lại, phải cố gắng thi đua thực hành tốt các thừa tác thiêng liêng và mục vụ để phát huy tính sáng tạo. Phải luôn có tinh thần thanh tẩy liên tục. THĐ là cơ hội để xét lương tâm, nhận ra điểm mạnh để phát huy, nhìn nhận điểm yếu để can đảm sửa chữa.
44. Phải tìm lại mẫu mực của cộng đồng Kitô hữu tiên khởi “chỉ có một lòng một ý” (Acts 4:32-34).
45. Các hiệp hội và phong trào tông đồ, có nguồn gốc địa phương hay nơi khác, phải thích ứng với tâm trí và phương thức của GH địa phương. Các phong trào quốc tế cần trở thành thành phần của xã hội ta, dù không hy sinh đặc sủng của mình.
Các câu hỏi
Sáu câu hỏi từ 12 tới 17 hỏi về ý nghĩa hiệp thông; việc hiệp thông ấy biểu lộ ra sao đối với các GH tại Trung Đông, trong nội bộ từng GH và với Đức Giáo Hoàng; làm cách nào cải thiện mối liên hệ giữa các GH liên quan tới hoạt động tôn giáo, bác ái và văn hóa; nghĩ sao về thái độ của “người Giáo Hội” liên quan tới tiền bạc; nghĩ gì về việc tín hữu tham dự các cử hành tại các Giáo Hội CG khác; cách gì để cải thiện liên hệ giữa giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân.
CHƯƠNG III: KITÔ HỮU LÀM CHỨNG NHÂN
46. Đức tin không việc làm là đức tin chết (Gc 2:17). Các GH của ta có nhiều hoạt động và dự án. Đôi khi hữu hiệu theo nghĩa thực dụng, nhưng không luôn làm chứng cho tình yêu vô vị lợi của Phúc Âm.
A. Làm chứng cho Phúc Âm trong lòng GH: giáo lý và việc làm
47. Việc phúc âm hóa thông thường xẩy ra trong các bài giảng khi cử hành bí tích, trong bài giáo lý tại trường học và giáo xứ. Các giáo lý viên cần được huấn luyện kỹ và phải là mẫu mực cho giới trẻ. Giáo lý cũng cần phổ biến qua tập san, sách vở và internet. Không thiếu các trung tâm huấn luyện Thánh Kinh và thần học tại Giêrusalem và nhiều nơi khác.
48. Hơn bất cứ nơi nào khác, tại Trung Đông, Thánh Kinh phải chiếm vị trí trung tâm và nhiều đoạn Thánh Kinh nên học thuộc lòng. Biết truyền thống GH cũng là điều chủ yếu, cũng như các kiến thức về người Do Thái Giáo và Hồi Giáo cùng những luận điểm chống lại ta của họ để biết đường giải thích.
49. Quan điểm Kitô Giáo về các vấn đề công dân trong xã hội cần được nói ra một cách rõ ràng, vững chắc và thông mình. Phải dạy người trẻ và tín hữu cách làm việc trong liên đới với những người nghèo nhất bằng một tình yêu thành thực, nhằm ích chung cho toàn thể xã hội.
50. Các phương tiện rất công hiệu để làm chứng cho Phúc Âm như internet, truyền thanh và truyền hình, rất ít được sử dụng. Tài liệu nhắc tới hai chương trình truyền thông “Tiếng Nói Bác Ái” và TéléLumière rất đáng ca ngợi tại Libăng vì phát tuyến khắp vùng Trung Đông. Phải hỗ trợ những chương trình như thế.
51. Sống trong một vùng đủ thứ tranh chấp, người trẻ cần được dạy giáo lý về đức yêu thương để có thể tích cực đóng góp. Yêu kẻ thù có nghĩa gì? Làm sao yêu được như thế? Làm thế nào lấy điều tốt thắng điều xấu. Phải khuyến khích Kitô hữu tham gia đời sống công với ánh sáng, sức mạnh và đặc tính hiền hòa trong đức tin của mình. Phải huấn luyện để người trẻ biết vuợt lên trên các rào cản tôn giáo, gia đình và phe phái chính trị cũng như các thù nghịch nội bộ để nhìn ra khuôn mặt Thiên Chúa trong mọi con người, ngõ hầu cùng nhau xây dựng một trật tự công dân bao gồm mọi người cùng nhau chia sẻ.
52. Hiện nay, các công tác xã hội của GH khá nhiều. Vai rò của giáo dân trong các công tá đó cần đề cao. Hơn nữa, phải tránh óc tị hiềm có tính tông phái trong phạm vi này. Cũng nên tránh sự trùng lắp trong một số phạm vi.
B. Cùng làm nhân chứng với các GH và Cộng Đồng khác
53. Liên hệ với các giáo hội và cộng đồng Kitô giáo khác nói chung tốt đẹp và thân hữu. Các liên hệ có hai loại:
-- tình thân hữu và hợp tác giữa các GH, giám mục, linh mục hay giáo dân trên bình diện cá nhân;
-- trên bình diện cộng đồng, khi các giám mục của một thành phố gặp nhau thường xuyên để giải quyết các vấn đề mục vụ, xã hội hay chính trị.
54. Liên hệ cấp giáo xứ nói chung khá thân hữu, nhưng không tránh khỏi va chạm. Ở đây, có hai khó khăn: Một là liên quan tới các vấn đề mục vụ. Trong trường hợp hôn nhân hỗn hợp, một số GH không phải là Công Giáo đòi bên CG phải được rửa tội lại. Cũng nên lưu ý: các “giáo phái phúc âm” hiện đang gia tăng nỗ lực cải đạo và chia rẽ giữa các Kitô hữu. Khó khăn thứ hai có tính lịch sử và cố hữu đối với Đất Thánh, nơi đó quy chế dành cho các Nơi Thánh vẫn dẫm chân tại chỗ (status quo). Tại Nhà Thờ Mộ Thánh và Nhà Thờ Giáng Sinh, đôi khi liên hệ hết sức căng thẳng.
55. Đối thoại đại kết diễn tiến qua Hội Đồng Các Giáo Hội Trung Đông, gọi là Ủy Ban Đức Tin và Hợp Nhất, gồm 4 nhóm: Chính Thống Hy Lạp; Chính Thống Đông Phương (Cốptíc, Syria và các GH Ácmêni); Công Giáo (sáu Giáo Hội Thượng Phụ và Giáo Hội La Tinh) và Thệ Phản (Anh Giáo, Luthêrô, Trưởng Lão và một số hệ phái khác). Trong thực tế, Hội Đồng này đại diện mọi Kitô hữu trong thế giới Ả Rập. Với 7 ủy ban (đức tin, các viện và chủng viện thần học, công lý và hòa bình, giới trẻ v.v…), Hội Đồng này thể hiện nhiệm vụ đại kết nhằm bơm sinh lực mới vào Giáo Hội và khả năng gặp gỡ và tôn trọng nhau.
56. Mặt khác, Tòa Thánh đang tiến hành một cuộc đối thoại phong phú và nhiều thành quả chung với mọi Giáo Hội Chính Thống và riêng với các GH Chính Thống Đông Phương, trong đó, các GHCG tại Trung Đông cũng đóng một vai trò tích cực. Thỉnh thoảng Qũy Vì Đông Phương (Pro Oriente Foundation) tại Vienna cũng tụ tập các GH Công Giáo và Chính Thống trong vùng lại với nhau để cùng suy tư về thần học và đại kết.
57. Các trường CG tiếp đón mọi Kitô hữu. Chỉ cần cha mẹ đồng ý, các học sinh Chính Thống có thể tiếp nhận các bí tích hòa giải và Thánh Thể. Việc cải đạo không bao giờ được phép. Học trò Chính Thống được kêu gọi tìm hiểu Giáo Hội của các em và trung thành với GH ấy. Hiện có nhiều dự án xã hội chung, do chính các tín hữu khởi xướng và quản trị.
58. Các dự án mục vụ chung đang được thảo luận bởi Hội Đồng Các Thượng Phụ Công Giáo Của Trung Đông và các Thượng Phụ Chính Thống của Libăng và Syria, căn bản bàn đến bốn vấn đề sau: hôn nhân hỗn hợp giữa các hệ phái Kitô Giáo, rước lễ lần đầu, giáo lý chung và ngày mừng Lễ Giáng Sinh và Lễ Phục Sinh chung. Ba vấn đề đầu đã đạt được thỏa hiệp. Cuốn thứ 6 của sách giáo lý chung đã được phát hành cho lớp 6 tại các trường tiểu học. Vấn đề ấn định ngày chung cho Lễ Giáng Sinh và Lễ Phục Sinh, do Hội Đồng Các Giáo Hội Trung Đông bàn luận, hiện đang gặp trở ngại khó vượt qua (về kỷ luật, về truyền thống…) Tuy nhiên, nguyện vọng lớn lao của mọi quốc gia Trung Đông là mong muốn có ngày được cử hành hai ngày lễ đó chung với nhau.
59. Về phương diện học thuật (academic), hiện đang có sự hợp tác giữa các đại học, phân khoa hay học viện thần học. Việc nghiên cứu các gia tài tôn giáo Syria và Ả Rập, một ngành nghiên cứu đang thu hút chú ý của các định chế đại học lẫn các hàng giáo phẩm, đang đem lại nhiều hứa hẹn và là một nguồn phong phú hóa tâm linh. Trở về với Truyền Thống chung cũng là một cách tuyệt hảo để trở nên gần gũi nhau hơn về phương diện thần học. Đàng khác, gia tài Kitô Giáo trong ngôn ngữ Ả Rập, dưới tầm nhìn đích đáng của học thuật, là một hỗ trợ chân thực trong cuộc đối thoại văn hóa và tôn giáo giữa các Kitô hữu và với người Hồi Giáo.
60. Phụng vụ hứa hẹn sẽ trở thành lãnh vực hợp tác thường xuyên giữa người Công Giáo và người Chính Thống Giáo. Nhiều người mong muốn có một cuộc canh tân phụng vụ đặt cơ sở trên Thánh Truyền và ý thức được các nhạy cảm hiện đại cũng như các nhu cầu tâm linh và mục vụ hiện nay. Công trình này cần có sự hợp tác tối đa của các bên.
C. Các liên hệ đặc biệt với Do Thái Giáo
61. Vì cuộc tranh chấp chính trị giữa thế giới Palestine và Ả Rập ở một bên và ở bên kia, nhà nước Do Thái, nên cuộc đối thoại trong các GH trong vùng tiến triển không bao nhiêu. Các liên hệ với Do Thái Giáo là đặc quyền của các GH tại Giêrusalem. Một số hiệp hội chuyên lo đối thoại giữa Do Thái Giáo và Kitô Giáo đang có mặt tại Palestine và Israel. Các sáng kiến đối thoại tương tự giữa người Do Thái Giáo, Kitô Giáo và Hồi Giáo cũng đang hoạt động, mà quan trọng nhất chính là “Hội Đồng Liên Tôn Các Định Chế Tôn Giáo”, hiện diện từ năm 2001 (bao gồm Tòa Trưởng Giáo Chủ, Trưởng qādi và Bộ Trưởng Waqf, và 13 Thượng Phụ hay Đứng Đầu các GH tại Giêrusalem). Đặc biệt quan trọng là cuộc đối thoại giữa Tòa Thánh (có sự tham dự của các GH điạ phương) và Tòa Trưởng Giáo Chủ Israel.
62. Bắt đầu với Thư Mục Vụ thứ hai năm 1992, Hội Đồng Các Thượng Phụ CG của TĐ đã minh nhiên lên tiếng về các mối liên hệ với Do Thái Giáo. Trong thư mới nhất, tức thư thứ 10 (năm 2009), Hội Đồng viết rằng: “Các mối liên hệ này chính là quan tâm hiện nay của người Kitô hữu Ả Rập và của chung toàn thể thế giới Ả Rập. Chính bởi thế, phải xem sét nó trên 3 bình diện: nhân bản, tôn giáo và chính trị. Trên bình diện nhân bản, mỗi con người đều là tạo vật của Thiên Chúa. Trên bình diện gặp gỡ này, mỗi người chúng ta thấy khuôn mặt Thiên Chúa trong người khác khi nhìn nhận phẩm giá của họ và dành cho họ sự tôn trọng, bất kể tôn giáo hay quốc tịch của họ. Trên bình diện tôn giáo, các tôn giáo được mời gọi gặp gỡ, dấn thân vào đối thoại và hành động để mang con người lại với nhau, nhất là trong các thời điểm khủng hoảng và chiến tranh (…) Vai trò nhà lãnh đạo tôn giáo trong mọi tôn giáo khá khó khăn, nhất là khi thù nghịch cứ tiếp diễn giữa hai bên (…) Các xã hội của ta cần có các nhà lãnh đạo tôn giáo thành thật, biết phục vụ giáo dân của họ cũng như nhân loại nói chung, biết thấy rằng trong mọi hoàn cảnh, điều cốt yếu trong mọi tôn giáo là thờ phượng Thiên Chúa và tôn trọng mọi tạo vật của Người.
63. “Trên bình diện chính trị, mối liên hệ này một lần nữa đang được đánh dấu bằng một tình huống thù địch giữa một bên là thế giới Palestine và Ả Rập và bên kia là Nhà Nước Israel (đang tệ hại hơn vì các quan điểm tôn giáo). Sự thù địch này là do việc Israel chiếm đóng các Lãnh Thổ Palestine và một số lãnh thổ của Libăng và Syria”. Trên bình diện này, các nhà lãnh đạo chính trị liên hệ, với sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, có trách nhiệm phải đưa ra các quyết định cần thiết phù hợp với các nghị quyết của LHQ.
64. Tài liệu nhắc tới 2 lời tuyên bố của Đức Bênêđíctô XVI nhân dịp ngài tông du Đất Thánh. Ngày 13-5-2009, tại Bêlem, ngài nói: “Thưa ông chủ tịch, Tòa Thánh ủng hộ quyền của dân tộc ông có được một quê hương Palestine có chủ quyền trên chính mảnh đất của cha ông, một quê hương an ninh và hòa bình với các liên bang, bên trong các biên giới được quốc tế thừa nhận”. Trước đó, ngày 11-5, tại phi trường Tel Aviv, ngài biểu lộ ý muốn “hai bên có thể sống hòa bình trong một quê hương riêng, bên trong các biên giới an ninh và được quốc tế công nhận”.
65. Là Kitô hữu, trách nhiệm của ta là triển khai mọi phương thế hòa bình để đạt cho được hòa bình bằng công lý. Đức Gioan Phaolô II từng nói: “không nền hòa bình nào lại thiếu công lý và không nền công lý nào lại thiếu tha thứ”. Ta cần học để biết tha thứ, bằng cách không bao giờ nhân nhượng bất công.
66. Làm việc để tạo ra những nhóm thân hữu và suy tư cho việc phát huy hòa bình giữa những người Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Kitô Giáo là một trách vụ chủ yếu và có tính Kitô Giáo trổi vượt. Như Chúa Kitô đã hủy diệt bức tường phân cách Ngưòi Do Thái với người Hy Lạp bằng cách gánh lấy sự ác trong chính nhục thân mình thế nào, thì trách nhiệm của ta cũng phải giật sập bức tường sợ sệt, nghi kỵ và thù hận như thế bằng tình thân hữu với người Do Thái Giáo, người Hồi Giáo, người Do Thái và Palestine.
67. Trên bình diện thần học, theo giáo huấn của Nostra Aetate, số 4, mối liên hệ tôn giáo giữa Do Thái Giáo và Kitô Giáo, dựa trên sợi dây cố hữu giữa Cựu Ước và Tân Ước, cần được giải thích cho tín hữu để tránh việc các ý thức hệ chính trị làm ung thối các mối liên hệ ấy đi. Cần phải phân biệt một cách cẩn thận giữa chính trị và thần học. Đồng thời, không bao giờ được dùng Thánh Kinh cho các mục tiêu chính trị cũng như không được dùng chính trị cho các mục tiêu thần học.
D. Các liên hệ với người Hồi Giáo
68. Các liên hệ giữa Kitô hữu và người Hồi Giáo cần được đặt trên 2 nguyên tắc. Một đàng, cả hai phải được coi là công dân của cùng một đất nước và quê hương, có chung một ngôn ngữ và một văn hóa, chưa kể cùng một vận may vận rủi chung của đất nước. Đàng khác, Kitô hữu phải coi mình như thành viên của xã hội nơi họ sinh sống và làm việc nhân danh xã hội ấy trong tư cách chứng nhân của Chúa Kitô và Phúc Âm của Người. Đôi khi các liên hệ ấy khá khó khăn, chủ yếu vì người Hồi Giáo thường lẫn lộn tôn giáo với chính trị, khiến người Kitô hữu lâm vào tình huống mỏng manh bị coi không phải là công dân (non-citizens).
69. Ngày 28 tháng 10 năm 1965, thời Công Đồng Vatican II, Giáo Hội từng công bố cho thế giới thấy quan điểm của mình đối với Hồi Giáo: “Giáo Hội cũng coi trọng người Hồi Giáo. Họ thờ lạy một Thiên Chúa duy nhất, sống và tự tồn tại trong chính Người; nhân từ và toàn năng, tạo nên trời và đất, từng lên tiếng nói với con người”.
70. Do đó, trách nhiệm của ta là làm việc trong tinh thần yêu thương và trung tín, để thiết lập sự bình đẳng cho mọi công dân trên mọi bình diện: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và tôn giáo, hòa hợp với hiến pháp của đa số các quốc gia của ta. Trung thành với quốc gia mình và với tinh thần Kitô Giáo, ta đang phải đương đầu với một thực tế sống đầy rẫy các thách thức hàng ngày, chưa kể tới các tuyên ngôn và đe dọa của một số phong trào. Dù đang có việc gia tăng chủ nghĩa cực đoan ở nhiều quốc gia, ta vẫn thấy một số lớn người Hồi Giáo sẵn sàng chống lại chủ nghĩa cực đoan tôn giáo đang lớn mạnh này.
71. Do kết quả của tình thế khái quát ấy, các liên hệ giữa người Kitô hữu và người Hồi Giáo không luôn luôn thoải mái. Rõ ràng, phải làm những gì có thể làm được để cải thiện và đem lại hòa bình cho tình thế ấy, bất luận khó khăn như thế nào. Các sáng kiến, phần lớn do người Kitô hữu khởi xướng, cần có đặc tính kiên nhẫn. Các liên hệ này bắt đầu bằng việc trở thành láng giềng tốt và có thể diễn tiến thành việc hợp tác đầy cởi mở theo nhóm hay theo từng cá nhân của hai tôn giáo. Các trung tâm đối thoại giữa người Hồi Giáo và người Kitô Giáo, nếu có, rất hữu ích, nhất là trong các thời kỳ khủng hoảng. Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn có một vai trò quan trọng, nhờ vị thế là một thực thể chính thức của Tòa Thánh.
72. Các trường học và định chế của ta cũng có vai trò rất quan trọng trong các liên hệ này. Các cơ sở này mở cửa cho mọi người, cả người Hồi Giáo lẫn Kitô Giáo, và đem lại cơ hội hiểu biết nhau tốt hơn, loại bỏ nhiều thiên kiến đặc thù và biểu lộ rõ ràng hơn ý nghĩa của Kitô Giáo và tư cách Kitô hữu của ta. Giáo dục về nhân quyền và tự do lương tâm, một phần của việc đào luyện tôn giáo và nhân bản nói chung, là điều sinh tử đối với các xã hội của ta và do đó, cần được triển khai.
73. Hiều biết lẫn nhau là căn bản cho mọi cuộc đối thoại. Vì lý do này, việc trình bày đơn giản về Phúc Âm và Chúa Kitô bằng ngôn ngữ địa phương, chủ yếu dựa trên Tân Ước và dễ hiểu đối với não trạng của những con người sống trong các xã hội của ta, phải được khẩn cấp thực hiện, với sự hợp tác của các Kitô hữu khác trong vùng. Điều này mang lợi ích lại cho cả người Kitô Giáo lẫn người Hồi Giáo, trong cả các cuộc đối thoại lẫn cuộc sống hàng ngày.
74. Ngày nay, số kênh truyền hình Kitô Giáo và Hồi Giáo bằng tiếng Ả Rập và bằng các thứ tiếng khác đủ cung cấp cho người quan tâm phương thế hiểu biết lẫn nhau. Hy vọng mọi Giáo Hội cùng làm việc với nhau trong lãnh vực này. Duy trì tính khách quan trong việc đưa tin và biết tôn trọng lẫn nhau trong đối thoại là điều cốt yếu, nếu ta muốn thực sự chia sẻ hồng ân của Phúc Âm.
E. Sự đóng góp của người Kitô hữu vào xã hội
(a) Hai thách đố đối với các quốc gia của ta
75. Ngày nay, các thách đố đang đặt ra cho các quốc gia của ta có liên quan tới mọi người, bất luận là người Kitô hữu, là người Do Thái Giáo hay là người Hồi Giáo. Vì những tranh chấp và can thiệp quân sự, các thách đố hòa bình và bạo lực chiếm một chỗ quan trọng. Nói về và làm việc cho hòa bình dường như là điều không thể có được, vì chiến tranh và bạo lực đã được áp đặt lên ta. Giải quyết tranh chấp hiện nằm trong tay nước mạnh hơn vì chính nó đã chiếm đóng và gây chiến với quốc gia khác. Bạo lực thì nằm trong tay cả nước mạnh lẫn nước yếu. Nước yếu phải sử dụng bất cứ thứ bạo động nào có trong tầm tay để tự giải thoát mình. Một số nước như Palestine, Iraq hiện đang có chiến tranh, và toàn vùng cũng chịu luôn hậu quả một cách trực tiếp. Tình trạng từng kéo dài nhiều thế hệ ấy đang bị một hình thức khủng bố triệt để nhất và có tính hoàn cầu nhất khai thác.
76. Các quốc gia của ta quá thường khi lại đồng hóa Kitô Giáo với Tây Phương. Đã đành Tây Phương (tức Âu Châu và Mỹ) có truyền thống và gốc gác Kitô Giáo, nhưng rõ ràng các quốc gia này hiện nay đang có các chế độ và chính quyền thế tục, nền chính trị của họ ít chịu ảnh hưởng đức tin Kitô Giáo. Do sự kiện thế giới Hồi Giáo không chịu phân biệt giữa chính trị và tôn giáo, nên sự hồ đồ trên đã gây nhiều tai họa nghiêm trọng cho các GH trong vùng. Thực vậy, các quyết định chính trị của các chính phủ tại Tây Phương thường bị gán cho đức tin Kitô Giáo. Điều quan trọng là phải giải thích “thế tục” có nghĩa gì và nhắc cho dân chúng tại các quốc gia của ta nhớ rằng không hề có một Liên Minh Các Quốc Gia Kitô Giáo nhưTổ Chức Hội Đồng Hồi Giáo (Oraganisation of Islamic Conference).
77. Trong các hoàn cảnh ấy, Kitô hữu có thể góp phần bằng cách không những biểu lộ và sống thực các giá trị Phúc Âm mà còn nói lên sự thật cho những kẻ quyền thế luôn áp chế hay thi hành các chính sách đi ngược lại quyền lợi tốt đẹp nhất của xứ sở, và cho những ai dùng bạo lực chống lại áp bức. Sư phạm hòa bình là con đường thực tiễn nhất nên theo, mặc dù đa số người ta bác bỏ nó. Tuy nhiên, cơ may nó được chấp nhận đang gia tăng đáng kể, xét vì trong quá khứ, bạo lực của cả người mạnh lẫn người yếu chỉ dẫn tới thất bại và bế tắc chung cho cả vùng Trung Đông. Dù quả có đòi hỏi nhiều can đảm, nhưng sự đóng góp của ta không thể nào miễn chước được.
78. Tính hiện đại là một thực tại hàm hồ. Xét theo một nghĩa, nó có khía cạnh quyến rũ qua việc hứa hẹn đem lại tiện nghi và thoải mái về vật chất, có khi còn giải thoát người ta khỏi các truyền thống áp bức về văn hóa và tâm linh. Tính hiện đại cũng đã tranh đấu cho công lý và công bình, bênh vực quyền lợi của kẻ yếu, bình đẳng giữa mọi người, bất kể là nam hay nữ, người tin hay người không tin… Nói chung, nó là sự thành tựu hoàn toàn của Nhân Quyền, một bước tiến vĩ đại cho nhân loại. Nhưng xét theo một nghĩa khác, cách riêng đối với các tín hữu Hồi Giáo, tính hiện đại ấy chỉ có nghĩa là vô thần và vô luân. Các tín hữu này coi nó như một cuộc xâm lăng văn hóa đang đe dọa họ và sẽ phá hủy hệ thống giá trị của họ. Họ không biết phải phản ứng với nó ra sao; thực tế, một số đã chống lại nó bằng mọi phương tiện. Như thế, tính hiện đại vừa lôi cuốn vừa đẩy người ta ra xa. Vai trò của ta trong học đường và truyền thông là đào tạo những con người có khả năng phân biệt được các khía cạnh tích cực và các khía cạnh tiêu cực của tính hiện đại để có thể chỉ giữ lại những điều tốt đẹp nhất.
79. Tính hiện đại cũng đặt ra nhiều nguy cơ cho cả người Kitô hữu nữa. Các xã hội của ta cũng đang bị đe dọa bởi việc thiếu vắng cảm thức về Thiên Chúa, bởi chủ nghĩa vô thần, duy vật, và tệ hơn nữa, là chủ nghĩa duy tương đối và dửng dưng. Ta cần nhắc mình nhớ tới chỗ đứng của Thiên Chúa trong cuộc sống bản thân và cuộc sống xã hội của ta, và càng ngày càng phải trở nên người cầu nguyện và làm chứng cho Chúa Thánh Thần, Đấng xây dựng và hợp nhất. Các nguy cơ của tính hiện đại, như chủ nghĩa cực đoan, rất dễ hủy diệt gia đình ta, xã hội ta và các Giáo Hội ta. Từ lối nhìn này, cả người Hồi Giáo lẫn người Kitô Giáo đều phải có chung một nghị trình.
(b) Kitô hữu phục vụ xã hội tại các quốc gia của mình
80. Chúng ta thuộc Trung Đông, sống liên đới với vùng này và là một thành phần cơ yếu của nó. Là công dân, ta chia sẻ mọi khía cạnh của trách nhiệm tái thiết và lật ngược các hậu quả tai hại của tình thế. Đàng khác, sự dấn thân này chủ yếu là của chính chúng ta trong tư cách Kitô hữu và từ đó, hai nhiệm vụ đặt ra cho ta. Một là chia sẻ cuộc đấu tranh chống sự ác trong xã hội, bất luận là chính trị, luật lệ, kinh tế, xã hội hay luân lý, hai là góp phần xây dựng cho được một xã hội công bình hơn, nhân bản hơn, và nhièu liên đới với nhau hơn.
81. Về phương diện này, ta theo chân các thế hệ Kitô hữu đi trước chúng ta. Sự đóng góp của họ cho xã hội trong các công trình giáo dục, văn hóa và xã hội hết sức rộng lớn và liên tiếp trong nhiều thế hệ. Họ đã thể hiện một vai trò chủ chốt trong đời sống văn hóa, kinh tế và chính trị của xứ sở. Họ từng là những nhà tiên phong của Phong Trào Phục Hưng quốc gia Hồi Giáo.
82. Ngoại trừ Libăng, sự hiện diện của họ trong đời sống công dân ngày nay khiêm tốn hơn, chủ yếu vì con số của họ đã giảm đi. Tuy nhiên, vai trò của họ vẫn được nhìn nhận trong xã hội qua nhiều định chế do Giáo Hội và các dòng tu quản trị, tại các nơi Giáo Hội hiện diện, một sự hiện diện phần lớn được đánh gía cao. Hy vọng rằng các tín hữu giáo dân Kitô Giáo càng ngày càng can dự vào xã hội.
(c) Các liên hệ giữa nhà nước và Giáo Hội
83. Trừ Thổ Nhĩ Kỳ, chủ nghĩa thế tục không có trong Hồi Giáo. Bình thường, Hồi Giáo là quốc giáo. Nguồn chính của luật lệ là Hồi Giáo, được gợi hứng từ Luật Shariah. Đối với luật lệ bản thân (mà một số nước gọi là luật gia đình và thừa kế), có các qui định riêng cho các cộng đồng Kitô Giáo. Các tòa án GH được công nhận và các phán quyết của tòa này có hiệu lực. Hiến pháp của mọi nước đều khẳng định sự bình đẳng của các công dân. Giáo dục tôn giáo là điều bắt buộc trong các trường tư và công, nhưng không luôn luôn được bảo đảm đối với người Kitô hữu.
84. Một số nước là quốc gia Hồi Giáo, nơi luật Shariah được áp dụng cả vào đời sống tư lẫn đời sống công, kể cả đời sống những người không phải là Hồi Giáo. Việc này luôn tạo ra kỳ thị và do đó, vi phạm nhân quyền của một người.
Tự do tôn giáo và tự do lương tâm là điều xa lạ đối với tâm trí người Hồi Giáo. Tâm trí này chỉ nhìn nhận tự do thờ phượng, chứ không cho phép việc tuyên xưng một tôn giáo nào khác ngoài Hồi Giáo, bỏ Hồi Giáo lại càng không được hơn. Với đà thắng thế của chủ nghĩa duy Hồi Giáo, các biến cố chống Kitô hữu mỗi ngày một gia tăng hơn tại khắp nơi.
F. Kết luận: Sự đóng góp đặc thù và không thay thế được của người Kitô hữu
85. Sự đóng góp đặc thù và không thay thế được của người Kitô hữu cho xã hội ta đang sống là làm giầu nó bằng các giá trị Phúc Âm. Kitô hữu là người làm chứng cho Chúa Kitô và các giá trị mới mà Người đã hiến tặng nhân loại. Vì thế, nền giáo lý của ta phải đào tạo con người thành tín hữu và công dân, biết thực hiện công việc của mình trong các khu vực khác nhau của xã hội. Can dự vào chinh trị mà không có các giá trị Phúc Âm là phản lại chứng tá, gây hại hơn là có lợi. Các giá trị này, xét về nhiều phương diện, nhất là các nhân quyền, hoàn toàn trùng hợp với các giá trị của Hồi Giáo. Bởi thế, cần phải nói nhiều hơn nữa để phát huy các giá trị này trong việc hợp tác với nhau.
86. Một vài tranh chấp tại Trung Đông phát sinh từ cuộc tranh chấp Do Thái Palestine, vốn được toàn thế giới theo dõi. Người Kitô hữu có thể đóng góp một cách đặc biệt trong phạm vi công lý và hòa bình. Bổn phận ta là can đảm tố cáo bạo lực, bất kể nguồn gốc, và tìm giải pháp, một điều chỉ có thể có được qua đối thoại. Mặt khác, trong khi đòi hỏi công lý cho người bị áp chế, sứ điệp hòa giải, dựa trên việc tha thứ lẫn nhau, phải được công bố. Quyền lực của Chúa Thánh Thần giúp ta tha thứ và xin được tha thứ. Đó là con đường duy nhất để tạo ra một nhân loại mới. Các quyền lực chính trị cần cởi mở đối với các khía cạnh tâm linh của người dân và của tình hình, một điều họ có thể tiếp nhận được từ hoạt động khiêm tốn, quên mình của Kitô Giáo. Để Chúa Thánh Thần vào tận trái tim con người trong vùng, những con người vốn chịu đau khổ từ tình thế tranh chấp, chính là đóng góp đặc thù mà người Kitô hữu có thể làm được, và là phục vụ tốt nhất họ có thể hiến tặng cho xã hội của họ.
Các câu hỏi
10 câu hỏi từ số 18 tới số 27 nói về giáo lý, bài giảng, truyền thanh, truyền hình: làm thế nào giúp người trẻ và tín hữu hiểu và sống đức tin; về các liên hệ đại kết: tái khám phá gia tài chung; về phụng vụ; làm chứng trong xã hội; đối thoại và hợp tác với Do Thái Giáo và Hồi Giáo
KẾT LUẬN
Đâu là tương lai cho các Kitô hữu Trung Đông? “Đừng sợ, hỡi đoàn chiên bé nhỏ!”
A. Tương lai đối với Kitô hữu Trung Đông
87. Con số Kitô hữu giảm thiểu trong vùng là hậu quả của lịch sử. Tuy nhiên, bằng hành động trong tư cách Kitô hữu, ta vẫn có thể cải tiến hiện tại và xây dựng tương lai. Một đàng, dù nền chính trị hoàn cầu có tác động đối với quyết định ra đi hay ở lại quê hương của ta, thì mặt khác chấp nhận ơn gọi làm Kitô hữu bên trong và nhân danh xã hội sẽ là lý do quan trọng nhất khiến ta ở lại làm chứng ngay tại quê hương mình. Đây là vấn đề chính trị và đức tin
88. Hiện nay, đức tin này khá mong manh và bối rối. Thái độ của ta, kể cả thái độ của một số mục tử, biến thiên giữa sợ sệt và ngã lòng. Đức tin này phải trưởng thành và đáng tin tưởng hơn. Ta phải có quyết định mạnh mẽ hơn cho tương lai, một quyết định được lên khuôn bởi cách ta cố gắng cư sử với người khác và tạo nên các liên minh với những người thiện chí trong xã hội. Ta cần một đức tin biết tham dự vào đời sống của xã hội, một đức tin có tác dụng nhắc cho Kitô hữu Trung Đông nhớ các lời lẽ đầy linh hứng sau đây: “Đừng sợ, hỡi đoàn chiên bé nhỏ” (Lc 12:32). Anh em có một sứ mệnh, anh em phải chu toàn sứ mệnh đó và hỗ trợ Giáo Hội và đất nước anh em lớn mạnh và phát triển trong hòa bình, công lý và bình đẳng cho mọi công dân.
B. Hy vọng
89. Niềm hy vọng từng trổ sinh tại Đất Thánh vốn nâng đỡ các dân tộc và các cá nhân trong những thời kỳ thử thách khắp thế giới hơn 2 nghìn năm qua. Trước các khó khăn và thách thức, niềm hy vọng này luôn là nguồn bất tận của đức tin, tình yêu và niềm vui cho các nhân chứng của Chúa Phục Sinh, Đấng hằng hiện diện giữa cộng đoàn các môn đệ của Người. Tại mọi quốc gia, niềm hy vọng này nâng đỡ chúng ta khi ta suy niệm các lời sau đây của Chúa Giêsu: “Đừng sợ, hỡi đoàn chiên bé nhỏ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em” (Lc 12:32).
90. Tuy nhiên, hy vọng có nghĩa là tin tưởng vào Thiên Chúa và Sự Quan Phòng của Người, Đấng hằng theo dõi và hướng dẫn dòng lịch sử của mọi dân tộc, và hành động trong kết hợp với Thiên Chúa như những “người cùng làm việc” với Người (1Cor 3:9), làm bất cứ điều gì con người có thể làm được để góp phần vào sự phát triển đang xẩy ra. Nền giáo lý của ta phải chú tâm nhiều hơn tới lượng hải hà của tình yêu Thiên Chúa dành cho mọi người; nền giáo lý ấy cần đào luyện tín hữu trở thành người cùng làm việc trong mọi khía cạnh của sinh hoạt công trong các xã hội của ta.
91. Phó mình cho sự Quan Phòng của Thiên Chúa cũng có nghĩa là hiệp thông sâu sắc hơn về phần ta, xa lánh nhiều hơn quan điểm trần thế và thoát nhiều hơn ra khỏi những gai góc từng bóp nghẹt Lời Chúa và ơn thánh của Người nơi ta. Như Thánh Phaolô từng khuyên: “Hãy yêu thương nhau bằng tình huynh đệ; coi người khác trọng hơn mình; nhiệt thành, không trễ nải; lấy tinh thần sốt sắng mà phụng sự Chúa. Hãy hân hoan vì có lòng hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện” (Rm 12: 10-12). Và Chúa Kitô dạy ta: “Nếu các con có đức tin nhỏ như hạt mù-tạt, thì dù các con nói với ngọn núi này, ‘rời khỏi đây, qua bên kia’, nó cũng sẽ qua, và sẽ không có gì mà các con không làm được” (Mt 17:20).
92. Niềm tin ấy cần thiết cho cả các mục tử lẫn giáo dân.
Các câu hỏi
5 câu hỏi cuối cùng từ số 28 tới 32 hỏi có sợ tương lai không, phải nhập thể đức tin vào việc làm, vào chính trị và vào xã hội ra sao, có tin mình có sứ mệnh đặc biêt tại TĐ hay không, và có những nhận định nào khác không.
Hy vọng cả người Công Giáo Việt Nam lẫn người Công Giáo Trung Đông cùng đồng loạt mạnh mẽ trả lời: không sợ tương lai, như họ đã không sợ quá khứ và hiện tại.