Từ Industrial Revolution (Cách Mạng Công Nghiệp) tới Great Depression (Suy Thoái Trầm Trọng/ the Great Depression – the severe problems that followed the Wall Street Crash of 1929. In the early 1930s, many banks and businesses failed, and millions of people lost their jobs in the US and in the UK and the rest of Europe) cho tới thời kỳ bắt đầu của Digital Revolution (Cách Mạng Kỹ Thuật Số), những tông thư xã hội giáo hoàng đã tạo ra những trụ chỉ đường để hướng bước những tín đồ Công Giáo trải qua những tình trạng rối ren, gian khó mà xã hội phải đương đầu.

DTC Benedict XVI đã có nhiều hỗ trợ truyền thống với Tông Huấn Charity in Truth (Bác Ái trong Chân Lý), một Tông Huấn có phạm vi rộng lớn để tăng cường những công việc giáo huấn giáo hội truyền thống trong khi vấn đề nổi cộm thách thức những nhà lãnh đạo thế giới để thực hiện một việc làm tốt hơn và đối với những cá nhân để dẫn dắt những cuộc sống nhân đức hơn.

Dự kiến ban đầu vào năm 2008, việc phát hành nó bị đình hoãn để Đức Benedict có thể bao quát những phản ảnh về cuộc khủng hoảng tài chính của năm qua. Không gì là ngạc nhiên, Ngài đã lên án những phá sản đạo đức cùng những tham lam mà đã góp phần cho sự suy sụp kinh tế. Nhưng đã đi xa hơn bằng việc khiển trách một hệ thống kinh tế mà trong “những tác động nguy hại của tội lỗi biết nhường bao.”

Trong những gì có thể trở thành trọng tâm bàn luận về những đề cử của Ngài, Đức Benedict kêu gọi Liên Hiệp Quốc cải tạo và sáng tạo về một “quyền lực chính trị thế giới đích thực” mà có thể, trong một số nhiệm vụ, quản lý nền kinh tế thế giới. Tông Huấn của Ngài không phải là nơi trình bày chi tiết làm thế nào nảy sinh những ý tưởng xuất sắc và trong một thực tế thực dụng. Hiển nhiên, nó có thể là một cam kết phức tạp để thuyết phục liên minh các quốc gia, đặc biệt những người ủng hộ thị trường tự do mãnh liệt, để buông lỏng kinh tế độc lập trong việc ủng hộ bộ máy điều chỉnh toàn cầu.

Nhưng tài liệu này đã đề cập nhiều hơn về cải cách kinh tế. Ít nhất tinh thần Charity in Truth giống như một lời kêu gọi phổ quát trước một tái tạo những giá trị Ki-tô giáo căn bản – đạo đức và liêm khiết, độ lượng và từ bi, công bằng và phẩm giá, đức hạnh và niềm tin – mà được hướng dẫn những nhiệm vụ bình đẳng với cả hai những người lãnh đạo thế giới và quần chúng.

Năm 1931, DTC Pius XI đã trả lời cho Great Depression với một Tông Huấn xã hội mà đã thương xót “tình yêu đê tiện của sự giàu có” và đã thúc đẩy “lề luật của sự tiết độ Ki-tô giáo” và “sự phân phối công bằng” của phồn vinh. Ba mươi năm sau đó. DTC John XXIII đã ủng hộ cho một cam kết quốc tế để giải thoát thế giới kém phát triển khỏi cảnh nghèo khổ, đớn đau và đói rách.

Đức Benedict đã nhắc lại những đề tài đó. Ngài đã trình bày lại việc giáo huấn giáo hội để trở thành giàu có không phải là cái xấu tự nó, mà sự giàu có được xây đắp bằng những phương pháp vô đạo đức hoặc vô luân lý, hoặc tiền bạc được tích trữ hoặc không tiêu dùng, là tội lỗi vô cùng. Mục tiêu tối hậu này sẽ không được tạo ra lợi nhuận, nhưng việc dẫn dắt những đời sống luân lý và đạo đức để nâng cao lợi ích chung.

Để chấm dứt, phải có một nghĩa vụ đối với những quốc gia đang phát triển để bảo đảm khả năng tiếp cận lương thực, nguồn nước, giáo dục, những hoạt động và sự an toàn của họ. Chúng ta phải biện hộ nhân phẩm của những người lao động, chia sẻ những nguồn tài nguyên thế giới, bảo vệ môi trường và tôn trọng mọi đời sống. Và, một cách đáng kể. Những điều này không phải là trách nhiệm đơn phương của những người lãnh đạo chính trị và kinh doanh bởi vì, Đức Benedict viết, mỗi người trong chúng ta được kêu gọi để được sinh hoạt trong tiến trình phát triển chính trị để thực hiện những cơ hội có tính tích cực.

Tông Huấn của Đức Benedict XVI có thể bao hàm một số những kiến nghị căn bản nhưng nó không phải là một tài liệu thấu đáo. Nó là một sự tái khẳng định về những giá trị Ki-tô giáo của chúng ta và là một sự nhắc nhở yêu cầu của chúng ta hãy để cuộc sống được hướng dẫn bởi bác ái và chân lý.