Ngày đầu năm cũng là ngày Đức Giáo Hoàng gặp gỡ ngoại giao đoàn. Nhân dịp này, Tòa Thánh có phát hành một thông cáo báo chí cho thấy các thành quả ngoại giao của Tòa Thánh trong năm 2009. Hiện nay, Tòa Thánh có liên hệ ngoại giao đầy đủ với 178 quốc gia, một con số vẫn mỗi ngày một gia tăng nhờ nhiều cố gắng tích cực trong năm qua. Ngoài ra, Tòa Thánh còn có liên hệ ngoại giao với Liên Hiệp Âu Châu, với Hội Hiệp Sĩ Malta Tối Cao (một hội xưa của Công Giáo, nhưng được thừa nhận như một thực thể có chủ quyền theo luật quốc tế và hiện có tư cách quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc) và với Tổ Chức Giải Phóng Palestine.

Tòa Thánh cũng có đại diện tại các tổ chức quốc tế trong đó có Liên Hiệp Quốc mà trụ sở chính đặt tại New York (Hoa Kỳ); các Văn Phòng Và Cơ Quan Chuyên Môn LHQ tại Genève, Thụy Sĩ; Cơ Quan Nguyên Tử Lực Quốc Tế tại Vienna, Áo; Tổ Chức Hợp Tác và An Ninh, cũng tại Vienna; Hội Đồng Âu Châu, tại Strasbourg, Pháp; Tổ Chức Các Quốc Gia Mỹ Châu, tại Washington D.C., Hoa Kỳ. Một giáo dân cũng đại diện Tòa Thánh bên cạnh Viện Quốc Tế Thống Nhất Luật Tư. Thêm vào đó, Tòa Thánh còn có đại diện thường trực bên cạnh 10 tổ chức quốc tế phi chính phủ khác. Trong năm qua, các vị đại diện của Tòa Thánh đã hết sức tích cực trong việc nói lên quan điểm của Tòa Thánh liên quan đến mọi vấn đề nóng bỏng có tính thời sự quốc tế, đặc biệt trong lãnh vực bênh vực nhân quyền, nhất là quyền của những người bị đẩy ra bên lề, những người yếu đuối như trẻ sơ sinh. Về phần mình, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã dùng bài nói truyện với ngoại giao đoàn năm nay để nhấn mạnh tới việc thiết lập liên hệ ngoại giao đầy đủ với Liên Bang Nga. Từ năm 1990, sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, hai bên từng đã có đại diện ngoại giao rồi. Nhưng từ tháng 12 vừa qua, liên hệ ngoại giao ấy đã được nâng lên hàng đại sứ.

Ngày 12 tháng Giêng năm ngoái, Tòa Thánh cũng đã ký một tông hiệp (concordat) với Lãnh Thổ Schleswig-Holstein của Đức để điều hòa các mối liên hệ còn sót lại từ thỏa hiệp ký giữa Tòa Thánh và Áo trước đây. Ngày 10 tháng 12 vừa qua, Tòa Thánh cũng đã trao đổi tài liệu ký kết thỏa ước với Ba Tây, một thỏa ước đã được ký ngày 13 tháng 11 năm 2008. Một tuần sau, tức ngày 17 tháng 12, một công ước tiền tệ giữa Vatican và Liên Hiệp Âu Châu đã được ký kết để cập nhật hóa thỏa ước năm 2000 thừa nhận đồng Euro là tiền tệ chính thức của Quốc Gia Vatican.

Điều đáng lưu ý đối với người Việt là trong ngay phần đầu bài nói truyện với ngoại giao đoàn năm nay, Đức Bênêđíctô XVI đã trân trọng nhắc đến cuộc gặp gỡ với Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết của Cộng Sản Việt Nam, mặc dù Nước này chưa lập ngoại giao chính thức với Tòa Thánh. Đức Bênêđíctô XVI mô tả cuộc gặp gỡ ấy là “có nghĩa” và theo ngài, “Việt Nam là một xứ sở rất gần gũi với trái tim tôi, nơi Giáo Hội đang mừng kính sự hiện diện hàng mấy thế kỷ qua bằng một năm thánh”. Ngài nói thêm: “trong tinh thần cởi mở ấy, trong suốt năm 2009, tôi đã gặp gỡ nhiều nhà lãnh đạo chính trị khắp thế giới; tôi cũng đã thăm viếng một số vị và hằng muốn tiếp tục làm như thế khi có thể”.

Từ những thuở đầu…

Nhiều người cho rằng ngành ngoại giao của Tòa Thánh chỉ có thực chất từ thời Đức Phaolô VI, một chuyên viên “ngoại giao” của Tòa Thánh gần suốt cuộc đời giáo sĩ của mình. Nhưng thực ra, theo Sở Thông Tin Vatican (VIS), hoạt động ngoại giao lâu đời nhất của thế giới chính là của Tòa Thánh và gốc gác của nó đã có từ những thế kỷ đầu hết của Giáo Hội Công Giáo khi các đại diện toàn quyền mà tiếng Latinh gọi là legati a latere được phái tới các công đồng quan trọng hay để giải quyết một số vấn đề khác. Thực vậy, một đại diện toàn quyền như thế đã được phái tới Công Đồng Nixêa vào năm 325.

Dù sứ mệnh của các đại diện đầu hết của giáo hoàng chủ yếu chỉ có tính thiêng liêng về bản chất, nhưng ngay từ thế kỷ thứ 5 cho đến thế kỷ thứ 8, nhiều thay đổi đã xuất hiện khi các vị giáo hoàng bắt đầu phái các đại diện lâm thời tới các nghi lễ dân sự cũng như tới các biến cố tôn giáo có tính đặc biệt. Đến giữa thế kỷ 15, thì đại diện thường trực của giáo hoàng bắt đầu hiện hữu và qua thế kỷ 16, lịch sử nghi nhận việc thiết lập các tòa sứ thần (apostolic nunciatures) tại nhiều quốc gia, với nhiều trao đổi đại diện giữa các quốc gia ấy và Tòa Thánh. Tòa sứ thần đầu tiên được thiết lập tại Venice năm 1500.

Theo Công Ước Ngoại Giao ký tại Vienna ngày 18 tháng 4 năm 1961, các đại sứ của Tòa Thánh, hay khâm sứ, được coi là niên trưởng (dean) của ngoại giao đoàn nơi vị ấy phục vụ. Nhưng nơi nào, danh dự ấy không có trên pháp lý, thì Tòa Thánh vẫn thiết lập tòa sứ thần, do một sứ thần, hay đại sứ, cầm đầu. Tòa Thánh thực thi cả quyền “tích cực” trong việc phái các đại diện của mình tới các quốc gia khác lẫn quyền “thụ động” trong việc tiếp nhận các đại diện của họ. Năm 1997, Tòa Thánh trao đổi đại sứ với 162 quốc gia, 12 năm sau, con số các quốc gia ấy đã tăng tới 178.

Quan tâm đến mọi Giáo Hội

Dù sao, Đức Phaolô VI cũng đã không làm người ta thất vọng đối với 2, 3 chục năm ngài âm thầm phục vụ ngành ngoại giao của Vatican. Thực vậy, ngay lúc Công Đồng Vatican II còn đang diễn tiến, ngài đã ngỏ ý sẽ ấn định rõ ràng hơn các chức năng của các vị đại diện Tòa Thánh. Ngày 24 tháng 6 năm 1969, ngài ban hành tự sắc (motu proprio) "Sollicitudo omnium Ecclesiarum" (Quan Tâm Đến Mọi Giáo Hội) đề cập đến vấn đề trên.

Tự sắc trên xếp các đại diện của Tòa Thánh thành: sứ thần (nuncio), một tổng giám mục hàng đại sứ, đại diện Đức Thánh Cha tại Giáo Hội địa phương và tại chính phủ sở tại; đại sứ (pro-nuncio), cùng chức năng và ngang hàng với sứ thần, nhưng không phải là niên trưởng ngoại giao đoàn; khâm sứ (apostolic delegate), một tổng giám mục, chỉ đại diện Đức Giáo Hoàng tại Giáo Hội địa phương mà thôi vì giữa Tòa Thánh với quốc gia ấy chưa có liên hệ ngoại giao; tham tán đại sứ (charge d’affairs), đứng đầu tòa sứ thần hay tòa khâm sứ khi vị sứ thần hay khâm sứ vắng mặt. Loại thứ năm, gọi là liên sứ thần (inter-nuncio) đã bị Bộ Giáo Luật mới hủy bỏ. Hiện nay, Tòa Thánh chỉ dùng tước “sứ thần” (nuncio) khi cử nhiệm ai, tiền từ pro cũng đã bị hủy bỏ.

Ngoài các loại đại diện trên, giáo luật còn ấn định rằng: “Cũng được kể là đại diện Tòa Thánh những ai được cử nhiệm vào các Phái Bộ Tông Tòa (Pontifical Missions) làm Đại Diện hay Quan Sát Viên tại các hội đồng hay các hội nghị và hội họp quốc tế”.

Nhiệm vụ các đại diện

Các điều từ 362 tới 367 của Bộ Giáo Luật năm 1983 nói tới các đại diện của Đức Giáo Hoàng. Điều 362 định rằng: “Đức Giáo Hoàng có quyền tự tại và độc lập trong việc bổ nhiệm, phái đi và triệu hồi các đại diện của mình tại các giáo hội đặc thù ở các quốc gia hay lãnh thổ khác nhau, tại các nhà nước và thẩm quyền công cộng; các qui định của luật quốc tế phải được tuân hành liên quan đến việc phái đi và triệu hồi các đại diện tại các nhà nước”.

Điều 364 ấn định nhiệm vụ của vị đại diện như sau: “gửi tin tức về Tòa Thánh liên quan tới tình thế nơi các giáo hội đặc thù…; hỗ trợ các giám mục bằng hành động và lời khuyên, trong khi tôn trọng hòan toàn việc thực thi quyền hạn hợp pháp của các vị giám mục ấy; cổ vũ sự hợp tác chặt chẽ với hội đồng giám mục…; chuyển giao hay đề nghị về Tòa Thánh tên các ứng viên có liên quan đến việc cử nhiệm giám mục…”.

Bên cạnh các chức năng trên, các vị đại diện cũng phải “cố gắng cổ vũ các vấn đề liên quan đến hòa bình, tiến bộ và hợp tác của các dân tộc; hợp tác với các giám mục để bảo vệ những gì thuộc sứ mệnh của Giáo Hội và của Tòa Thánh trong mối tương quan với các nhà lãnh đạo của quốc gia; thi hành các năng quyền và chu toàn các sứ mệnh khác do Tòa Thánh ủy thác”.

Các nhà ngoại giao tương lai của Tòa Thánh được huấn luyện tại Học Viện Giáo Sĩ Giáo Hoàng (Pontifical Ecclesiastical Academy) do Đức GH Clement XI thiết lập năm 1701. Ngày 8 tháng 9 năm 1937, Đức GH Piô XI đã cử nhiệm hồng y quốc vụ khanh làm người bảo hộ học viện. Các ứng viên phải có văn bằng cấp đại học và một văn bằng về giáo luật. Thời gian thụ huấn thường kéo dài từ 3 đến 4 năm, trong đó có thời gian dành cho việc học ngoại ngữ. Trung bình, có tới 35 sinh viên từ 20 quốc gia khác nhau theo học tại học viện.

Một nền ngoại giao của thực tiễn hy vọng

Tháng 12 vừa qua, sinh hoạt ngoại giao của Đức Bênêđíctô XVI có nhiều nét đáng lưu ý. Bởi trong tháng đó, ngài tiếp tân đại sứ của Cuba, và hai vị lãnh đạo nhà nước Nga và Cộng Sản Việt Nam. Theo linh mục Federico Lombardi, phát ngôn viên Tòa Thánh, những cuộc gặp gỡ ấy nói lên một nguyên tắc trong nền ngoại giao của Tòa Thánh: chủ nghĩa thực tiễn về hy vọng. Theo cha, nền ngoại giao của Tòa Thánh luôn theo đuổi một cuộc đối thoại về hy vọng nhân danh Tin Mừng vì lợi ích của nhân loại.

Cha Lombardi nói thêm: chính trong tinh thần ấy, khi tiếp tân đại sứ Cuba, ông Eduardo Delgado Bermúdez, đến trình ủy nhiệm thư, Đức Bênêđíctô XVI đã phát biểu rằng: dù có nhiều khó khăn trong các mối liên hệ với Tòa Thánh suốt các thập niên qua, và trên hết là các hạn chế đối với các hoạt động của Giáo Hội, nhưng các liên hệ ngoại giao đã không bao giờ bị đứt đoạn và ngài đánh giá cao các cải tiến mới đây.

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh Cha và Tổng Thống Medvedev của Nga mang lại nhiều tin vui hơn bởi đó là dịp để công bố việc thiết lập các mối liên hệ ngoại giao đầy đủ với Liên Bang Nga, kết thúc 20 năm cố gắng xáp lại gần nhau tuy chính thức nhưng chưa trọn vẹn. Cha Lombardi cho rằng đây là một bước tiến có ý nghĩa, chứng tỏ rằng ngày nay, tình thế thù nghịch trong quá khứ với chế độ cộng sản Xô Viết đã trở thành lịch sử.

Sau cùng, đối với cuộc gặp gỡ ông Nguyễn Minh Triết, phát ngôn viên Tòa Thánh cho rằng “phải coi nó như một giai đoạn mới trong niềm hy vọng tiến tới việc bình thường hóa quan hệ với một quốc gia Á Châu mà nơi đó, Giáo Hội Công Giáo đang chờ mong một cộng đồng rộng lớn và năng động”. Cha cũng nhắc để mọi người nhớ: người Công Giáo Việt Nam đang cử hành một năm thánh quan trọng và “bất chấp các khó khăn của nhiều thập niên qua, họ vẫn đang hy vọng nhìn về tương lai”.

Tóm lại, theo cha Lombardi, “Với lòng kiên nhẫn và phương thức nhìn xa, Tòa Thánh tiếp tục nối kết cuộc đối thoại của mình với các nhà lãnh đạo các quốc gia, nhằm phục vụ lợi ích của Giáo Hội tại các quốc gia của họ và nhằm sự hiểu biết và hòa bình giữa mọi dân tộc”. Cha kết luận: “Nền ngoại giao của Tòa Thánh không bị điều hướng bởi yếu đuối hay tinh thần thỏa hiệp. Nhưng là vấn đề thực tiễn hy vọng, như quá khứ đã từng chứng tỏ”.

Không chỉ lo quyền lợi của Giáo Hội

Nhân cuộc viếng thăm Cuba của Đức Gioan Phaolô II đầu năm 1998, nhà báo Giancarlo Zizola, trên tờ “Le Monde Diplomatique” ấn bản tiếng Anh, tháng Giêng năm 1998, đã nhận định rằng: sau khi hệ thống cộng sản sụp đổ tại Đông Âu, Vatican càng tăng cường hơn nữa các hoạt động ngoại giao của mình. Được một điều nền ngoại giao này đã từ bỏ các tham vọng thần trị (theocratic ambitions) và đã chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên trong tổ chức xã hội dân chủ. Nhưng song song với các sinh hoạt có tính tôn giáo như làm cầu nối giữa các Giáo Hội địa phương và Rôma, quan tâm đến các vấn đề về tín lý và kỷ luật cũng như cho ý kiến đối với việc đề cử các giám mục, nền ngoại giao Vatican càng ngày càng quan tâm nhiều hơn tới quyền lợi của toàn thể nhân loại chứ không hẳn chỉ là quyền lợi của Giáo Hội Công Giáo mà thôi.

Dù các hoạt động ngoại giao của mình đã bớt đi nhiều tính cách bè phái, Tòa Thánh vẫn chưa ngừng đảm nhiệm vai trò tích cực trong các vấn đề quốc tế, kể cả các vấn đề xã hội và chính trị. Trái lại, để đương đầu với hiệu quả kép của hiện tượng hoàn cầu hóa và cuộc khủng hoảng ý thức hệ, Tòa Thánh đã bớt đi các cố gắng chống lại các chế độ toàn trị để thẳng thừng lao vào cuộc tấn kích các lầm lạc muôn hình của xã hội hậu hiện đại, một xã hội đang mất hướng và quên hẳn đi các giá trị của mình.

Trung thành với học thuyết xã hội truyền thống của mình, vị lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo, tức Đức Gioan Phaolô II, cảm thấy có sứ mệnh chính trị và thiêng liêng phải đem sứ điệp của mình tới các xã hội đang bị lung lạc bởi lực lượng tàn phá của chủ nghĩa phóng túng và việc thống trị tuyệt đối của các giá trị chính trị, hoàn toàn do luật lợi nhuận và thị trường điều hướng. Ngài tỏ ra thất vọng đối với tầm mức khủng khiếp của lỗ hổng ý thức hệ và luân lý này.

Theo Zizola, một thay đổi đáng kể nữa là hiện nay tuy nền ngoại giao của Vatican chưa chịu từ bỏ những phòng khách sang trọng của các tòa sứ thần, nhưng cũng đã bắt đầu có được những mạng lưới ít trang trọng nhưng nhiều đa năng hơn. Các phong trào Công Giáo như Hội Đồng Công Lý và Hòa Bình hay Pax Christi đã trở thành những khí cụ quan yếu trong kho lẫm của Vatican. Đồng thời, Tòa Thánh đã thực hiện nhiều công bố quan trọng trong những năm qua tại các hội nghị quốc tế lớn, như hội nghị về môi trường, về dân số và về phụ nữ tại Rio, tại Cairo và tại Bắc Kinh. Chủ đích của Vatican rõ ràng là để đảm bảo rằng các thính giả của mình nghe được các vấn đề mình cảm thấy cần có một phương thức luân lý để giải quyết theo quan điểm Kitô Giáo.

Zizola nhận định thêm rằng: dù Đức Gioan Phaolô II mở rộng đáng kể phạm vi hoạt động chính trị của Giáo Hội Công Giáo, nhưng ngài lại tỏ ra không muốn để cho mình bị vướng vào ngoại giao. Hơn hẳn các vị tiền nhiệm, ngài dựa nhiều vào các thượng hội hội đồng hay các cuộc gặp mặt của các chuyên viên tại Rôma trong cố gắng xác định ra chiến lược chiến thuật cho Giáo Hội trong các vấn đề chủ yếu. Chính vì thế, ngài đã triệu tập Thượng Hội Đồng Âu Châu trong hai tháng 11 và 12 năm 1991, ngay sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ. Ngài tham khảo các vị giám mục Anh và Á Căn Đình lúc xẩy ra cuộc chiến Falklands năm 1982. Và khi các vị giám mục Mỹ nêu vấn đề gián chỉ hạch tâm năm 1994, ngài cho vời đại diện các vị giám mục thuộc các quốc gia trong khối NATO tới Vatican để nghe quan điểm của họ.

Trong các năm sau đó, các giám mục địa phương như Đức HY Sin của Phi Luật Tân và Đức Cha Samuel Ruiz của Chiapas thường đã hành động như các trung gian trong các hoàn cảnh tranh chấp, một nhiệm vụ trước đây vốn dành cho Vatican. Cộng đồng Sant’Egidio, một hiệp hội đời chịu giáo luật điều hướng, từng đứng trung gian một cách thành công giữa các phe tranh chấp tại Mozambique, Burundi và Guatemala,. Điều ấy cho thấy đây có thể là một hình thức ngoại giao mới của Vatican trong tương lai, một hình thức ngoại giao ít gò bó hơn.

Hiện nay, theo giáo sư Andrea Riccardi, chủ tịch Sant’Egidio, phần lớn hoạt động chính trị của Giáo Hội mang hình thức tông du của Đức Giáo Hoàng, những cuộc tông du chủ yếu có tính mục vụ. Đức Gioan Phaolô II đã chính thức uỷ nhiệm mọi chức năng liên quan đến thẩm quyền chính trị của ngài cho quốc vụ khanh Tòa Thánh. Và trong các cuộc tông du, ngài không hề hành động như một quốc trưởng.

Thêm vào đó, một vài chức năng có hơi hướm chính trị cũng được ngài ủy quyền cho các định chế khác của Tòa Thánh, như Thánh Bộ Các Giáo Hội Đông Phương lúc ấy dưới sự điều khiển của HY Achille Silvestri, và Hội Đồng Công Lý và Hoà Bình lúc ấy dưới quyền điều khiển của HY Roger Etchegaray. Các vị hồng y này có nhiệm vụ xuất hiện nhân danh đức giáo hoàng tại nhiều mặt trận trong đó nhân quyền bị tấn kích. Mục đích tạo cho người ta một ý niệm chân thực về việc làm của Đức Gioan Phaolô II, không chỉ trong lãnh vực chính trị mà cả trong lãnh vực xã hội và nhân đạo nữa, làm định mức cho thấy mức độ ngài muốn tạo khung lại nền ngoại giao vốn có tính tập quyền từ trước đến nay.

Theo Đức HY Angelo Sodano, lúc ấy làm quốc vụ khanh chịu trách nhiệm về hoạt động ngoại giao của Tòa Thánh, ngôi vị giáo hoàng hiện nay đang phải đương đầu với cuộc chiến cam go để bảo vệ sự tự do của Giáo Hội và trật tự thiêng liêng và luân lý chống lại các chủ trương tàn bạo của các thẩm quyền thế tục. Chính vì thế, lời kêu gọi của Tòa Thánh không chỉ nhằm nói với các nhà nước mà thôi, nhưng trước hết và đầu hết nhằm nói với trật tự luân lý phổ quát. Trước mặt các thế lực chính trị, Tòa Thánh hy vọng trở thành người cầm cờ đại biểu cho các lý tưởng mà Giáo Hội vốn tìm cách nhập thân để đảm bảo rằng các giá trị của nền nhân học Kitô Giáo có đại diện tại các điểm hẹn quốc tế.

Ngược với luận đề của lý thuyết gia người Mỹ, Samuel P. Huntington, chủ trương sự “kình chống giữa các nền văn minh” là điều không thể tránh được, Tòa Thánh hy vọng huy động được căn tính tôn giáo của người ta, kích thích đối thoại và hành động qua lại giữa các nền văn hóa khác nhau và nhờ thế tháo ngòi được các tranh chấp tôn giáo.

Nhân dân trước chính phủ

Như thế, đủ thấy quyết tâm của Vatican trong việc đem lại cho thế giới hiện đại một chiều kích thiêng liêng và luân lý luôn đi đôi với tầm quan trọng mỗi ngày một lớn mà Tòa Thánh muốn dành cho cuộc đối thoại với các tôn giáo chính. Việc này được thấy rõ khi Tòa Thánh lên tiếng mạnh mẽ chống lại mẫu thức tính dục và gia đình của xã hội Tây Phương tại các hội nghị của LHQ tại Cairo và Bắc Kinh trong hai năm 1994 và 1995.

Tòa Thánh cũng mạnh mẽ lên tiếng tại nhiều hội nghị quốc tế quan trọng khác về các vấn đề chủ chốt như nợ nần ngoại bang của các nước đang phát triển, di dân, nạn đói, can thiệp nhân đạo, giải giới hạch nhân, sản xuất và buôn bán vũ khí, sinh thái, quyền lợi các quốc gia. Tòa Thánh vừa chống chủ nghĩa quốc gia cực đoan, vừa chống chủ nghĩa tư bản quá trớn.

Khi triệu tập thượng hội đồng các giám mục Mỹ Châu tại Vatican trong 2 tháng 11 và 12 năm 1997, Tòa Thánh nhằm mục đích phát động ý niệm hòa nhập kinh tế và chính trị (economic and political integration) giữa Bắc và Nam, nơi một nửa số người Công Giáo thế giới đang sinh sống. Mục tiêu của hội nghị là ấn định lại vai trò chủ yếu của Giáo Hội trong xã hội, không sợ chủ nghĩa cộng sản, một nỗi sợ từng khiến Vatican lên án nền thần học giải phóng vào năm 1984. Mục đích lần này là xác định xem liệu Giáo Hội có chấp nhận quan điểm của các nhà thần học từng ủng hộ chủ nghĩa tư bản và nền kinh tế thị trường hay không hay một lần nữa nên đứng về phía những thành phần nghèo nhất của xã hội. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II chỉ công bố thành quả cuộc tranh luận trên vào lúc ngài sắp sửa thăm viếng Cuba.

Giáo hội không quen thuộc với ý niệm hoàn cầu hóa. Giáo Hội quan tâm tới con người chứ không quan tâm tới các chính phủ. Đức HY Sodano cho hay: “nếu con người đau khổ, Tòa Thánh sẽ thương lượng với bất cứ người nào có quyền làm vơi các đau khổ của những người ấy, dù bị hiểu lầm”. Ngài chứng minh bằng việc trích dẫn các cố gắng nhằm loại bỏ cấm vận đối với Cuba, Iraq, Libya, Nicaragua và Serbia.

Như thế, Vatican đang thăm dò sức mạnh của mình trong cố gắng đòi luật lệ quốc tế phải thừa nhận chiều kích đạo đức để bảo vệ xã hội thế tục khỏi gọng kìm của các đại cường kinh tế và chính trị và chữa trị cảnh bất lực của các định chế quốc tế trong nỗ lực kiểm soát các đại cường kia.

Cuba, nơi Đức Gioan Phaolô II thăm viếng từ ngày 21 tới ngày 25 tháng Giêng năm 1998, là một điển hình cho thấy rõ thế lưỡng nan của Giáo Hội Công Giáo và vai trò mới về chính trị và tượng trưng mà Giáo hội này muốn đóng. Thương lượng với chế độ Castro là điều không khó khăn gì, vì sau cuộc cách mạng năm 1959, Tòa Thánh vẫn duy trì liên hệ ngoại giao với Cuba, bất chấp các áp lực từ phía Hoa Kỳ. Hành động như thế là phù hợp với nguyên tắc coi nhân dân một nước quan trọng hơn nhà nước của nước ấy, bất kể thể chế chính trị. Mặt khác, chắc chắn Tòa Thánh có ý định mượn dịp Đức Thánh Cha đến thăm Cuba để nhắc lại các dè dặt của mình đối với hình thức độc tài theo chủ nghĩa tân tự do và lên án việc cấm vận từng gây thiệt hại nặng nề đối với nhân dân Nước này.

Đây không phải là lần đầu Tòa Thánh can thiệp vào Cuba. Tháng 10 năm 1962, ở cao điểm cuộc khủng hoảng hỏa tiễn, các tiếp xúc của Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan XXIII với Kennedy và Khrushchev đã giúp tránh được thế chiến 3 liên quan tới vũ khí hạch nhân. Dù vẫn nặng nề lên án Castro vì những vi phạm của ông ta đối với quyền tự do thờ phượng của người Công Giáo, nhưng Tòa Thánh vẫn tiếp đón ông ta và đã bác bỏ áp lực của một số vị hồng y đòi ông ta phải xin lỗi trước. Biến cố có tính lịch sử ấy xẩy ra vào ngày 19 tháng 11 năm 1996. Đáp lễ, Đức Gioan Phaolô đã sang thăm Cuba, quốc gia Công Giáo duy nhất còn sống dưới chế độ cai trị của Cộng Sản, vào đầu năm 1998. Với động thái này, Vatican muốn hỗ trợ chương trình chính trị mới của Cuba, một chương trình hứa hẹn sẽ có nhiều tự do hơn, kể cả tự do kinh tế, để đổi lấy nhiều tự do tôn giáo hơn cho người dân của đảo quốc.

Theo Zizola, nhân dịp này, Tòa Thánh cũng muốn tách mình ra khỏi hình ảnh quá liên minh với các đại cường trong trật tự mới của thế giới, nhất là khi các quốc gia yếu ớt nhất phải gánh chịu thiệt hại do cái trật tự mới ấy gây ra. Đấy cũng là một biểu thức chính trị của việc lên án chủ nghĩa tư bản từng được Đức Gioan Phaolô II đề cập trong thông điệp Centesimus annus của ngài năm 1991, dù một số quan sát viên cho rằng trong thông điệp này, ngài lên án toàn bộ chủ nghĩa xã hội, và chỉ lên án các quá lạm của chủ nghĩa tư bản mà thôi.

Người ta cũng còn nhớ: trong chiến tranh Vùng Vịnh, Đức Gioan Phaolô II từng mạnh mẽ lên tiếng hồi tháng Giêng và tháng Hai năm 1991 chống đối chiến dịch do Hoa Kỳ và đồng minh phát động chống lại Saddam Hussein. Rồi một lần nữa, vào tháng 11 năm 1997, khi có tin đồn cuộc chiến sẽ xẩy ra tại vùng này, Đức Gioan Phaolô lại lên tiếng yêu cầu người ta nên tìm giải pháp ngoại giao và xúc động nói tới số phận thường dân Iraq, các nạn nhân vô tội của nạn cấm vận. Qua các sự kiện ấy, người ta thấy rõ nền ngoại giao của Tòa Thánh đã cương quyết trở thành “tiếng nói của những người không có tiếng nói”, một lực lượng mới trong hệ thống chính trị quốc tế cổ truyền, một cường quốc có tính biểu tượng chống lại các cường quốc thực sự. Đó chính là một trong các lý do khiến các quốc gia nghèo nhất của Phi Châu và Á Châu đã khẩn khoản yêu cầu Tòa Thánh bổ nhiệm các vị sứ thần của mình tại các lãnh thổ của họ.

Tòa Thánh cũng ý thức rất rõ tầm quan trọng của việc duy trì liên hệ ngoại giao với các quốc gia Hồi Giáo hay các quốc gia trong đó Hồi Giáo được coi là tôn giáo chính còn các cộng đồng Kitô Giáo chỉ là những thiểu số mỏng manh và đôi khi vô vọng nữa. Năm 1997, Tòa Thánh thêm Libya vào danh sách các quốc gia Hồi Giáo có liên hệ ngoại giao với mình, ở cả Á Châu (Pakistan, Bangladesh, Indonesia) lẫn Phi Châu (Sudan, Nigeria), cũng như ở Địa Trung Hải và Trung Đông (Turkey, Lebanon, Egypt, Tunisia, Algeria, Morocco, Iran, Iraq). Sứ mệnh hàng đầu của các đại diện Tòa Thánh là cổ vũ đối thoại giữa Hồi Giáo và Kitô Giáo, xây nhịp cầu giữa các nền văn hóa từ lâu vẫn xa cách, nếu không muốn nói là tranh chấp lẫn nhau. Hơn thế nữa, nhiệm vụ của vị này còn là cổ vũ các đạo luật tại các quốc gia này nhằm cho phép việc tự do thờ phượng, nhất là nhằm thiết lập nguyên tắc tách biệt tôn giáo ra khỏi chính trị thay thế cho nguyên tắc ưu tuyển đối với các hệ thống tuyên tín hay cực đoan.

Tài liệu của thượng hội đồng về Libăng họp ở Rôma vào tháng 12 năm 1995, mà nội dung được Đức Gioan Phaolô II công bố nhân chuyến viếng thăm Beirut năm 1997, cho thấy Tòa Thánh hoàn toàn gắn chặt với ý niệm một xã hội đa nguyên, một mẫu thức có thể áp dụng cho khắp miền Trung Đông và Địa Trung Hải.

Một hệ thống hành chánh đã mỏi mệt tại Giáo Triều

Theo nhận định của Zizola, vào lúc sắp chấm dứt triều giáo hoàng của Đức Gioan Phaolô II, người ta khó tránh được việc bàn luận đến sự tương phản giữa trí thông minh chính trị của Đức Gioan Phaolô II và sự mệt mỏi của hệ thống điều hành trong nền hành chánh trung ương của ngài. Người ta thấy rõ Giáo Triều hầu như đã cạn hết các ý niệm có tính chiến thuật của mình. Điều này trở nên hiển nhiên, khi Tòa Thánh, vốn có tiếng là chậm chạp, lại vội vã công nhận các nước trước đây thuộc Nam Tư Lạp Phu (Yugoslavia) vừa giành được chủ quyền, trước xa cả cộng đồng quốc tế. Ngược lại, đã không chịu công nhận cuộc hội đàm về Algeria do Sant’Egidio tổ chức tại Rôma tháng Giêng năm 1995.

Một nền ngoại giao bị khủng hoảng về căn tính, bị liên tục giằng co giữa chính trị và biểu tượng, giữa chính trị thực tiễn (realpolitik) và nhiệt tâm truyền giáo, giữa quyền lợi phe phái và tầm nhìn tiên tri, không thể nào không cảm thấy mình bị bí, thất vọng và bắt đầu đưa ra những tiên đoán sai lạc. Vào chính lúc Đức Giáo Hoàng, vốn là một người Slav, lên tiếng chỉ trích sự nổi dậy của “chủ nghĩa tư bản không kiềm chế” đang đe dọa hủy diệt các giá trị luân lý nơi các quốc gia cựu cộng sản của Âu Châu, thì Giáo Hội Công Giáo La Mã lại vội vàng đi lấp cái lỗ hổng do việc sụp đổ của Liên Bang Xô Viết để lại. Quả thế, Tòa Thánh đã không cưỡng được cơn cám dỗ gia tăng sự hiện diện ngoại giao của mình tại các nước thuộc Liên Bang Xô Viết trước đây, vô tình làm xấu thêm các liên hệ đại kết với Giáo Hội Chính Thống.

Trong 7 năm tiếp theo sư sụp đổ của bức tường Bá Linh, Tòa Thánh đã vội vàng thiết lập 6 tòa sứ thần ở Đông Âu và đã làm mọi cách để nắm được quyền tự do thờ phượng cho người Công Giáo, nhờ ký các thỏa ước song phương cũng như luật lệ mới tại các quốc gia liên hệ. Bất chấp truyền thống và không hề thông báo hay tham khảo trước, Rôma cũng đã bổ nhiệm giám mục cho Mạc Tư Khoa, Siberia và Kazakhstan, đem lại cho các giáo sĩ cực bảo thủ của Chính Thống Giáo đủ lý do để tố cáo “mưu đồ” cải đạo của Giáo Hội Công Giáo La Mã.

Bị ám ảnh bởi điển hình trên về khả năng tổ chức và quyền thế chính trị tổng quát của Giáo Hội Công Giáo La Mã, người Nga bèn kết luận, dĩ nhiên là sai lầm, rằng Vatican đã thực sự tiến hành một thập tự chinh nhằm lợi dụng cơn khủng hoảng trong Giáo Hội Chính Thống Nga để xâm lăng lãnh thổ của họ, với nguy cơ có thể phá hủy cả sự hợp nhất thiêng liêng của dân tộc Nga. Các hoạt động song song của các nhóm Công Giáo có thế lực tại các khu vực Chính Thống lại càng làm tăng nỗi sợ sệt lâu đời của người Chính Thống khi thấy mình phải đương đầu với chiến dịch cải đạo có dàn dựng, đi ngược hẳn lại các nguyên tắc đại kết mà cả hai Giáo Hội từng đặt ra.

Đối với Vatican, chiến dịch trên là một thất bại lớn, mũi dùi của nó quay lại như chiều đi của boomerang chống lại chính người ném, làm hại nặng mối liên hệ với tòa thượng phụ Mạc Tư Khoa; cái nhiệt tâm truyền giáo không đúng lúc của một số người Công Giáo nhiệt thành mong có được nhiều người trở lại khiến Giáo Hội Chính Thống Nga phải phản ứng dữ dội, một phản ứng dựa trên nguyên tắc đã có từ thời Nga Hoàng và từng được Hiệp Ước Westphalia công nhận từ lâu (1648): "Cuius regio, eius religio" (vua nào tôn giáo nấy). Hậu quả: cuộc họp thượng đỉnh tại Vienna giữa Đức Gioan Phaolô II và Thượng Phụ Alexis, được dự trù cho tháng 6 năm 1997, đã bị đình hoãn. Tệ hơn nữa, dù chính Đức Gioan Phaolô II khẩn khoản lên tiếng với Boris Yeltsin, Quốc Hội Nga vẫn thông qua đạo luật “về tự do lương tâm và hội họp tôn giáo” để hạn chế tự do đối với mọi tôn giáo không phải là Chính Thống.

Tại phần lớn các nước trước đây theo chế độ cộng sản, Tòa Thánh cũng không chỉ hài lòng vói việc mở các tòa sứ thần hay thiết lập ngoại giao chính thức với nhà cầm quyền ở đấy, mà còn theo đuổi một chính sách tích cực đòi lại các tài sản của Giáo Hội do chế độ cộng sản trưng thu trước đây. Tòa Thánh cũng thuyết phục các chính phủ hay các quốc hội cho phép mình cử nhiệm các tuyên úy nhà thương, nhà tù và quân đội. Việc dạy giáo lý trong các trường được tái lập và các chương trình tôn giáo được truyền bá trên các hệ thống phát thanh, phát hình của nhà nước. Để cho các cố gắng ấy trở thành vĩnh viễn, Vatican đã ký nhiều thoả ước giống như tông hiệp với một số chính phủ, tỏ ra mình là một định chế chỉ biết lo lắng phục hồi luật lệ của Kitô Giáo.

Chính sách trên không nhất thiết được sự đồng thuận phổ quát của hàng giáo phẩm Công Giáo tại Đông Âu. Đức cha Vlk, Tổng GM Prague, và là một nhân vật chủ yếu trong đối kháng Công Giáo chống lại chế độ cũ, đã không ngần ngại lớn tiếng tuyên bố rõ ràng rằng thời cộng sản đã mang lại cho Giáo Hội của ngài cơ may thanh tẩy nhờ biết quay về với đức khó nghèo. Ngài cũng không ngừng nhấn mạnh rằng ngài không quan tâm bao nhiêu đến việc đòi lại đất đai của Giáo Hội, dù có áp lực từ phía Tòa Thánh.

Những sự kiện trên đã khiến không ít các vị hồng y cao cấp nhất tại Rôma lên tiếng ước mong được thấy Giáo Hội từ bỏ các hoạt động chính trị của mình và chỉ tập trung lo việc thiêng liêng mà thôi. Zizola, nhân điểm này, cho rằng: nhiệm vụ tái xác định vai trò và chức năng của đức giáo hoàng có thể phải trao cho vị kế nhiệm Đức Gioan Phaolô II. Chính Đức Gioan Phaolô II từng gợi ý điều đó với các Giáo Hội Kitô Giáo khác vào năm 1995, trong thông điệp của ngài nói về việc hợp nhất Kitô Giáo.

Nếu một thay đổi như thế xẩy ra, nó sẽ đem lại nhiều hệ luận đáng kể đối với quyền lực của Rôma và của Giáo Triều, nhất là quyền can thiệp vào các vấn đề ngoại giao và quốc tế. Sau cùng, rất có thể người ta sẽ không nói đến một chính sách của Vatican nữa, ngoại trừ vấn đề tự do thờ phượng, một vấn đề xưa nay vẫn được coi là di sản của Công Đồng Vatican II.

Tòa Thánh hết sức trân trọng nguyên tắc trên, một nguyên tắc vốn được coi là yếu tố chủ chốt trong mối liên hệ với Israel, từng điều hướng thỏa hiệp thừa nhận song phương ký ngày 30 tháng 12 năm 1993. Mục đích của nguyên tắc này là đạt cho được một quy chế theo đó bất cứ người Do Thái nào cũng có đủ tư cách để trở thành Công Giáo.

Sau một thời kỳ do dự, hai bên đã thực hiện được một bước quan trọng theo chiều hướng trên vào ngày 10 tháng 11 năm 1997 với việc Israel nhìn nhận tư cách pháp nhân của các định chế Công Giáo. Khi ký kết điều ấy, Nhà Nước Israel lần đầu tiên đã thừa nhận sự hiện hữu trên lãnh thổ Do Thái một hệ thống định chế mà tính hợp pháp phát sinh từ một nguồn bên ngoài, tức bộ giáo luật của Giáo Hội Công Giáo.

Cùng một lúc, Tòa Thánh tiếp tục đòi quy chế quốc tế cho Giêrusalem. Ngoài ra, việc Vatican công nhận Israel đã được đặt căn bản trên các xem sét thế tục. Tòa Thánh chưa bao giờ nhìn nhận bản chất tôn giáo trong mối liên hệ giữa con cái Israel và lãnh thổ của họ. Dù thế, động thái trên cũng bị người Palestine kết án.

Trong cố gắng thích ứng với các đòi hỏi chính trị trên phạm vi hoàn cầu, Vatican buộc phải từ bỏ quan điểm lấy Âu Châu làm tâm điểm của mình. Thực tế hiện nay đòi có thay đổi nếu muốn cho ý niệm về tính phổ quát của Đạo Công Giáo trở thành hiện thực. Thách đố đầu tiên trong phạm vi này là Á Châu. Trừ Phi Luật Tân ra, Giáo Hội Công Giáo hầu như không hiện diện tại lục địa này. Do đó, chiến lược cần nhấn mạnh phải là việc đối thoại với các tôn giáo lâu đời của Á Châu và đầu tư chính trị vào vấn đề Trung Hoa.

Về điểm này, Đức Hồng Y Angelo Sodano nói rất rõ. Tòa Thánh sẵn sàng tiếp nhận phương thức thực tiễn và nới lỏng thái độ cứng rắn lâu đời đối với Giáo Hội Yêu Nước Trung Hoa, một Giáo Hội rất gần gũi với chính phủ và là Giáo Hội duy nhất được Bắc Kinh chính thức công nhận, chỉ với mục đích có cơ hội tái lập lại quyền của Rôma được tiếp xúc với các cộng đồng Công Giáo Trung Hoa hiện có tới 10 triệu giáo hữu.

Việc trao trả Hồng Kông cho Trung Hoa cũng là cơ hội để bình thường hóa các mối liên hệ. Vatican hiện đang nghiêm chỉnh xem sét việc nối lại liên hệ ngoại giao với Bắc Kinh và đồng ý ban cho các cộng đoàn Công Giáo Trung Hoa một mức độ độc lập nào đó, miễn là đường dây liên kết tôn giáo với Đức Giáo Hoàng được duy trì.

Không như Châu Mỹ La Tinh, nơi đạo Công Giáo đang mất thế đứng một cách đáng lo ngại, Á Châu và Phi Châu, dưới cái nhìn của Vatican, đem lại rất nhiều hứa hẹn. Các lầm lẫn trong quá khứ từng làm Tòa Thánh ân hận nhiều, nay là lúc cần học lại các bài học ấy. Người ta không thể quên được sự kiện chính việc từ khước không chịu thừa nhận lối hành đạo theo kiểu Trung Hoa đã trì hoãn đáng kể việc thiết lập ra Giáo Hội Công Giáo tại đó.

Liệu Giáo Hội Công Giáo có khả năng chấp nhận một nền văn hóa và một hệ thống xưa nay vốn cách biệt với thế giới Tây Phương, một thế giới vốn là cái nôi của Giáo Hội trong bao nhiêu thế kỷ nay, hay không? Trọn bộ tương lai của Đạo Công Giáo tại Á Châu tùy thuộc câu trả lời cho câu hỏi này.

Đức Bênêđíctô XVI nói truyện với ngoại giao đoàn

Nhận định của Zizola trên đây về người kế vị Đức Gioan Phaolô II quả đã thành sự thật. Cho đến nay, dù đại cương, Đức Bênêđíctô XVI chỉ thực hiện hay quảng diễn những gì Đức Gioan Phaolô II từng khởi sự, nhưng chiều hướng mục vụ thì rõ ràng đã ra khác. Có thể nói từ quảng trường, chú tâm mục vụ ấy đã quay vào trong thánh đường. Cũng chính vì thế mà có cuộc gặp mặt với tổng thống Nga trong tháng 12 với việc nâng mối liên hệ lên hàng đại sứ. Ai cũng hiểu tổng thống Nga không thể đến Vatican và thực hiện bước tiến lịch sử ấy nếu không có sự chúc lành của Thượng Phụ Kirill của Mạc Tư Khoa. Ta hãy nghe ngài nói gì với ngoại giao đoàn nhân những ngày đầu năm 2010.

Mở đầu bài nói truyện, Đức Bênêđíctô XVI cho ngoại giao đoàn hay: “Người kế nhiệm của Phêrô để cửa ngỏ chào đón mọi người trong niềm hy vọng duy trì được các mối liên hệ có thể góp phần vào tiến bộ cho toàn thể gia đình nhân loại”. Và như trên đã nói, ngài nhắc liền tới cuộc gặp gỡ với Tổng Thống Liên Bang Nga và với Chủ Tịch Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Quảng diễn chủ đề cửa ngỏ, Đức Thánh Cha nói tiếp: “Giáo Hội chào đón mọi người vì, trong Thiên Chúa, Giáo Hội sống cho người khác! Giáo Hội, do đó, chia sẻ sâu sắc vận mệnh của nhân loại, một vận mệnh mà trong năm mới này vẫn tiếp tục bị đánh dấu bằng cuộc khủng hoảng lớn lao trong nền kinh tế hoàn cầu và hậu quả là sự bất ổn xã hội trầm trọng và rộng khắp”.

Đức GH mời gọi mọi người tìm nguyên nhân gây ra trạng huống trên trong lối suy tư quá vị kỷ và duy vật chất hiện nay, như nhận định của ngài trong Thông Điệp Bác Ái Trong Sự Thật. Ngài cho hay: lối suy tư ấy đang đe dọa phá hủy sáng thế, phá hủy môi sinh. Ngài đưa ra điển hình từ lịch sử Âu Châu gần đây để cho thấy “Hai mươi năm trước đây, sau sự sụp đổ của bức tường Bá Linh và các chế độ duy vật và vô thần từng thống trị một phần lục địa này trong vài thập niên, há người ta đã không dễ dàng nhận ra các tác hại lớn lao do hệ thống kinh tế không hề đếm xỉa gì tới sự thật về con người gây ra, không những đối với phẩm giá và sự tự do của các cá nhân và các dân tộc, mà còn đối với chính thiên nhiên, làm ô nhiễm đất đai, nguồn nước và không khí đó sao?” Đức Giáo Hoàng cho rằng việc chối từ Thiên Chúa đã làm méo mó sự tự do của con người nhân bản, nhưng đồng thời nó cũng phá hoại cả sáng thế nữa. Thành thử ra, bảo vệ môi trường chủ yếu không phải là một đáp ứng đối với nhu cầu thẩm mỹ, nhưng là đáp ứng nhu cầu luân lý, bởi vì thiên nhiên là biểu thức của kế hoạch tình yêu và sự thật vốn có trước chúng ta và từ Thiên Chúa mà đến.

Đức Thánh Cha cho hay ngài chia sẻ niềm khắc khoải mỗi ngày một gia tăng do việc các lực lượng kinh tế và chính trị từ khước không chịu chống lại sự xuống cấp của môi trường gây ra. Ngài đặt hy vọng vào Kỳ Họp Lần Thứ XV của Hội Nghị Các Quốc Gia Thành Viên Của Quy Ước Liên Hiệp Quốc Tạo Khung cho Việc Thay Đổi Khí Hậu, họp tại Copenhagen từ ngày 7 tới 18 tháng 12 vừa qua; và tin rằng nội trong năm nay, tại Bonn trước và sau đó tại Mexico City, người ta có thể đạt được một thỏa hiệp để xử lý hữu hiệu vấn đề này.

Tuy nhiên, theo ngài, vấn đề môi sinh phải được đặt trong một khuôn khổ lớn hơn gồm các thách đố lớn mà nhân loại đang phải đương đầu. Muốn xây dựng một nền hòa bình đích thực, người ta không thể tách biệt, càng không thể kình chống, giữa việc bảo vệ môi sinh và việc bảo vệ sự sống con người, trong đó có sự sống của các trẻ chưa sinh. Con người phải chứng tỏ tinh thần trách nhiệm của họ đối với môi sinh bằng lòng kính trọng của họ đối với chính mình. Ngài cũng nhân dịp này nhắc lại quan điểm của ngài trước Hội Nghị Thượng Đỉnh gần đây của FAO về An Toàn Thực Phẩm. Ngài bảo rằng thế giới có đủ lương thực cho mọi cư dân của mình, miễn là lòng vị kỷ đừng dẫn một số người tích trữ chúng cho riêng mình.

Ngài nhấn mạnh: bảo vệ môi sinh đòi phải có việc quản lý thích đáng các nguồn tài nguyên thiên nhiên của các quốc gia khác nhau và trước hết là các nguồn tài nguyên của các quốc gia chịu thiệt thòi về kinh tế. Trong đó, phải kể đến các quốc gia Châu Phi, mà ngài mới thăm viếng hồi tháng Ba năm ngoái và được nghe nhiều hơn tại Thượng Hội Đồng Đặc Biệt về Châu này tại Rôma. Các nghị phụ trong THĐ này quan tâm nhắc tới việc sói mòn và sa mạc hóa nhiều vùng đất canh tác rộng lớn, do hậu quả của việc khai thác bừa bãi và ô nhiễm môi trường. Ngài nói; “Ở Châu Phi cũng như tại các nơi khác, cần phải đưa ra các quyết định chính trị và kinh tế nhằm đảm bảo các hình thức sản xuất nông nghiệp và kỹ nghệ có khả năng tôn trọng sáng thế và thoả mãn các nhu cầu đệ nhất đẳng của mọi người”.

Tiếc thay nông nghiệp ngày nay đã bị sử dụng vào việc sản xuất nha phiến. Cộng vào đó, nhiều nguồn tài nguyên đang bị sử dụng vào việc sản xuất vũ khí, nhất là vũ khí hạch nhân. Ngài hy vọng trong Hội Nghị Duyệt Xét Thoả Ước Cấm Lan Tràn Vũ Khí Hạch Nhân vào tháng 5 năm nay tại New York, các quyết định cụ thể sẽ được đưa ra nhằm giải thoát hành tinh này khỏi các vũ khí hạch nhân. Nhân dịp này, ngài cũng kêu gọi chấm dứt việc xuất khẩu vũ khí để kéo dài các tranh chấp và bạo lực như tại Darfur, Somalia và Cộng Hòa Dân Chủ Congo. Ngài cũng lên án nạn khủng bố, hiện đang triệt hạ nhiều sinh mạng vô tội và gây ra nhiều lo âu sợ hãi khắp nơi. Những hành vi bạo lực này cộng với nghèo đói, thiên tai và việc phá hoại môi trường đã tạo ra nhiều làn di dân vĩ đại, trong số đó, có người Kitô hữu tại Trung Đông, những người phải bỏ xứ sở ra đi vì đến cả quyền tự do tôn giáo cũng bị tước đoạt. Chính để khích lệ và nâng đỡ những người này, ngài quyết định triệu tập một Thượng Hội Đồng Đặc Biệt về Trung Đông vào mùa Thu này.

Ngoài các khía cạnh trên, càng ngày người ta càng thấy rõ hơn các nguyên nhân tinh thần của vấn đề môi trường. Về điểm này, ngài kêu gọi phải có một chương trình giáo dục rộng lớn nhằm cổ vũ việc thay đổi cách suy nghĩ và tạo ra các lối sống mới. Ngài bảo rằng cộng đồng tín hữu sẵn sàng góp phần vào chương trình này. Tuy nhiên, để cộng đồng ấy làm được việc đó, người ta phải nhìn nhận vai trò công cộng của họ. Tiếc thay, tại một số quốc gia, nhất là tại Phương Tây, càng ngày người ta càng thấy nhiều giới chính trị và văn hóa tỏ ra thù nghịch đối với tôn giáo, nhất là Kitô Giáo. Ngài cho biết thái độ ấy chỉ gây chia rẽ và tranh chấp, phá hoại hòa bình, và lâm vào đường cùng. Ngài kêu gọi phải khẩn thiết phác họa một chủ trương thế tục tích cực và cởi mở, đặt căn bản trên tính độc lập công chính của cả hai trật tự trần thế và trật tự thiêng liêng, mới có thể cổ vũ được sự hợp tác lành mạnh và một tinh thần chia sẻ trách nhiệm. Ngài đặc biệt nhắc đến sự ra đời của Liên Hiệp Âu Châu và cho biết ngài hài lòng với lời đoan hứa của nó sẽ duy trì một cuộc đối thoại “cởi mở, trong sáng và thường xuyên” với các Giáo Hội (Điều 17).

Trở lại việc bảo vệ môi sinh, Đức Thánh Cha cho biết vấn đề không đơn giản. Vì tạo vật rất khác nhau và do đó có thể được bảo vệ, hay bị gây hại, nhiều cách khác nhau. Một trong các lầm lỗi hiện nay là người ta đang ban hành các đạo luật tuy nhân danh đả phá kỳ thị mà thực tế đánh phá ngay vào nền tảng sinh lý của của sự dị biệt giới tính. Ngài đồng ý tự do là điều kiện cần thiết của nhân phẩm, nhưng không thể có tự do tuyệt đối, vì con người không phải là Thiên Chúa mà chỉ là hình ảnh của Người. Thành thử đường đi của con người không thể tùy tiện đưa ra mà phải tương hợp với cơ cấu do Thiên Chúa ấn định.

Việc bảo vệ môi trường cũng cần đến tình liên đới quốc tế. Ngài nhắc tới các thiên tai trong năm qua mang lại chết chóc, đau thương và tàn phá tại Phi Luật Tân, Việt Nam, Lào, Căm Bốt và Đài Loan, rồi động đất tại Indonesia, tại vùng Abruzzi. Tất cả đều cần tới trợ giúp quốc tế. Tuy nhiên, việc bảo vệ môi trường ấy còn cần đến sự hòa hợp và ổn định của các quốc gia, nhờ đối thoại. Trong phạm vi này, Đức Thánh Cha nhắc đến Hiệp Ước Hòa Bình và Hữu Nghị giữa Á Căn Đình và Chí Lợi ký 25 năm trước đây do trung gian của Tòa Thánh. Hiệp Ước này đem lại nhiều hợp tác và thịnh vượng không những cho hai quốc gia này mà còn cho cả Châu Mỹ La Tinh. Ngài hoan hô sự xích lại gần nhau giữa Columbia và Ecuador, hiệp ước giữa Croatia và Slovenia, giữa Armenia và Thổ Nhĩ Kỳ. Ngài cầu mong cũng một xích lại gần nhau như thế xẩy ra cho các nước miền nam dẫy Caucasus, cho Israel và Palestine. Ngài kêu gọi mọi quốc gia nhìn nhận quyền hiện hữu của Israel cũng như quyền hiện hữu của nhà nước Palestine. Ngài cũng không quên yêu cầu mọi người hỗ trợ việc bảo vệ “căn tính và đặc tính thánh thiêng của Giêrusalem, gia tài văn hóa và tôn giáo vốn có giá trị phổ quát của nó”. Đối với Iraq, ngài kêu gọi các nhà lãnh đạo chính phủ và nhân dân xứ này “vượt qua các chia rẽ và cơn cám dỗ của bạo lực và bất khoan dung, ngõ hầu cùng nhau xây dựng tương lai xứ sở”. Ngài cho hay người Kitô hữu xứ này mong góp phần vào cố gắng ấy. Muốn được như thế, họ cần được tôn trọng, có an ninh và tự do. Ngài cũng nhắc đến thân phận bị bách hại gần đây của Kitô hữu Pakistan và yêu cầu phải để cho họ tham dự đầy đủ vào đời sống quốc gia. Ngài không quên số phận các Kitô hữu tại Ai Cập. Riêng đối với Iran, ngài mong nhờ đối thoại và hợp tác, người ta tìm ra các giải pháp hỗn hợp trên bình diện quốc gia và quốc tế. Cả Libăng, Honduras, Guinea và Madagascar nữa, ngài cầu mong tất cả được hòa hợp, chấm dứt bất ổn, phục hồi sinh hoạt chính trị và xã hội bình thường, được cộng đồng quốc tế giúp đỡ vô vị lợi.

Trong phần kết luận, Đức Thánh Cha kêu gọi mọi người thiện chí “hãy làm việc một cách tin tưởng và quảng đại cho phẩm giá và sự tự do của con người”. Phẩm giá và tự do ấy, nghĩ cho cùng, chính là chủ điểm trong chính sách ngoại giao của Tòa Thánh, một chính sách đã vượt qua những lắng lo vị kỷ. Số phận Kitô hữu, Kitô hữu chứ không hẳn tín hữu Công Giáo, tuy được nhắc tới, nhưng so với những chủ điểm khác, nó chỉ chiếm một phần nhỏ trong suy tư của Đức Bênêđíctô XVI.