Orders, Sacrament Of
Bí tích truyền chức thánh. Là bí tích, qua việc đặt tay của Giám mục, ban cho một người ân sủng và sức mạnh thiêng liêng để thánh hóa người khác. Có ba hình thức của bí tích này, cũng còn gọi là các chức thánh, đó là chức phó tế, chức linh mục và chức giám mục. Tuy nhiên đó không phải là ba bí tích, nhưng chỉ là một bí tích được trao ban với ba hiệu quả bí tích lần lượt cao hơn. Chắc chắn rằng chỉ có các người nam đã rửa tội mới được truyền chức có hiệu lực, mặc dầu việc truyền chức cho người chưa đến tuổi khôn là bất hợp pháp hoàn toàn. Dường như cũng chắc chắn rằng một người nam đã rửa tội có thể được truyền chức linh mục, mà trước đó chưa được truyền chức phó tế. Tuy nhiên, giáo huấn Giáo hội nói chắc rằng một người nam đã rửa tội không thể được tấn phong làm Giám mục cách hợp lệ, nếu trước đó người ấy chưa được truyền chức linh mục.
Orders Of Knighthood
Dòng Hiệp sĩ, tước Hiệp sĩ Giáo hòang. Là một số phụng hội tu sĩ hoặc tại thế xuất hiện trong thời Trung Cổ. Các Dòng tu hiệp sĩ là các Dòng kết hợp các huy hiệu hiệp sĩ với quyền lợi của tu sĩ, và được sự phê chuẩn vừa của Giáo hội vừa của Nhà nước. Các Dòng hiệp sĩ đầu tiên là các Dòng mang tính quân sự thuần túy, như Hiệp sĩ Đền thờ, Dòng Chúa Kitô ở Montesa, Aviz, Calatrava, và Alcántara. Nhóm Dòng thứ hai vừa là hiệp sĩ vừa là quân sự, như Dòng Hiệp sĩ ở Malta, Hiệp sĩ ở Rhodes, Dòng Hiệp sĩ Đức, và Dòng thánh Giacôbê thành Compostela. Nhóm Dòng thứ ba là thuần túy hiệp sĩ, phục vụ bệnh viện, như Dòng thánh Lazarus thành Jerusalem, Dòng Thánh Thần, và Dòng Đức Bà Chuộc Cứu. Trong số các hội ít tính tu trì hơn, hội Hiệp sĩ ở Livonia là quan trọng nhất. Các hội tại thế là các phụng hội của Hiệp sĩ giáo dân, có các đặc điểm của Dòng Hiệp sĩ tu trì. Tại Anh, hiện nay các hội này đều thuộc Tin lành, trong đó có Hội ở Bath, Garter, và Thistle, mang tên là Hội thánh Patrick, thánh Micae, và thánh George. Tại Áo và Tây Ban Nha, cũng có Hội huân chương Hiệp sĩ vàng, và tại Piedmont có hội Annunziata. Hiện có nhiều tổ chức tu trì và huynh đệ mang tước hiệu Hiệp sĩ, chẳng hạn Hiệp sĩ ở Columbus, Hiệp sĩ thánh Gioan, Hiệp sĩ Thánh Giá, Hiệp sĩ của Cha Mathew, và Hiệp sĩ Thánh thể. Các tước Hiệp sĩ giáo hoàng là vinh dự được Tòa thánh ban cho các giáo dân nào có nhân cách không thể chê được, hăng hái thăng tiến phúc lợi của xã hội, Giáo hội và Tòa Thánh. Các huân chương này được trao bằng tự sắc (motu proprio) và do Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh chuyển đến, hoặc khi được giám mục địa phương đề nghị với Tòa thánh qua văn phòng giám mục của ngài. Các tước hiệp sĩ Tòa thánh gồm có: 1. Đại Hiệp sĩ của Chúa Kitô; 2. Hiệp sĩ của Đức Giáo hoàng Piô IX; 3. Hiệp sĩ thánh Gregory Cả; 4. Hiệp sĩ thánh Sylvester; 5. Hiệp sĩ dân quân; 6. Hiệp sĩ Thánh Mộ. Tước Hiệp sĩ Thánh mộ có thể ban cho giáo sĩ và phụ nữ nữa.
Ordinal
Sách hướng dẫn đọc thần vụ, sách nghi thức phong chức. Trước đây là cẩm nang gồm có các chỉ thị để đọc Kinh Nhật Tụng tùy theo thay đổi của các mùa trong năm phụng vụ. Hiện nay đó là tên của sách nghi thức và kinh nguyện để ban các chức thánh.
Ordinary
Đấng bản quyền. Trong luật Giáo hội, là một giáo sĩ với thẩm quyền tòng vụ ở tòa ngoài trong một lãnh thổ qui định; Đức Giáo hòang có năng quyền không giới hạn; đấng bản quyền là gíam mục giáo phận và giám mục phó; giám hạt tòng thổ; đại diên giám mục và giám quản thi hành quyền ở một giáo phận trống tòa. Đấng bản quyền còn là bề trên tổng quyền, viện phụ cả, bề trên tỉnh của các tu viện miễn trừ. Các vị đại diện của các ngài cũng được gọi là đấng bản quyền. (Từ nguyên Latinh ordinarius, bình thường, thông thường.)
Ordinary Care
Sự chăm sóc bình thường. Là sự chăm sóc y tế cơ bản mà thầy thuốc buộc phải điều trị cho các bệnh nhân được giao phó cho mình. Sự việc rằng một bệnh nhân bị khuyết tật tâm thần hay bị đối xử thiếu bác ái không biện minh cho thầy thuốc là đang vội vàng hay bất cẩn. Thầy thuốc phải luôn sử dụng thuốc men an tòan. Nếu có sự chữa lành tương đối chắc chắn, thầy thuốc đừng thử thuốc không an tòan cho người bệnh, với nguy hiểm là có thể gây cho người ấy thiệt mạng hoặc làm cho bệnh nặng thêm, cả khi bệnh nhân cho phép làm như thế. Nếu không có sự chữa lành an tòan, trong trường hợp cái chết khó thóat được, thầy thuốc có thể dùng thuốc và sự điều trị không chắc chắn, miễn là thầy thuốc làm mọi sự có thể để cứu bệnh nhân.
Ordinary Jurisdiction
Thẩm quyền tòng vụ. Là quyền thực thi quyền bính khi quyền này liên kết với một chức vụ trong Giáo hội. Đây là thẩm quyền của Đức Giáo hòang trên tòan thể Giáo hội, của Giám mục trên giáo phận của ngài, của vị mục tử ở tòa trong trên các thành viên giáo xứ của ngài. Thẩm quyền này có thể là tự bản thân hay người đại diện, tùy vào quyền được thực thi bởi người có quyền hay bởi một người được ngài ủy nhiệm.
Ordinary Means
Phương tiện thông thường. Là bất cứ các phương tiện nào được xem là thông thường để duy trì sự sống con người. Chúng là bình thường nếu chúng được chấp nhận như là chúng được sẵn sàng sử dụng cho con người trong thời gian, nơi chốn và hòan cảnh chúng được tìm thấy. Các phương tiện này là thực phẩm, nơi trú ngụ, và sự tránh nguy hiểm không cần thiết cho thân thể; còn là sự sử dụng thuốc men và tiện nghi y tế. Được thừa nhận trong vấn đề bảo vệ sự sống này là mong muốn chân thành để duy trì sự sống, hoặc giúp người khác sống đúng theo ý định quan phòng của Thiên Chúa. Cũng không là vấn đề có ý định trực tiếp kết liễu sự sống của mình hay của người khác.
Ordinary Power
Quyền thường vụ. Là quyền luân lý của Đức Giáo hòang hoặc của các Giám mục về dạy và quản trị theo chức vụ của các ngài, vì đó là lệnh của Chúa. Đây không phải là quyền ủy thác được nhận lãnh trong một thời gian hoặc nhiệm kỳ, từ một vị có thẩm quyền cao hơn.
Ordinem Baptismi
Sắc lệnh Ordinem Baptismi. Là sắc lệnh của Thánh bộ Phượng tự, ban bố năm 1969, cho phép thực thi nghi thức mới khi rửa tội trẻ em. Trong số các thay đổi, có một nghi thức đặc biệt để một giáo dân rửa tội cho trẻ em, và có một nghi thức giới thiệu một trẻ đã rửa tội với Giáo hội (ngày 15-5-1969).
Ordinis Baptismi Adultorum
Sắc lệnh Ordinis Baptismi Adultorum. Là sắc lệnh của Thánh bộ Phượng tự, nêu ra các qui định và nghi thức để tiếp nhận Kitô hữu trưởng thành vào Giáo hội Công giáo. Sắc lệnh có hai phần chính: phần nhất là sự giải thích chi tiết về thời gian dự tòng, ý nghĩa và việc thực hiện thời gian này; phần hai giải quyết rõ ràng các vấn đề với người đã rửa tội hợp lệ đi “vào hiệp thông đầy đủ với Giáo hội Công giáo” (ngày 6-1-1972).
Ordo
Ordo, giáo lịch, sách nghi thức. Sách nghi thức là một trong nhiều sách được Tòa Thánh xuất bản, nhằm ban các Bí tích hoặc thực thi các công việc phụng vụ khác. Kể từ Công đồng chung Vatican II, một số sách nghi thức đã được ban bố, chứa đụng nghi thức duyệt lại cho mọi Thánh lễ và mọi Bí tích. Một giáo lịch là một sách lịch hàng năm chứa đựng các chỉ dẫn viết tắt cho Lễ và Thần Tụng mỗi ngày. Mỗi giáo phận, hoặc một nhóm giáo phận, và mỗi Hội Dòng hay Tu hội đều có Giáo lịch riêng, hoặc ít là một phụ trương cho cuốn Giáo lịch chung của Nghi lễ Latinh (hoặc nghi lễ khác) trong Giáo hội.
Ordo Celebrandi Matrimonium
Sắc lệnh Ordo Celebrandi Matrimonium. Là sắc lệnh của Thánh bộ Lễ điển, duyệt lại nghi thức cho việc cử hành Hôn phối trong Thánh lễ, ngòai Thánh lễ, và giữa một người Công giáo và một người chưa rửa tội (ngày 19-3-1969).
Ordo Synodi
Ordo Synodi. Tuyên bố của Hội đồng Công Vụ của Giáo hội thiết lập qui định mới cho Công nghị các Giám mục, duyệt lại các chỉ thị cũ đưa ra ngày 8-12-1966. Các điều khoản quan trọng công bố bảy đặc quyền của Đức Giáo hòang, mà chỉ có Ngài được hưởng đối với công nghị Giám mục; cụ thể là Ngài triệu tập, chuẩn thuận các thành viên, lập thời khóa biểu làm việc, quyết định ai sẽ thảo luận điều gì, xác định các chuỗi vấn đề cần thảo luận, chủ toạ công nghị trực tiếp hoặc qua vị đại diện của Ngài, và quyết định về phiếu bầu của công nghị (ngày 24-6-1969).
Oremus
Oremus, “Chúng ta hãy cầu nguyện." Là một lời mời cầu nguyện, thường diễn ra trong Nghi lễ Roma, và nhấn mạnh sự tham dự của các tín hữu với linh mục trong việc thờ phượng Chúa.
Organ
Đàn ống, phong cầm. Là một nhạc cụ được Giáo hội chuẩn thuận và sử dụng để trợ giúp cho việc thờ phượng công khai. Đàn ống, được phổ biến hơn, được dùng trong hầu hết các nhà thờ. Đàn phong cầm, với hai hoặc nhiều hàng phím, được sử dụng sớm nhất là vào khoảng năm 1350. Bộ phận tăng giảm âm lượng, với các cửa trập di động, được phát minh khoảng năm 1712. Các đàn phong cầm hiện đại được sử dụng ống thổi chạy bằng điện. Nghi thức Roma cho phép sử dụng đàn này vào các chủ nhật Gaudete (Vui mừng, chủ nhật thứ ba mùa Vọng) và Laetare (Hãy vui lên, chủ nhật thứ 4 mùa Chay), vào thứ Năm Maundy (Thứ Năm Tuần thánh) cho đến kinh Vinh Danh, vào ngày thứ Bảy Tuần thánh từ kinh Vinh Danh về sau. Mặc dầu các nhạc cụ khác được phép sử dụng trong các buổi lễ nhà thờ, tiếng đàn phong cầm uy nghiêm vẫn là thích hợp nhất cho việc phượng tự. Năm 1968 Tòa Thánh cho phép dùng các nhạc cụ khác ngoài đàn phong cầm trong các buổi phụng vụ, “miễn là chúng được sử dụng một cách thích hợp với việc thờ phượng.”
Organic Articles
Điều khoản hữu cơ. Là luật qui định việc phụng tự công khai ở Pháp, ban hành thời Hoàng đế Napoleon (1769-1821). Luật này được công bố và có hiệu lực cùng một lúc với Thỏa ước năm 1801. Cho đến năm 1905 chính phủ Pháp chủ trương rằng luật này là không thể tách rời khỏi Thỏa ước, nhưng Tòa Thánh từ chối công nhận tính hiệu lực của nó, bởi vì Đức Giáo hoàng Piô VII đã không chấp thuận sự công bố luật này.
Orientalium Ecclesiarum
Sắc lệnh Orientalium Ecclesiarum. Sắc lệnh của Công đồng chung Vatican II về các Giáo Hội Công Giáo Ðông Phương, có ba mục đích: cổ vũ người Công giáo Đông phương trung thành với truyền thống xưa của họ; trấn an họ rằng các đặc quyền riêng của họ vẫn được tôn trọng, nghĩa là duy trì các tòa thượng phụ và linh mục được ban bí tích Thêm sức; và thúc đẩy các quan hệ chặt chẽ hơn với anh em các Giáo hội Đông phương Ly khai, nhằm đẩy mạnh sự hiệp nhất Kitô giáo. Một khỏan quan trọng là cho phép “việc thông dự vào sự thánh” (trong bí tích Hòa giải và Xức dầu) giữa người Công giáo và các Kitô hữu Đông phương được truyền chức hợp lệ (ngày 21-11-1964).
Orientation
Quay về phía Đông. Là tập tục hướng về hướng Đông khi cầu nguyện, vốn đã được thực thi trong thời tiền Kitô. Kitô giáo gắn một ý nghĩa mới vào nghi thức này. Đông phương là cái nôi của văn minh nhân lọai. Chúa Kitô sống ở Đông phương khi Ngài sống ở thế này, và từ Đông phương Chúa sẽ đến để phán xét nhân loại. Các Tông Hiến (từ năm 900 trở về sau) chỉ định rằng các nhà thờ được xây dựng với hậu cung hướng về phía Đông. Tập tục này được tuân giữ, ngoại trừ Hoàng đế Constantine, vì vậy các nhà thờ thánh Gioan Lateran, thánh Phêrô, và thánh San Lorenzo (Lôrensô) vi phạm chỉ thị này. Dần dà hướng của các đường phố làm cho tập tục trên không thực hiện được nữa. Phần cuối bàn thờ, dù ở vị trí nào, luôn được hướng về phía Đông, và quan tài linh mục trong Thánh lễ an táng được đặt với đầu hướng về phía Đông, và quan tài giáo dân được đặt với chân hướng về phía đông, tượng trưng cho vị trí tương đối của linh mục và giáo dân trong các buổi cử hành phụng vụ.
Origenism
Học thuyết Origen. Là một số học thuyết được qui cho hoặc được gán cho Origen (185-254), nhà chú giải Kinh thánh lỗi lạc và một tác giả sách tu đức. Trong các học thuyết này có sự tiền hiện hữu của linh hồn, chối bỏ sự đồng dạng giữa thân xác đã chết và thân xác vinh hiển, và cho rằng ma quỷ và linh hồn trong hỏa ngục rốt cuộc cũng sẽ được cứu rỗi. Học thuyết Origen đã bị công đồng chung Constantinople II lên án năm 553.
Origin
Gốc, nguồn gốc, khởi nguyên. Là sự nhiệm xuất một hữu thể từ một hữu thể khác, mà không hàm chứa sự tùy thuộc vào hữu thể ấy. Do đó trong Chúa Ba Ngôi, Ngôi Hai nhiệm xuất từ Ngôi Nhất, và Ngôi Ba nhiệm xuy từ Ngôi Nhất và Ngôi Hai như là khởi nguyên. Nhưng bởi vì mỗi Ngôi của Ba Ngôi là Chúa thật sự, nên không có vấn đề Ngôi này nhiệm xuất từ Ngôi kia như là tương quan nhân quả. (Từ nguyên Latinh origo, khởi nguyên, từ chữ oriri, dậy, đứng lên.)
Original Justice
Ân trạng nguyên thủy. Là tình trạng sống của ông Adam và bà Eva trước khi họ phạm tội. Tình trạng này sở hữu đồng thời ơn thánh sủng, với quyền lên thiên đàng và có các ơn ngoại nhiên. Nếu ông Adam không phạm tội, ân trạng nguyên thủy sẽ được truyền cho mọi dòng giống của ông. Sau khi phạm tội, nhờ việc ăn năn, ông đã phục hồi ơn thánh sủng, nhưng không còn có các đặc quyền khác của ân trạng nguyên thủy. Do ông Adam, mọi người được cho là mất ân trạng nguyên thủy. Chúa Giêsu Kitô, người đầu tiên mới của nhân lọai, qua cuộc thương khó và cái chết của Ngài, đã chuộc tội nhân loại và lấy lại những gì ông Adam đã làm mất. Ơn thánh sủng được tái lập ở việc công chính hóa, nhưng các ơn ngoại nhiên chỉ trở về như là các khả năng (chẳng hạn khả năng vượt thắng dục vọng) hoặc chỉ là sau cùng (chẳng hạn thân xác bất tử sau khi sống lại ngày tận thế).