VẤN ĐỀ XÃ HỘI và VẤN ĐỀ SỰ SỐNG

Hiện nay đang có một trào lưu lưỡng phân ngụy tạo giữa tả và hữu: đó là quan điểm cho rằng ta có thể yểm trợ cho nền văn hóa của thần chết mà vẫn giữ được thái độ cực hữu trong các vấn đề xã hội. Lối lưỡng phân này cho thấy vấn đề sự sống và vấn đề xã hội như chẳng liên quan gì đến nhau. Trong thông điệp “Caritas in Veritate (CiV)--Đức Ái trong Chân Lý”, Đức Thánh Cha (ĐTC) Bênêđictô XVI đã phi bác kiểu lưỡng phân này: Khi đã không có quan điểm đúng về sự sống, thì KHÔNG THỂ có quan điểm đúng về vấn đề xã hội được.

CỘI RỄ của TRẬT TỰ XÃ HỘI-KINH TẾ

Có thể nói ‘Caritas in Veritate’ (CiV) được viết một phần nào đó với mục đích tưởng niệm thông điệp ‘Populorum Progressio--Sự Tiến Bộ của các Dân tộc’ của ĐTC Phaolô VI, nhằm đánh dấu một bước tiến quan trọng trong giáo huấn xã hội Công giáo vốn cần thiết để có được sự phát triển nhân bản đích thực. Một điều rất quan trọng và đáng nói là: khi duyệt lại toàn bộ giáo huấn xã hội của ĐTC Phaolô VI, ĐTC Bênêđíctô XVI đã bao gồm ‘Humanae Vitae (HV)—Thông Điệp về Sự sống Con Người.’

Dụng ý này có tính chất quyết định bởi đó chính là điều Giáo hội đã cố gắng gầy dựng suốt hơn bốn mươi năm qua. Trong HV, ĐTC Phaolô VI đã xác nhận chính‘đôi vợ chồng khi mở ngỏ cho sự sống’ là họ đã đặt nền móng cho xã hội. Đây không hề là vấn đề luân lý riêng tư hay cá nhân, mà là sợi dây bền chắc kết nối đạo đức sự sống với đạo đức xã hội. Mối dây này quan yếu đến độ HV mở ra cả một thời đại mới cho giáo huấn của giáo hội, đưa đến một chóp đỉnh là thông điệp ‘Evangelium Vitae’ (EV)—Tin Mừng Sự Sống.

Mối dây này được ĐTC Bênêđictô diễn tả như sau: “Mở ngỏ cho sự sống chính là trọng tâm của sự phát triển chân thực. Khi một xã hội đi đến chỗ chối bỏ hay hủy diệt sự sống, nó sẽ không còn tìm được động lực và năng lực hướng đến sự thiện chân thực của loài người. Khi cá nhân hay xã hội đánh mất đi tính nhậy cảm trong việc đón nhận sự sống, thì các hình thức đón nhận khác vốn có gía trị cho xã hội cũng sẽ biến mất. Việc đón nhận sự sống sẽ củng cố nguồn mạch luân lý và khiến con người có khả năng tương trợ. Khi vun trồng thái độ mở ngỏ cho sự sống, người giầu sẽ thông cảm hơn với các nhu cầu của kẻ nghèo; nhờ thế họ tránh được việc sử dụng các tài nguyên kếch xù về kinh tế lẫn trí thức chỉ nhằm thỏa mãn các ước vọng ích kỷ, trái lại, họ có thể thúc đẩy những hành động đạo hạnh ngay chính trong môi trường sản xuất, không chỉ lành mạnh xét về mặt luân lý, mà còn được đánh dấu bởi tình liên đới, do biết tôn trọng quyền sống căn bản của mỗi người và mọi người.” (CiV, số 28)

Đứng trước thực tế căn bản là mở ngỏ cho sự sống, ĐTC Bênêđictô XVI chạnh lòng trước chủ trương của một số chính quyền trong việc áp đặt chính sách ngừa thai, tuyệt sinh, và phá thai, trong khi một số khác và các tổ chức phi-chính phủ lại khuyến khích các phương thức này, có khi còn đem ra quảng bá cho các nước khác trên thế giới, coi đó y như là một thứ tiến bộ xã hội. Thực ra thì ngược lại như thế!

GIA TĂNG và PHÁT TRIỂN DÂN SỐ

Thông điệp ‘Caritas in Veritate’ dành một phần lớn để nhấn mạnh rằng “thật là sai lạc nếu coi việc gia tăng dân số như là nguyên nhân chính gây ra tình trạng kém phát triển, cho dù đứng trên quan điểm kinh tế” (số 44). Nay thì ta đã thấy rõ, việc giảm thiểu mức sinh sản trong mọi xã hội đã gây ra một vấn đề nghiêm trọng, nhất là cho Âu Châu. Lý do cũng đơn giản thôi: giảm thiểu mức sinh sản làm căng thẳng hệ thống phúc lợi xã hội, tăng thêm chi phí cho những ai đang đi làm, trong khi lại giảm đi quỹ tiết kiệm để không còn tài lực đầu tư nữa, đó là chưa kể đến việc làm giảm thiểu nhân số lao động có năng lực cũng như thu hẹp lại những khối óc sáng tạo. Đây toàn là những hậu quả kinh tế mà thôi.

Hơn nữa, cho dù không minh nhiên xác nhận, luận cứ của ĐTC Bênêđictô cho thấy một thực tế kinh tế quan yếu, mà cuộc khủng hoảng hiện nay đang minh chứng: đó là sự phát triển kinh tế quan trọng—nghĩa là sự phát triển đầy phẩm chất và tiềm năng vững chắc—không thể có được nếu không có mốt thế hệ mới đầy sức sống. Tự bản chất, việc đầu tư luôn luôn dành cho tương lai, mà tương lai chỉ đem lại thành quả nếu thế hệ mới cống hiến nhiều nhân lực hoạt động đầu tư tích cực. Do đó, sự già nua của một xã hội chính là khúc dạo đầu của sự suy xụp tài chánh của nó, không thể nào né tránh được. Nói theo ĐTC Bênêđictô, thì “việc sinh sản có trách nhiệm…chính là một đóng góp tích cực cho việc phát triển con người toàn diện” và “sự mở ngỏ cho sự sống chính là biểu tượng của nguồn tài nguyên phong phú cả về mặt xã hội lẫn kinh tế.” (CiV số 44)

Trong ý nghĩa này, xã hội và nền văn hóa nào coi phái tính chỉ như trò giải trí và coi việc sinh sản như một hình thức liều mạng thì đích thị là đang bị kìm kẹp bởi một thứ chủ nghĩa duy vật đang giới hạn tự do, đang phá vỡ gia đình, và cầm cố tương lai. Luận cứ này mang tính chất kinh tế, nhưng lại vượt xa hơn kinh tế nữa. ĐTC Bênêđictô không ngại nói rõ rằng “các gia đình nhỏ, đôi khi tí hon, có nguy cơ làm nghèo đi các mối tương giao xã hội, và khó bảo đảm được các hình thức liên đới thật sự kiến hiệu” (CiV số 44), thiếu nó, việc phát triển con người toàn diện, kể cả việc phát triển kinh tế, cũng sẽ bị ngăn chận đáng kể. Việc phụ-nữ-hóa kiếp nghèo là một thí dụ tuyệt hảo về trào lưu “phản-phát triển” gây ra từ đống gạch vụn của hôn nhân tan vỡ, của gia đình ly tán, một thứ suy xụp bắt nguồn từ thái độ sai lạc về phái tính và sinh sản, điều đã gây ảnh hưởng tai hại trên phụ nữ, khoác lên cho kiếp nghèo một gương mặt đậm nét phụ nữ.

Vẫn theo ĐTC Bênêđictô, tất cả các tình cảnh vừa nói đều là “điềm báo cho một niềm tin nhạt nhòa vào tương lai và sự yếu nhược về luân lý” (CiV số 44). Sự phát triển đích thực, bao gồm cả phát triển kinh tế lâu bền, không thể nào nẩy nở trong một bầu khí héo mòn như thế được. Điều lạc quan nhất mà một thiểu số đặt hy vọng vào, đó là một kiểu siêu phát triển tạm bợ trong đó họ lợi dụng sự giầu sang cá nhân để trục lợi thêm nữa từ những nguồn sự vật và tiện nghi vật chất ngày càng gia tăng. ĐTC còn vạch rõ rằng “siêu phát triển” rất nhiều khi đồng nghĩa với “kém phát triển về luân lý” (CiV số 29), điều gây tác hại lớn lao cho toàn thể xã hội. Kiểu kém phát triển luân lý này rồi ra sẽ giảm hạ nhân vị xuống hàng dụng cụ, chẳng hề đếm xỉa đến cứu cánh tính căn cốt nơi con người, và chẳng kể chi đến sự kiện con người hằng rộng mở đón nhận Đấng tuyệt đối, cũng như làm ngơ trước nhu cầu phát triển con người toàn diện.

Để kết luận, ĐTC Bênêđictô trích dẫn thông điệp Evangelium Vitae của ĐGH Gioan Phaolô II: “Một xã hội thiếu nền tảng vững chắc khi, một mặt, nó xác nhận các giá trị như phẩm giá con người, công lý và hoà bình, nhưng mặt khác, nó lại hành động ngược hẳn lại bằng cách cho phép hoặc làm ngơ trước muôn vàn cách thức vi phạm và hạ nhục con người, nhất là đối với những kẻ yếu đuối đang bị gạt ra ngoài lề xã hội” (CiV số 15). Nói khác đi, sứ điệp rõ rệt của Caritas in Veritate chính là: không ai có thể cho mình là đúng về các vấn đề xã hội, nếu người ấy sai rõ ràng về các vấn đề sự sống. Khi đã sai về vấn đề sự sống, thì ngay tự căn bản, ta không thể làm cho xã hội phát triển được. Hiển nhiên, điều này không có nghĩa là bất cứ ai phò sinh thì cũng đều hoàn toàn tuân thủ giáo huấn xã hội Công giáo xét về chính sách liên đới và kinh tế. Nhưng điều này có nghĩa là việc vun xới nền văn hóa sự sống chính là điều kiện ‘sine qua non--ắt có và đủ’ nếu muốn phát triển con người toàn diện. Vì thế, đối với quý vị nào--kể cả quý vị Công giáo đã rơi vào vòng tục hoá—lúc nào cũng oai oải ủng hộ các chính khách chạy theo cái thứ văn hóa của thần chết và vênh váo cho rằng mình làm như thế là để yểm trợ cho một chính sách siêu xã hội-kinh tế, thì sứ điệp của Caritas in Veritate gửi đến cho quý vị ấy là: phát triển xã hội không thể nào có được nếu chính nền tảng của nó đang bị lung lay. Phải, không bao giờ có thể có được! Qúy vị không biết là mình đang xây nhà trên cát đó sao?.

(viết theo “Splitting Social and Life Issues? Can’t do it!” của Dr. Jeff Mirus, trong catholicculture.org, 09/18/09)

09/28/09