Sáng kiến mới đây của Tòa Thánh nhằm làm dễ việc tín hữu Anh Giáo trở về hiệp thông trọn vẹn và hữu hình với Giáo Hội Công Giáo thực ra đã có nguồn gốc từ lâu. Theo tuyên bố chung của hai Đức TGM Williams của Anh Giáo và Nichols của Công Giáo, thì đó là thành quả của hơn 40 năm đối thoại giữa hai Giáo Hội. Nhưng cụ thể nhất, ai cũng thấy là từ năm 1980.
Thực vậy, năm1980, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã quyết định thành lập một cơ quan gọi là Cung Ứng Mục Vụ (Pastoral Provision) để chăm lo các cộng đồng Giáo Hội Giám Chức (Episcopal Church), tức ngành Anh Giáo tại Mỹ, đã rời bỏ Giáo Hội ấy về hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo. Cung Ứng Mục Vụ cho phép việc miễn áp dụng một số tập tục thông thường của Nghi Lễ Latinh trong Giáo Hội Công Giáo tại Hoa Kỳ. Điều khoản này cho phép các giám mục giáo phận được thiết lập các giáo xứ Công Giáo Sử Dụng Anh Giáo (Anglican Use Catholic parishes), nghĩa là các giáo xứ được phép sử dụng một nền phụng vụ thích ứng từ Anh Giáo, dưới sự lãnh đạo của các cựu linh mục của Giáo Hội Giám Chức tại Hoa Kỳ. Các giáo xứ này hiện đặt tại các tiểu bang Massachusetts, Pennsylvania, South Carolina, Texas, và một số tiểu bang khác. Điều khoản này cũng cho phép các cựu linh mục Giám Chức có gia đình được thụ phong linh mục trong Giáo Hội Công Giáo, một ngoại lệ đối với luật linh mục độc thân.
Theo trang mạng của Cung Ứng Mục Vụ, thì việc thiết lập trên là để thỏa mãn lời yêu cầu của các linh mục và giáo dân Giáo Hội Giám Chức muốn được hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo. Cơ quan Cung Ứng Mục Vụ được đặt dưới quyền tài phán của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin. Thánh Bộ này cử Đại Diện để điều hợp công việc của cơ quan. Với dự liệu này, việc truyền chức linh mục cho các linh mục Giám Chức đã lập gia đình là điều có thể thực hiện được, phù hợp với thông điệp Sacerdotalis caelibatus, số 42 của Đức Phaolô VI. Nó cũng cho phép việc thiết lập các giáo xứ tòng nhân tại các giáo phận Hoa Kỳ để đáp ứng lời thỉnh cầu của các cựu tín hữu Giám Chức nhờ thế họ được duy trì một số yếu tố phụng vụ đặc trưng của truyền thống Anh Giáo. Nền phụng vụ đặc biệt này sau đó đã được Bộ Thờ Phượng Thánh và Ủy Ban Phụng Vụ của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ chấp thuận.
Cung Ứng Mục Vụ là một dịch vụ cung ứng cho các giám mục Hoa Kỳ, nhờ đó các cựu linh mục của Giáo Hội Giám Chức có đủ tư cách trở thành ứng viên thụ phong linh mục được huấn luyện về thần học, tu đức và mục vụ để đảm nhận thừa tác vụ trong Giáo Hội Công Giáo. Kể từ năm 1983, hơn 80 ứng viên đã được thụ phong linh mục tại các giáo phận Hoa Kỳ; 7 giáo xứ tòng nhân đã được thiết lập và Sách Thờ Phượng Thánh đã được phê chuẩn.
Theo Đức Ông William H. Stetson, thuộc tổ chức Opus Dei, tổng thư ký của Cung Ứng Mục Vụ, vị đại diện đầu tiên được Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin bổ nhiệm để điều hợp cơ quan trên là Đức Cha Bernard Law, lúc đó là giám mục Springfield-Cape Girardeau, sau đó là Hồng Y TGM Boston. Đức HY Law lúc ấy là chủ tịch Uỷ Ban Đại Kết và Liên Tôn Sự Vụ của Hội Đồng Giám Mục Hoa kỳ. Khi ngài qua Rôma phục vụ, thì Tòa Thánh đã đề cử Đức TGM John Myers của Newark thay thế.
Theo Đức Ông Stetson, ngay trước năm 1976, là năm Giáo Hội Giám Chức truyền chức linh mục cho nữ giới, nhiều giáo sĩ trong Giáo Hội này đã có ý định hợp nhất với Rôma rồi. Một trong số ấy là Kinh Sĩ Albert Dubois, người đã chính thức rời khỏi Giáo Hội Giám Chức ngay sau vụ truyền chức kia và thành lập ra The American Church Union. Năm 1977, Kinh Sĩ qua Rôma gặp Đức HY Franjo Seper, Bộ Trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin và vị thư ký của ngài là chính Đức Hồng Y William Levada sau này. Kinh sĩ thỉnh cầu Đức HY Seper cứu xét việc truyền chức cho các cựu linh mục Giám Chức và thiết lập các giáo xứ riêng cho họ với các tập tục phụng vụ lấy từ truyền thống Anh Giáo.
Dù bác bỏ ý niệm về bất cứ hình thức “giáo phận nghi lễ” nào, nhưng phản ứng ban đầu của Thánh Bộ, xét trong căn bản, được coi là thuận lợi. Trước khi đạt tới quyết định dứt khoát, Đức Hồng Y Seper xin ý kiến của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, liên quan tới vấn đề cho phép các người đã có vợ được thụ phong linh mục. Trong kỳ họp hồi tháng 5 năm 1978, Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đồng ý và thông báo cho Tòa Thánh biết việc đồng ý ấy. Thế rồi vấn đề bị dậm chân tại chỗ ở đấy vì Đức Phaolô VI qua đời hồi tháng 8 và sau đó Đức Gioan Phaolô I qua đời hồi tháng 9. Cuối cùng, mãi năm 1980, vấn đề mới được đệ trình cho Đức Gioan Phaolô II. Đức Tân Giáo Hoàng đồng ý ngay và thông báo tức khắc cho vị chủ tịch của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.
Ngay khi được cử nhiệm làm Đại Diện, Đức Cha Law bắt tay ngay vào việc soạn thảo diễn trình tuyển lựa các ứng viên linh mục trong số các cựu linh mục Giám Chức, theo đó, việc đầu tiên là thu lượm tín liệu từ ứng viên và giám mục bảo trợ về tư cách xứng đáng để được thụ phong. Các tín liệu này sau đó được đệ trình Tòa Thánh qua vị Đại Diện cơ quan. Cùng với tín liệu đó là lượng giá về học vấn và chứng nhận từng ứng viên do một ủy ban thần học được vị Đại Diện cử nhiệm. Thể thức trên đã được Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin chấp thuận, dẫn tới việc truyền chức cho hơn 80 cựu linh mục Giám Chức. Hiện nay, theo Đức Ông Stetson, vì những bất ổn trong Giáo Hội Giám Chức, con số những người muốn tham gia chương trình này mỗi ngày một lên cao.
Về phương diện phụng vụ, quyết định năm 1980 nói rõ rằng: “Nhóm có thể duy trì một số yếu tố trong nền phụng vụ Anh Giáo; những yếu tố này sẽ được một ủy ban do Thánh Bộ thiết lập cho mục đích này ấn định”. Năm 1983, ủy ban này đã được thiết lập với sự cộng tác của Thánh Bộ Bí Tích và Thờ Phượng Thánh. Chính uỷ ban này đã phê chuẩn Sách Thờ Phượng Thánh để dùng trong các giáo xứ và cộng đoàn thờ phượng của các tín hữu cựu Giám Chức. Cũng trong năm này, một ủy ban các luật gia giáo luật, trong đó có Đức HY Anthony Bevilacqua đã đưa ra các chỉ dẫn cho việc thiết lập các giáo xứ cũng như cộng đoàn thờ phượng tòng nhân cho tín hữu cựu Giám Chức. Như trên đã nói, hiện có 7 giáo xứ hay cộng đoàn kiểu trên tại nhiều vùng khác nhau của Hoa Kỳ.
Nhận định về hình thức sắp xếp này, Đức Ông Stetson nửa đùa nửa thật kể lại một truyện vui. Được hỏi có gì khác biệt giữa một linh mục Giám Chức và một linh mục Công Giáo, vị cựu linh mục Giám Chức bảo: “khác nhau khoảng 20 ngàn đôla”. Điều này tất nhiên, vì “lương” một linh mục Công Giáo làm sao đủ cho một linh mục có gia đình. Nhưng theo Đức Ông Stetson, đây cũng là một khía cạnh thực tiễn cần lưu tâm. Đức Ông Stetson cũng đề cập đến một thách thức nữa là con số giáo dân trong một giáo xứ. Các giáo xứ Giám Chức thường chỉ bao gồm chừng 200 gia đình, trái lại các giáo xứ Công Giáo thường bao gồm cả ngàn gia đình. Tuy các linh mục có gia đình thường không được phép chăm sóc các linh hồn theo phương thức bình thường trong khuôn khổ giáo xứ, nhưng số lượng công việc của ngài trong tư cách linh mục Công Giáo thường là lớn lao hơn, bất kể là làm tuyên úy bệnh viện hay tuyên úy các trường. Và việc ấy nhất định tác động lớn đối với cuộc sống hôn nhân. Bởi thế, chăm sóc mục vụ đối với các bà vợ giáo sĩ trở thành đề tài mới cho các giám mục giáo phận.
Một vấn đề tế nhị cũng đã được nhiều người nêu ra là phải chăng đây là một thăm dò để thử nghiệm việc nới rộng luật độc thân của các linh mục nói chung. Về việc này, điều cần nhớ là: cả Tòa Thánh lẫn Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đều nhấn mạnh đây chỉ là một đáp ứng đối với lời thỉnh cầu của các cựu giáo sĩ và giáo dân Giám Chức như cách thế để họ duy trì phần nào gia tài Anh Giáo lâu đời của họ khi hiệp thông trọn vẹn với Tòa Phêrô. Nói cách khác đây là một ngoại lệ được ban chuẩn trên căn bản từng trường hợp một và được áp dụng riêng cho các cựu linh mục Giám Chức đủ tư cách được thụ phong linh mục trong Giáo Hội Công Giáo để phục vụ anh chị cựu Giám Chức của họ. Nó không hề được dùng làm cơ sở để biện hộ cho việc giữ độc thân nhiệm ý trong Giáo Hội Công Giáo. Các chứng tá của Giáo Hội Công Giáo Phương Đông gần đây cũng như thách đố trên đây về các giáo sĩ có gia đình đã đủ để chứng minh tính tiêu chuẩn của việc độc thân linh mục để phục vụ Nước Trời.
Sự khác nhau giữa Cung Ứng Mục Vụ và tông hiến tương lai
Ngày 26 tháng Mười vừa qua, Đức Ông Stetson đã dành cho Zenit một cuộc phỏng vấn về động thái mới của Tòa Thánh. Nhân dịp này, Đức Ông Stetson cho hay: tòa bản quyền tòng nhân là một cấu trúc tài phán gồm một vị giáo chủ có quyền tài phán thông thường, một hàng giáo sĩ thuộc quyền, phụ giúp ngài trong công tác mục vụ, và một hàng ngũ giáo dân để chăm sóc. Theo Đức Ông, nó giống như tòa bản quyền cho quân đội với nhiệm vụ chăm sóc các nhân viên quân sự của một quốc gia, và gia đình họ. Ngài không thấy tòa bản quyền nào khác nữa.
Về sự khác nhau giữa Cung Ứng Mục Vụ và tông hiến tương lai, Đức Ông cho rằng Cung Ứng Mục Vụ không có nội dung giáo luật và không dự liệu việc thi hành quyền cai quản. Trái lại, tông hiến tương lai sẽ ấn định ra các qui phạm giáo luật ở cấp cao nhất, cho phép tạo ra một cơ cấu mới hợp giáo luật gọi là “các tòa bản quyền” tại mỗi quốc gia riêng biệt. Mỗi tòa bản quyền này đều sẽ có quyền cai quản (quyền tài phán) đối với người và sự việc. Hiện nay, các giáo xứ Sử Dụng Anh Giáo tại Hoa Kỳ là các giáo xứ tòng nhân của giáo phận nơi chúng hiện diện. Giữa các giáo xứ này không hề có mối liên hệ giáo luật nào mà chúng cũng không có liên hệ giáo luật nào đối với vị Đại Diện của cơ quan Cung Ứng Mục Vụ. Một khi toà bản quyền tòng nhân được thiết lập, các giáo xứ này sẽ trực thuộc nó. Chính vị đứng đầu tòa bản quyền tòng nhân sẽ thiết lập ra các giáo xứ hay các cộng đoàn thờ phượng mới theo yêu cầu của các tín hữu cựu Anh Giáo và với sự tham khảo với vị bản quyền địa phương nơi các tín hữu này sinh sống.
Về câu hỏi tại sao đã có Cung Ứng Mục Vụ rồi, mà còn phải đưa ra tông hiến mới, Đức Ông Stetson cho hay: Cung Ứng Mục Vụ chỉ là một diễn trình hành chánh để chuẩn bị cho các cựu linh mục Giám Chức đã có gia đình được thụ phong linh mục trong Giáo Hội Công Giáo theo lời yêu cầu của giám mục sở tại. Trong khi toà bản quyền mới sẽ có cơ cấu giáo luật tương tự như một giáo phận để chăm sóc mục vụ cho các tín hữu từ Giáo Hội Giám Chức trở về.
Được hỏi hình như cơ cấu giáo luật nói trên là để đáp ứng trực tiếp lời thỉnh cầu hai năm trước đây của Hiệp Thông Anh Giáo Truyền Thống (TAC), một Hiệp Thông hiện có tới 400,000 tín hữu khắp hoàn cầu, phải chăng các tín hữu này sẽ gia nhập Giáo Hội Công Giáo xuyên qua các tòa bản quyền tòng nhân này, Đức Ông cho hay: trên thực tế, TAC là một liên hiệp nhiều “giáo phận” rải rác khắp thế giới; nó bao gồm linh mục, tín hữu giáo dân và giám mục. Tự nó, TAC chưa bao giờ là thành phần của Hiệp Thông Anh Giáo dưới quyền Tổng Giám Mục Canterbury (Dr Rowan Williams). Điều gì sẽ xẩy tới cho các “giáo phận” ấy tại các quốc gia biệt lập sẽ tùy thuộc quyết định của hàng giáo phẩm Công Giáo tại quốc gia liên hệ và của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin. Tại Châu Phi và Châu Á, các giáo phận này khá nhiều và đông hơn các lục địa khác.
Còn về diễn trình của các toà bản quyền tòng nhân, Đức Ông cho hay: vì tông hiến chưa được ban hành, nên chưa biết diễn trình hay thủ tục áp dụng sẽ như thế nào trong việc thiết lập một tòa bản quyền tòng nhân. Tuy nhiên, ngài đoán nó cũng giống như diễn trình đã được Cung Ứng Mục Vụ áp dụng suốt 27 năm qua tại Hoa Kỳ.
Cũng nên lưu ý: thông báo của Tòa Thánh có cho các tòa bản quyền tòng nhân có quyền có chủng sinh riêng, được đào tạo song song với các chủng sinh Công Giáo khác. Điều ấy có bao hàm khả thể kết hôn đối với chủng sinh cựu Anh Giáo không? Đức Ông Stetson một lần nữa xác định rằng chỉ những chủng sinh đã lập gia đình khi ngỏ ý trở về hiệp thông và chịu huấn luyện làm linh mục trong Giáo Hội Công Giáo mới tiếp tục cuộc sống hôn nhân. Còn các chủng sinh trong tương lai thì phải giữ độc thân.
Ngoài ra, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, các cựu tín hữu Anh Giáo được quyền duy trì truyền thống phụng vụ phong phú của họ (ngôn ngữ, âm nhạc, phẩm phục…) vốn có từ thế kỷ 16. Họ cũng được duy trì truyền thống sử dụng Thánh Kinh để giảng giải, lòng yêu kính các giáo phụ và cách phát biểu thần học bên ngoài truyền thống kinh viện Công Giáo.
Tại sao chỉ nhân nhượng các tín hữu Anh Giáo, mà không nhân nhượng các Kitô hữu khác như Luthêrô, Trưởng Lão… nếu họ muốn gia nhập Giáo Hội? Đức Ông cho rằng: Tín hữu Anh Giáo luôn chiếm vị trí đặc biệt trong thái độ của Giáo Hội Công Giáo La Mã đối với việc phá vỡ sự hợp nhất Kitô Giáo sau thế kỷ 16. Gáo Hội Anh Giáo luôn cố gắng duy trì thật nhiều các yếu tố của Giáo Hội Công Giáo trong khi vẫn là Thệ Phản. Giáo Hội Anh Giáo cũng duy trì được sự nhất trí cao hơn trong chính mình để có thể đối thoại với Rôma như một thực thể đơn nhất.
Thực vậy, năm1980, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã quyết định thành lập một cơ quan gọi là Cung Ứng Mục Vụ (Pastoral Provision) để chăm lo các cộng đồng Giáo Hội Giám Chức (Episcopal Church), tức ngành Anh Giáo tại Mỹ, đã rời bỏ Giáo Hội ấy về hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo. Cung Ứng Mục Vụ cho phép việc miễn áp dụng một số tập tục thông thường của Nghi Lễ Latinh trong Giáo Hội Công Giáo tại Hoa Kỳ. Điều khoản này cho phép các giám mục giáo phận được thiết lập các giáo xứ Công Giáo Sử Dụng Anh Giáo (Anglican Use Catholic parishes), nghĩa là các giáo xứ được phép sử dụng một nền phụng vụ thích ứng từ Anh Giáo, dưới sự lãnh đạo của các cựu linh mục của Giáo Hội Giám Chức tại Hoa Kỳ. Các giáo xứ này hiện đặt tại các tiểu bang Massachusetts, Pennsylvania, South Carolina, Texas, và một số tiểu bang khác. Điều khoản này cũng cho phép các cựu linh mục Giám Chức có gia đình được thụ phong linh mục trong Giáo Hội Công Giáo, một ngoại lệ đối với luật linh mục độc thân.
Theo trang mạng của Cung Ứng Mục Vụ, thì việc thiết lập trên là để thỏa mãn lời yêu cầu của các linh mục và giáo dân Giáo Hội Giám Chức muốn được hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo. Cơ quan Cung Ứng Mục Vụ được đặt dưới quyền tài phán của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin. Thánh Bộ này cử Đại Diện để điều hợp công việc của cơ quan. Với dự liệu này, việc truyền chức linh mục cho các linh mục Giám Chức đã lập gia đình là điều có thể thực hiện được, phù hợp với thông điệp Sacerdotalis caelibatus, số 42 của Đức Phaolô VI. Nó cũng cho phép việc thiết lập các giáo xứ tòng nhân tại các giáo phận Hoa Kỳ để đáp ứng lời thỉnh cầu của các cựu tín hữu Giám Chức nhờ thế họ được duy trì một số yếu tố phụng vụ đặc trưng của truyền thống Anh Giáo. Nền phụng vụ đặc biệt này sau đó đã được Bộ Thờ Phượng Thánh và Ủy Ban Phụng Vụ của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ chấp thuận.
Cung Ứng Mục Vụ là một dịch vụ cung ứng cho các giám mục Hoa Kỳ, nhờ đó các cựu linh mục của Giáo Hội Giám Chức có đủ tư cách trở thành ứng viên thụ phong linh mục được huấn luyện về thần học, tu đức và mục vụ để đảm nhận thừa tác vụ trong Giáo Hội Công Giáo. Kể từ năm 1983, hơn 80 ứng viên đã được thụ phong linh mục tại các giáo phận Hoa Kỳ; 7 giáo xứ tòng nhân đã được thiết lập và Sách Thờ Phượng Thánh đã được phê chuẩn.
Theo Đức Ông William H. Stetson, thuộc tổ chức Opus Dei, tổng thư ký của Cung Ứng Mục Vụ, vị đại diện đầu tiên được Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin bổ nhiệm để điều hợp cơ quan trên là Đức Cha Bernard Law, lúc đó là giám mục Springfield-Cape Girardeau, sau đó là Hồng Y TGM Boston. Đức HY Law lúc ấy là chủ tịch Uỷ Ban Đại Kết và Liên Tôn Sự Vụ của Hội Đồng Giám Mục Hoa kỳ. Khi ngài qua Rôma phục vụ, thì Tòa Thánh đã đề cử Đức TGM John Myers của Newark thay thế.
Theo Đức Ông Stetson, ngay trước năm 1976, là năm Giáo Hội Giám Chức truyền chức linh mục cho nữ giới, nhiều giáo sĩ trong Giáo Hội này đã có ý định hợp nhất với Rôma rồi. Một trong số ấy là Kinh Sĩ Albert Dubois, người đã chính thức rời khỏi Giáo Hội Giám Chức ngay sau vụ truyền chức kia và thành lập ra The American Church Union. Năm 1977, Kinh Sĩ qua Rôma gặp Đức HY Franjo Seper, Bộ Trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin và vị thư ký của ngài là chính Đức Hồng Y William Levada sau này. Kinh sĩ thỉnh cầu Đức HY Seper cứu xét việc truyền chức cho các cựu linh mục Giám Chức và thiết lập các giáo xứ riêng cho họ với các tập tục phụng vụ lấy từ truyền thống Anh Giáo.
Dù bác bỏ ý niệm về bất cứ hình thức “giáo phận nghi lễ” nào, nhưng phản ứng ban đầu của Thánh Bộ, xét trong căn bản, được coi là thuận lợi. Trước khi đạt tới quyết định dứt khoát, Đức Hồng Y Seper xin ý kiến của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, liên quan tới vấn đề cho phép các người đã có vợ được thụ phong linh mục. Trong kỳ họp hồi tháng 5 năm 1978, Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đồng ý và thông báo cho Tòa Thánh biết việc đồng ý ấy. Thế rồi vấn đề bị dậm chân tại chỗ ở đấy vì Đức Phaolô VI qua đời hồi tháng 8 và sau đó Đức Gioan Phaolô I qua đời hồi tháng 9. Cuối cùng, mãi năm 1980, vấn đề mới được đệ trình cho Đức Gioan Phaolô II. Đức Tân Giáo Hoàng đồng ý ngay và thông báo tức khắc cho vị chủ tịch của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.
Ngay khi được cử nhiệm làm Đại Diện, Đức Cha Law bắt tay ngay vào việc soạn thảo diễn trình tuyển lựa các ứng viên linh mục trong số các cựu linh mục Giám Chức, theo đó, việc đầu tiên là thu lượm tín liệu từ ứng viên và giám mục bảo trợ về tư cách xứng đáng để được thụ phong. Các tín liệu này sau đó được đệ trình Tòa Thánh qua vị Đại Diện cơ quan. Cùng với tín liệu đó là lượng giá về học vấn và chứng nhận từng ứng viên do một ủy ban thần học được vị Đại Diện cử nhiệm. Thể thức trên đã được Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin chấp thuận, dẫn tới việc truyền chức cho hơn 80 cựu linh mục Giám Chức. Hiện nay, theo Đức Ông Stetson, vì những bất ổn trong Giáo Hội Giám Chức, con số những người muốn tham gia chương trình này mỗi ngày một lên cao.
Về phương diện phụng vụ, quyết định năm 1980 nói rõ rằng: “Nhóm có thể duy trì một số yếu tố trong nền phụng vụ Anh Giáo; những yếu tố này sẽ được một ủy ban do Thánh Bộ thiết lập cho mục đích này ấn định”. Năm 1983, ủy ban này đã được thiết lập với sự cộng tác của Thánh Bộ Bí Tích và Thờ Phượng Thánh. Chính uỷ ban này đã phê chuẩn Sách Thờ Phượng Thánh để dùng trong các giáo xứ và cộng đoàn thờ phượng của các tín hữu cựu Giám Chức. Cũng trong năm này, một ủy ban các luật gia giáo luật, trong đó có Đức HY Anthony Bevilacqua đã đưa ra các chỉ dẫn cho việc thiết lập các giáo xứ cũng như cộng đoàn thờ phượng tòng nhân cho tín hữu cựu Giám Chức. Như trên đã nói, hiện có 7 giáo xứ hay cộng đoàn kiểu trên tại nhiều vùng khác nhau của Hoa Kỳ.
Nhận định về hình thức sắp xếp này, Đức Ông Stetson nửa đùa nửa thật kể lại một truyện vui. Được hỏi có gì khác biệt giữa một linh mục Giám Chức và một linh mục Công Giáo, vị cựu linh mục Giám Chức bảo: “khác nhau khoảng 20 ngàn đôla”. Điều này tất nhiên, vì “lương” một linh mục Công Giáo làm sao đủ cho một linh mục có gia đình. Nhưng theo Đức Ông Stetson, đây cũng là một khía cạnh thực tiễn cần lưu tâm. Đức Ông Stetson cũng đề cập đến một thách thức nữa là con số giáo dân trong một giáo xứ. Các giáo xứ Giám Chức thường chỉ bao gồm chừng 200 gia đình, trái lại các giáo xứ Công Giáo thường bao gồm cả ngàn gia đình. Tuy các linh mục có gia đình thường không được phép chăm sóc các linh hồn theo phương thức bình thường trong khuôn khổ giáo xứ, nhưng số lượng công việc của ngài trong tư cách linh mục Công Giáo thường là lớn lao hơn, bất kể là làm tuyên úy bệnh viện hay tuyên úy các trường. Và việc ấy nhất định tác động lớn đối với cuộc sống hôn nhân. Bởi thế, chăm sóc mục vụ đối với các bà vợ giáo sĩ trở thành đề tài mới cho các giám mục giáo phận.
Một vấn đề tế nhị cũng đã được nhiều người nêu ra là phải chăng đây là một thăm dò để thử nghiệm việc nới rộng luật độc thân của các linh mục nói chung. Về việc này, điều cần nhớ là: cả Tòa Thánh lẫn Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đều nhấn mạnh đây chỉ là một đáp ứng đối với lời thỉnh cầu của các cựu giáo sĩ và giáo dân Giám Chức như cách thế để họ duy trì phần nào gia tài Anh Giáo lâu đời của họ khi hiệp thông trọn vẹn với Tòa Phêrô. Nói cách khác đây là một ngoại lệ được ban chuẩn trên căn bản từng trường hợp một và được áp dụng riêng cho các cựu linh mục Giám Chức đủ tư cách được thụ phong linh mục trong Giáo Hội Công Giáo để phục vụ anh chị cựu Giám Chức của họ. Nó không hề được dùng làm cơ sở để biện hộ cho việc giữ độc thân nhiệm ý trong Giáo Hội Công Giáo. Các chứng tá của Giáo Hội Công Giáo Phương Đông gần đây cũng như thách đố trên đây về các giáo sĩ có gia đình đã đủ để chứng minh tính tiêu chuẩn của việc độc thân linh mục để phục vụ Nước Trời.
Sự khác nhau giữa Cung Ứng Mục Vụ và tông hiến tương lai
Ngày 26 tháng Mười vừa qua, Đức Ông Stetson đã dành cho Zenit một cuộc phỏng vấn về động thái mới của Tòa Thánh. Nhân dịp này, Đức Ông Stetson cho hay: tòa bản quyền tòng nhân là một cấu trúc tài phán gồm một vị giáo chủ có quyền tài phán thông thường, một hàng giáo sĩ thuộc quyền, phụ giúp ngài trong công tác mục vụ, và một hàng ngũ giáo dân để chăm sóc. Theo Đức Ông, nó giống như tòa bản quyền cho quân đội với nhiệm vụ chăm sóc các nhân viên quân sự của một quốc gia, và gia đình họ. Ngài không thấy tòa bản quyền nào khác nữa.
Về sự khác nhau giữa Cung Ứng Mục Vụ và tông hiến tương lai, Đức Ông cho rằng Cung Ứng Mục Vụ không có nội dung giáo luật và không dự liệu việc thi hành quyền cai quản. Trái lại, tông hiến tương lai sẽ ấn định ra các qui phạm giáo luật ở cấp cao nhất, cho phép tạo ra một cơ cấu mới hợp giáo luật gọi là “các tòa bản quyền” tại mỗi quốc gia riêng biệt. Mỗi tòa bản quyền này đều sẽ có quyền cai quản (quyền tài phán) đối với người và sự việc. Hiện nay, các giáo xứ Sử Dụng Anh Giáo tại Hoa Kỳ là các giáo xứ tòng nhân của giáo phận nơi chúng hiện diện. Giữa các giáo xứ này không hề có mối liên hệ giáo luật nào mà chúng cũng không có liên hệ giáo luật nào đối với vị Đại Diện của cơ quan Cung Ứng Mục Vụ. Một khi toà bản quyền tòng nhân được thiết lập, các giáo xứ này sẽ trực thuộc nó. Chính vị đứng đầu tòa bản quyền tòng nhân sẽ thiết lập ra các giáo xứ hay các cộng đoàn thờ phượng mới theo yêu cầu của các tín hữu cựu Anh Giáo và với sự tham khảo với vị bản quyền địa phương nơi các tín hữu này sinh sống.
Về câu hỏi tại sao đã có Cung Ứng Mục Vụ rồi, mà còn phải đưa ra tông hiến mới, Đức Ông Stetson cho hay: Cung Ứng Mục Vụ chỉ là một diễn trình hành chánh để chuẩn bị cho các cựu linh mục Giám Chức đã có gia đình được thụ phong linh mục trong Giáo Hội Công Giáo theo lời yêu cầu của giám mục sở tại. Trong khi toà bản quyền mới sẽ có cơ cấu giáo luật tương tự như một giáo phận để chăm sóc mục vụ cho các tín hữu từ Giáo Hội Giám Chức trở về.
Được hỏi hình như cơ cấu giáo luật nói trên là để đáp ứng trực tiếp lời thỉnh cầu hai năm trước đây của Hiệp Thông Anh Giáo Truyền Thống (TAC), một Hiệp Thông hiện có tới 400,000 tín hữu khắp hoàn cầu, phải chăng các tín hữu này sẽ gia nhập Giáo Hội Công Giáo xuyên qua các tòa bản quyền tòng nhân này, Đức Ông cho hay: trên thực tế, TAC là một liên hiệp nhiều “giáo phận” rải rác khắp thế giới; nó bao gồm linh mục, tín hữu giáo dân và giám mục. Tự nó, TAC chưa bao giờ là thành phần của Hiệp Thông Anh Giáo dưới quyền Tổng Giám Mục Canterbury (Dr Rowan Williams). Điều gì sẽ xẩy tới cho các “giáo phận” ấy tại các quốc gia biệt lập sẽ tùy thuộc quyết định của hàng giáo phẩm Công Giáo tại quốc gia liên hệ và của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin. Tại Châu Phi và Châu Á, các giáo phận này khá nhiều và đông hơn các lục địa khác.
Còn về diễn trình của các toà bản quyền tòng nhân, Đức Ông cho hay: vì tông hiến chưa được ban hành, nên chưa biết diễn trình hay thủ tục áp dụng sẽ như thế nào trong việc thiết lập một tòa bản quyền tòng nhân. Tuy nhiên, ngài đoán nó cũng giống như diễn trình đã được Cung Ứng Mục Vụ áp dụng suốt 27 năm qua tại Hoa Kỳ.
Cũng nên lưu ý: thông báo của Tòa Thánh có cho các tòa bản quyền tòng nhân có quyền có chủng sinh riêng, được đào tạo song song với các chủng sinh Công Giáo khác. Điều ấy có bao hàm khả thể kết hôn đối với chủng sinh cựu Anh Giáo không? Đức Ông Stetson một lần nữa xác định rằng chỉ những chủng sinh đã lập gia đình khi ngỏ ý trở về hiệp thông và chịu huấn luyện làm linh mục trong Giáo Hội Công Giáo mới tiếp tục cuộc sống hôn nhân. Còn các chủng sinh trong tương lai thì phải giữ độc thân.
Ngoài ra, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, các cựu tín hữu Anh Giáo được quyền duy trì truyền thống phụng vụ phong phú của họ (ngôn ngữ, âm nhạc, phẩm phục…) vốn có từ thế kỷ 16. Họ cũng được duy trì truyền thống sử dụng Thánh Kinh để giảng giải, lòng yêu kính các giáo phụ và cách phát biểu thần học bên ngoài truyền thống kinh viện Công Giáo.
Tại sao chỉ nhân nhượng các tín hữu Anh Giáo, mà không nhân nhượng các Kitô hữu khác như Luthêrô, Trưởng Lão… nếu họ muốn gia nhập Giáo Hội? Đức Ông cho rằng: Tín hữu Anh Giáo luôn chiếm vị trí đặc biệt trong thái độ của Giáo Hội Công Giáo La Mã đối với việc phá vỡ sự hợp nhất Kitô Giáo sau thế kỷ 16. Gáo Hội Anh Giáo luôn cố gắng duy trì thật nhiều các yếu tố của Giáo Hội Công Giáo trong khi vẫn là Thệ Phản. Giáo Hội Anh Giáo cũng duy trì được sự nhất trí cao hơn trong chính mình để có thể đối thoại với Rôma như một thực thể đơn nhất.