Theo bước chân Gioan Phaolô II

Không chỉ riêng đối với người công giáo, dường như tên tuổi cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã trở nên quen thuộc với mọi người thời nay. Giáo Hội Ba Lan và người dân nước này rất tự hào vì Ba Lan là nơi cố Giáo Hoàng đã sinh ra, lớn lên và phục vụ. Khắp nơi, hàng loạt bia đá và những bức tượng được dựng lên để ghi lại dấu chân không mệt mỏi của vị sứ giả phục vụ Tin Mừng của Thiên Chúa, mang nặng tình đồng loại và hằng cổ võ cho nền hòa bình cũng như quyền sống của con người.

Khi ôn lại tiểu sử của Cố giáo hoàng, chúng ta thấy được sự quan phòng rất đặc biệt của Thiên Chúa. Ngài được sinh ra ngay sau khi Đệ nhất Thế Chiến kết thúc không lâu. Từ thời niên thiếu đến tuổi đôi mươi ngài đã lần lượt chứng kiến sự ra đi của người mẹ yêu dấu, người anh thân thương và người cha nhân hậu. Tiếp theo đó, ở vào thời trai trẻ, ngài chứng kiến cảnh quê hương đất nước Ba Lan bị nhuốm màu khói lửa của Đệ Nhị Thế Chiến, chứng kiến hàng triệu người Do Thái bị bắt bớ và đầy đọa. Nói đến chiến tranh, người ta liên tưởng ngay đến sự tàn phá nhà cửa, gây ra thương tích và chết chóc của biết bao con người vô tội. Cuộc chiến nào rồi cũng qua đi, nhưng hậu quả mà chúng để lại là những vết thương lòng thì thật khó có thể chữa lành.

Cũng chính trong những biến cố đó đã tác động mạnh mẽ đến con người của Cố Gioan Phaolô II. Để rồi từ đó ước mơ cháy bỏng về hòa bình và về quyền làm người nung nấu tâm hồn ngài. Thoạt đầu, chàng trai nhiều tài Karol muốn trở thành một minh tinh màn ảnh để đem lại niềm vui cho khán giả trong lãnh vực nghệ thuật. Nhưng rồi bàn tay kỳ diệu của Thiên Chúa đã tác động chàng trai ấy và âm thầm từng bước chuẩn bị cho Giáo Hội một thủ lãnh tài đức. Việc Chúa làm thật nhiệm màu. Từ việc theo đuổi đào tạo ơn gọi linh mục trong bí mật, để rồi sau này ngài đã trở thành một con người với tên tuổi sang chói trên khắp thế giới. Từ việc lần lượt chia tay với tất cả người thân yêu của gia đình, để rồi sau này trở gắn bó với đại gia đình của Giáo Hội hoàn vũ. Từ một con người sinh ra, lớn lên và trưởng thành trong bối cảnh đại chiến thế giới, để rồi sau này trở thành vị sứ giả hòa bình của nhân loại. Ngài cũng là nhân chứng của lịch sử được chứng kiến lần lượt sự sụp đổ của các thể chế chính trị khác nhau.

Đoạn hành trình tiến về Wadowice, quê hương của Cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II là đỉnh điểm của chuyến hành hương. Trên đoạn đường từ Krakow đến quê hương của Giáo hoàng chỉ có 40 km, thế mà chúng tôi ai nấy đều hồi hộp khi mà lần đầu tiên đặt chân đến địa danh này. Lần lượt đi qua các thôn làng thanh bình, sau cùng chúng tôi cũng đã có mặt tại địa điểm chính của chuyến hành hương mà từ trước đến nay ai nấy hằng ao ước sẽ có một ngày được đến nơi đây. Ước mơ nay đã trở thành hiện thực. Chính trên mảnh đất này, chính những yếu tố mưa thuận gió hòa của tiết trời, chính nền văn hóa truyền thống của dân làng tại đây, chính nét đạo hạnh của các bậc tiền nhân và chính kho tàng quý báu là Đức Tin Kitô giáo của Giáo hội Ba Lan đã hun đúc nên con người và tính cách Gioan Phaolô II.

Chúng tôi đã cử hành thánh lễ rất sốt sắng tại chính ngôi nhà thờ mà Đức Cố Giáo Hoàng được lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, được nuôi dưỡng đời sống Đức Tin. Qua lời chuyển cầu của Vị Tôi Tớ trung thành này của Thiên Chúa, mọi người gửi gắm hết những tâm tư ước nguyện, đồng thời dâng từng cá nhân, mọi người thân thuộc, các linh mục, các gia đình, giáo xứ, giáo phận, và Đất Nước và Giáo Hội Việt Nam cho Thiên Chúa, Đấng giầu lòng Thương xót. Ai nấy đều cảm động và nghiệm thấy mình được sống trong bầu khí hiệp thông mãnh liệt với Giáo Hội.

Thánh lễ hành hương kết thúc, chúng tôi lần theo con đường phía hông bên phải nhà thờ để thăm viếng ngôi nhà mà Đức Gioan Phaolô II được sinh ra, lớn lên. Ngôi nhà thuộc loại gia đình tầm tầm hạng trung nằm song song với chiều dài ngôi nhà thờ. Còn cổng dẫn vào ngôi nhà này thì nằm trên một con đường khác cắt ngang phía đầu nhà thờ. Giữa nhà thờ và nhà Đức Giáo Hoàng thật gần gũi. Điều đó giúp ta khẳng định rằng Ngài đã được thường xuyên nghe tiếng Chúa ngay từ khi chào mới chào đời.

Trong nhà, các vật dụng, hình ảnh và bài báo giúp người tham quan tạm quên đi giây phút hiện tại để bước vào một không gian và thời gian gắn liền với cuộc đời của Cố Giáo hoàng từ thời niên thiếu cho đến cuối đời. Tại đây, khách hành hương được hòa mình vào niềm vui cũng như những ưu tư của ngài, được sống trong khoảnh khắc của những kỷ niệm mang đậm dấu ấn Gioan Phaolô II, cũng như được nhận ra sự kết hợp hài hòa giữa ơn siêu nhiên và tự nhiên hội tụ nơi Vị Thủ Lãnh của Giáo Hội.

Chúng tôi cũng đặt chân đến địa điểm hành hương thánh nữ Faustina để tham dự buổi cầu nguyện vào lúc 3 giờ chiều, giờ của lòng thương xót của Thánh Tâm Chúa. Đây là một quần thể bao gồm khu tu viện cổ kính đầy tĩnh mịch mà trước kia vị Tông Đồ cho lòng Thương xót của Chúa đã sống trọn vẹn đời thánh hiến tại nơi đây. Khu tu viện nối liền với nhà thờ và tháp chuông thời đương đại đạt tới tầm mức to, cao, dài và rộng như dấu chỉ nói lên sự kết hiệp giữa đất thấp và trời cao. Từ thượng giới, Thiên Chúa đoái thương và tuôn đổ ơn trời xuống cho con người nơi trần thế.

Tiếp tục hành trình của chuyến hành hương, chúng tôi tìm đến Krakow, thành phố cổ vào bậc nhất và là cố đô của Ba Lan. Vào thời Đệ Nhị Thế Chiến, nơi đây bị Đức Quốc Xã chiếm đóng nên thành phố không bị tàn phá. Tại đây, chúng tôi thăm cung điện nhà vua Wawel, tọa lạc trên phần cao nhất của thành phố. Cung điện đầy vẻ kiêu sa soi mình trên một dòng sông thơ mộng. Từ đây có thể quan sát được toàn cảnh của thành phố. Chúng tôi cũng có những giây phút lắng đọng tại nhà thờ chính tòa mà trước đây Cố Giáo hoàng đã từng là vị Tổng Giám mục lừng danh trẻ trung và tài đức.

Cùng với các địa danh như Lộ Đức, Fatima…khách hành hương trên thế giới ít nhiều cũng biết đến địa điểm hành hương Thánh Mẫu Czestochowa (Đức Mẹ Đen). Địa danh này gắn liền với lịch sử của đất nước và Giáo Hội Ba Lan. Cá nhân Đức Cố Giáo hoàng, từ thời niên thiếu cho đến những năm trong triều đại giáo hoàng của mình, ngài đã nhiều lần đặt chân đến đây với tư cách là khách hành hương.

Để phục vụ nhu cầu hành hương, trung tâm này được thiết kế bao gồm một đại lộ khổng lồ dẫn vào quảng trường nằm thoai thoải và phía trên là lễ đài và Đền Thánh Mẫu. Khi chúng tôi đến nơi, cũng là lúc một đoàn hành hương bản xứ đang thao thức tiến về bên Mẹ. Đoàn hành hương này có tất cả mọi thành phần: linh mục, giới trẻ, hiền mẫu, gia trưởng và thiếu nhi. Mỗi giới đều có y phục riêng rất độc đáo. Họ vừa đi vừa hát thánh ca. Sự vui tươi và bình an cũng như tinh thần sống đạo thể hiện rõ nơi từng khuôn mặt của đoàn hành hương này.

Chúng tôi đi ngang qua quảng trường và tìm theo con đường để đi lên Đền Thánh Đức Mẹ. Rất đông khách hành hương cầu nguyện thật sốt sắng, không còn một chỗ trống trong nhà thờ. Những chiếc nạng của các bệnh nhân được lành bệnh treo đầy các bức tường của Đền Thánh. Ở bất kỳ nơi đâu, và ở vào mọi thời, Mẹ Maria luôn luôn được ca ngợi là “đầy ơn phúc” và Mẹ hằng nâng đỡ ủi an con cái của Mẹ nơi trần thế.

Những ngày cuối của chuyến hành hương, chúng tôi có may mắn được cha phụ trách cộng đồng công giáo Việt nam tại thủ đô Vacxava tiếp đón và dẫn đi thăm hỏi các anh chị em giáo dân. Qua đó, chúng tôi hiểu được điều kiện sinh hoạt và làm việc của các anh chị em Việt nam, hiểu được những khó khăn tại một nơi hoàn toàn khác lạ về văn hóa, ngôn ngữ phong tục tập quán, đặc biệt là hiểu được những hy sinh không nhỏ khi phải xa quê hương, gia đình vợ con. Những buổi cử hành Bí Tích Thánh Thể và những bữa cơm đầy hương vị quê hương đã tạo nên một bầu khí thân thiện như thể mọi người đã quen biết nhau từ lâu rồi. Điều này cũng đúng, vì trong gia đình thiêng liêng, tất cả đều là con của một Cha Chung, Thiên Chúa Toàn Năng, Đấng ngự trên trời.

Những khoảnh khắc cuối cùng của chuyến hành hương, chúng tôi ngồi lại bên nhau để tổng kết về những ngày đầy tràn hồng ân. Tất cả đều nói lên tâm tình tạ ơn Thiên Chúa vì Ngài đã cho cơ hội được đến những nơi thánh thiêng, được gặp gỡ và chia sẻ với anh em đồng bào của mình tại những xứ sở xa lạ, được sống trong bầu khí huynh đệ giữa các anh chị em trong đoàn. Chuyến hành hương được khép lại bằng buổi cầu nguyện, mỗi người dâng lên Thiên Chúa những ý nguyện của mình. Chia tay nhau để trở về với đời sống thường nhật, dư âm của chuyến hành hương vẫn vang vọng. Chúng tôi thấy tâm hồn được mở rộng thêm để tiếp tục hòa mình vào nhịp sống của Giáo Hội qua từng lời kinh nguyện và trong từng công việc.