Habakkuk
Habakkuk, ngôn sứ Kha-ba-cúc, Sách Kha-ba-cúc (Kb). Là tác giả cuốn sách thứ tám trong nhóm các Ngôn sứ nhỏ, được viết khoảng năm 600 trước Công nguyên. Là một cuốn sách triết lý ngắn, gồm ba chương trong đó tác giả than phiền về các bất công ở đời. Tác giả nhận thấy sự dữ luôn chiến thắng, rõ ràng như sự hung hăng tàn bạo của dân Chaldeans (Can-đê) trong việc chiếm đọat quyền lợi của các dân khác (Kb 1:6). Người ta ngạc nhiên với cách nhìn của ngôn sứ khi ông mô tả “Nó thật là đáng kinh đáng sợ, nó dùng sức mạnh mà áp đặt công lý và oai phong” (Kb 1:7). Tuy nhiên ngôn sứ được ủi an bởi lời Đức Chúa rằng sự thiện sẽ chiến thắng đúng lúc. Ngôn sứ kết luận: “Con bình tĩnh đợi ngày khốn quẫn chụp xuống đầu dân xông đánh chúng con” (Kb 3:16).
Habit
Tập quán, thói quen, tập tính. Là một phẩm chất khó thay đổi, nó làm cho con người sẵn sàng làm điều tốt hay điều xấu, trong chính bản thân mình hay trong mối tương quan với người khác. Các thói quen tự nhiên là sự thể hiện phần nào uy lực của mình. Chúng thêm vào cho bản tính của chúng ta bằng cách giúp chúng ta dễ thực hiện hành vi, nơi mà sự thoải mái củng cố thói quen và thói quen tạo dễ dàng cho các hành vi. Thói quen hành động được thành hình bởi sự lặp đi lặp lại, và bị mất đi bởi sự không sử dụng hoặc các hành vi trái ngược. Các tập quán luân lý tốt chính là các nhân đức; và tập quán xấu chính là tật xấu và nhược điểm. (Từ nguyên Latinh habitus, có, sở hữu; điều kiện, tính cách, từ chữ habere, có.)
Habit, Religious
Tu phục, áo Dòng. Là chiếc áo đặc biệt của một nam tu sĩ hay nữ tu. Nguồn gốc tu phục là từ thời đầu của nếp sống đan tu. Tu phục được Công đồng chung Vatican II qui định cho các tu sĩ như sau: “Y phục của tu sĩ là dấu chỉ sự tận hiến nên phải giản dị và khiêm tốn, khó nghèo và tề chỉnh, hơn nữa, phải phù hợp với sức khỏe và thích nghi với hoàn cảnh thời gian, không gian cũng như nhu cầu của chức vụ” (Sắc lệnh về Canh tân Đời sống Dòng tu Perfectae Caritatis, 17).
Habitual Grace
Thường sủng. Là phẩm chất siêu nhiên liên tục của một linh hồn, thánh hóa con người liên lỉ và làm cho người ấy trở nên công chính và đẹp lòng Chúa. Còn gọi là ơn thánh hóa hay ơn công chính hóa.
Habitual Intention
Ý định quen thuộc, ý hướng quen thói. Là một quyết định của ý chí để đạt mục đích nêu ra, nhưng quyết định này không ảnh hưởng đến một hành vi đặc biệt. Một ý định quen thuộc hàm ý rằng một người đã có ý định trước đó để làm một việc gì, và đã rút lại ý định ấy, nhưng việc người ấy thực hiện bây giờ lại được làm theo ý định này.
Haceldama
Haceldama, ruộng máu, thửa ruộng máu. Là tên đặt cho thửa ruộng ông thợ gốm, được các thượng tế mua với gía ba mươi đồng bạc, đây là số tiền mà Judas (Giu-đa) nhận để phản bội Chúa Kitô. Thửa ruộng được dùng làm nơi chôn cất khách ngọai kiều (Mt 27:3-10). (Từ nguyên Hi Lạp akeldamach, từ chữ Aramaic hakel dema, ruộng máu.)
Hac In Urbe Roma
Tuyên bố chung Hac in Urbe Roma. Là tuyên bố chung giữa Đức Giáo hoàng Phaolô VI và Đức Michael Ramsey, Tổng giám mục Canterbury, đại diện cho các Giáo hội Anh giáo toàn cầu, cổ vũ sự đối thoại tiếp diễn giữa Giáo hội Công giáo Roma và Liên hiệp Anh giáo (ngày 24-3-1966).
Hades
Hades, âm phủ, âm ty, Diêm vương. Trong tôn giáo Hi lạp, là diêm vương, chủ của âm ty; do đó, cũng là tên gọi của vương quốc do Hades cai trị, hoặc âm phủ là nơi ở của người chết. Trong Kinh thánh, chữ Hi Lạp Hades là dịch từ chữ Do Thái cổ sheol, cũng có nghĩa là âm phủ, hoặc sự chết, hoặc quyền lực tiêu diệt, hoặc là nơi ở của kẻ xấu xa sau khi chết. (Từ nguyên Hi Lạp Haid_s, âm ty.)
Haggai
Haggai, ngôn sứ Khác-gai, sách Khác-gai (Kg). Còn gọi là Aggeus, là ngôn sứ thứ 10 trong các Ngôn sứ Nhỏ. Khoảng năm 520 trước Công nguyên, ngài xuất hiện giữa người Do Thái để khiển trách họ, do họ vô cảm trong việc tái thiết Đền thờ. Cuốn sách Haggai có bốn phát biểu: thúc giục việc tái thiết Đền thờ, tiên báo vinh quang Nhà mới của Chúa, đe dọa người Do Thái gặp nhiều bất hạnh cho đến khi Đền thờ được xây lại, và hứa Chúa sẽ chúc phúc cho dân qua tổng trấn Zorobabel (Dơ-rúp-ba-ven), vị đại diện của nhà David (Đa-vít).
Hagiography
Tiểu sử các thánh, khoa tầm tích hiển thánh, hạnh thánh. Là các bài viết hoặc tài liệu về các thánh hoặc người thánh thiện. Khoa này bắt đầu với việc tìm hồ sơ của các vị tử đạo, trong đó có ngày và cách thức tử vì đạo. Sau đó, khoa mở rộng ra với tiểu sử và dữ liệu của mọi vị thánh. Hình thức khoa học nhất của khoa tầm tích hiển thánh là nhóm Bollandist trong bộ sách Acta Sanctorum (Hạnh các thánh).
Hagiology
Hiển thánh học, văn chương về các thánh. Là khoa học về các thánh, sự điều tra và giải thích đời sống của các thánh mà Giáo hội đã tôn vinh các ngài với sự tôn kính công khai. Chức năng của khoa học này là phân tích linh đạo của các nhân vật này, và áp dụng các phát hiện của mình để phục vụ nhu cầu của tín hữu trên con đường theo đuổi đường thánh thiện Kitô giáo của họ. (Từ nguyên Hi Lạp agios, thánh + logos, bài viết.)
Hair Shirt
Áo nhặm, áo hành xác. Chiếc áo bằng lông dê hoặc bằng vải thô, được mang sát da như một thói quen hoặc sự hãm xác cố ý. Nó thay đổi theo hình dạng và kích cở. Trong một số dòng tu, luât buộc phải mang áo nhặm này.
Hallow
Thánh thiêng hóa, cả sáng, tôn kính. Là nhìn nhận như thánh thiêng, và do đó đối xử như thánh thiêng. Trong kinh Lạy Cha, cụm từ “Nguyện Danh Cha cả sáng” có nghĩa là tôn vinh Thánh Danh Chúa, tức là kính tôn Chúa và trao cho Chúa sự kính tôn và vâng phục mà Chúa đáng hưởng. Như thế, đây là lời xin cho Chúa được mọi tạo vật biết đến, yêu thương, và phụng sự.
Hallucination
Ảo giác, ảo ảnh, ảo tưởng. Là bất cứ nhận thức giả tạo nào, không được gây ra một cách tự do, làm cho người ta chấp nhận như là thật sự một cách khách quan điều chỉ là ý niệm mà thôi. Một trong các chức năng của thần học thần nghiệm là giúp vị linh hướng phân biệt rõ hiện tượng siêu nhiên thật sự và các ảo giác.
Halo
Vầng quang, hào quang. Trong mỹ thuật Kitô giáo, là một vầng sáng hay một hào quang trang trí chung quanh đầu của tượng Chúa Kitô hoặc tượng vị thánh. Nó tượng trưng cho sự thánh thiện, ánh sáng ân sủng và vinh quang. (Từ nguyên Latinh halos; từ chữ Hi lạp hal_s, đĩa, vầng sáng; hào quang.)
Handbook Of Indulgences
Sách chỉ nam về các ân xá. Là tuyên bố chính thức của Giáo huấn Giáo hội về ân xá, và bộ sưu tập các kinh quan trọng nhất và việc lành cần làm để hưởng ân xá. Sách này được Đức Giáo hòang Phaolô VI cho phép năm 1968.
Happiness
Hạnh phúc, niềm sung sướng. Là sự hài lòng về sở hữu điều tốt lành. Nó bao hàm một tình trạng thỏai mái vui tươi và không phải là một cảm nghiệm riêng lẻ, và là một sự thường xuyên tương đối và bền bỉ. Vì thế từ ngữ này thường được dùng trong Kinh thánh để mô tả những người được Chúa chúc phúc vì làm ý Chúa, và là phần thưởng của người công chính vì sự trung thành phục vụ của họ trên Trái đất này. Hạnh phúc là một ân ban của Chúa nhưng đòi hỏi sự hợp tác của con người mới có được nó.
Harmony, Gospel
Phối hòa Phúc âm. Là sự tập hợp các đọan Tin Mừng về các chủ đề giống nhau từ các thánh sử khác nhau, để cho thấy các điểm đồng ý giữa các vị. Nó cũng có thể là sự giải thích thỏa mãn về các khác biệt, nhất là giữa các Phúc Âm nhất lãm. Nó cũng có thể là sự phối hợp cả bốn Tin Mừng thành một trình thuật liên tiếp, hoặc đơn giản là sự sắp xếp các đọan theo thứ tự lịch sử của chúng.
Harshness
Tính lỗ mãng, tính thô bạo, tính cục cằn. Là một khuyết điểm luân lý được tỏ hiện trong sự thô lỗ của lời nói việc làm, và sự thiếu kiên nhẫn rõ ràng với các khuyết điểm và thiếu sót của người khác.
Hat, Ecclesiastical
Mũ giáo sĩ. Là cái mũ đặc biệt của hàng giáo sĩ. Chiếc mũ đỏ rộng vành với nhiều tua đặc biệt là biểu hiệu chính của một Hồng y. Nó ít khi được đội, và trong một số nhà thờ chính tòa nó được treo từ trần nhà (nhất là trên mộ) khi Hồng y qua đời. Trong huy hiệu, một cái mũ như trên nhưng là màu xanh dành cho Giám mục và màu đen dành cho linh mục, nhưng trong Giáo hội Công giáo theo nghi lễ Latinh các mũ này không hề được sử dụng. Mũ của Đức Giáo hòang thường có màu trắng.
H.B.
H.B., His Beatitude hay His Blessedness, Trọng kính Ngài.
H.E.
H.E., His Eminence, Ngài.
Headed Cross
Thánh giá tượng Chúa. Thánh giá trên đó có hình Chúa Kitô chịu đóng đinh.
Healing, Sacrament Of
Bí tích chữa lành. Là bí tích xức dầu, mà một trong các ơn của bí tích là chữa lành, nếu có sự chữa lành vì lợi ích thiêng liêng của người lãnh nhận. Sự chữa lành có thể là một trong nhiều cách: hồi phục hoàn tòan, hồi phục một phần với ít nhất là giảm các triệu chứng hoặc giảm đau, có sức mạnh tinh thần và thân xác để chịu đựng nỗi đau hoặc thương tật, với sự bình an và trao phó cho ý Chúa.
Healing Ministry
Thừa tác vụ trị liệu, thừa tác vụ chữa lành. Trước tiên điều này qui chiếu đến tác vụ của Chúa Kitô, vì trong cuộc sống trên dương thế này Chúa đã chữa lành người bệnh, chữa người câm điếc, người bại liệt, người mù, và trừ quỷ cho nhiều người bị quỷ ám. Thừa tác vụ này cũng qui chiếu đến sự chăm sóc của Giáo hội, từ thời đầu của Kitô giáo, cho người bệnh và những người cần chăm sóc thể lý hoặc tình cảm. Nhưng luôn noi gương Chúa Kitô, thừa tác vụ trị liệu của Giáo hội được hiểu là không dừng lại với người cần chăm sóc thể xác mà thôi. Giáo hội còn quan tâm đến con người tòan diện, thân xác và linh hồn, và tìm cách làm giảm mọi nỗi đau hoặc khuyết tật của con người, dù là thể xác, tâm lý hay tinh thần. Trong số các bí tích, bí tích xức dầu và bí tích hòa giải được đặc biệt hướng tới sự chữa lành, cả hai bí tích đều chữa lành linh hồn trước, và hướng tới việc xức dầu (nếu đó là ý Chúa) để chữa thân xác.
Health And Apostolic Benediction
Chúc sức khỏe và phép lành Tòa Thánh. Là lời chào trong thư viết tay của Đức Giáo hòang. Vị Giáo hòang đầu tiên sử dụng cách chào này là thánh Giáo hòang Anacletus, đấng kế vị thứ hai (tức là Giáo hòang thứ ba) của thánh Phêrô.
Heart
Trái tim. Là một biểu tượng của tình yêu, chứng tỏ Chúa Kitô luôn yêu thương con người mặc cho sự vô ơn của con người. Các ảnh tượng vẽ trái tim mà thôi được dùng cho sự tôn sùng riêng tư. Nói chung Thánh Tâm được vẽ như là Chúa Kitô, với trái tim ít nhiều được nhìn thấy rõ, đôi khi bàn tay Chúa nâng đỡ trái tim nữa. Tình yêu Chúa Kitô trong cuộc Khổ nạn của Chúa thường được trình bày như một trái tim nồng cháy chung quanh có một vòng gai. Trái tim Đức mẹ, bị mũi gươm đâm thâu, thường được vẽ với nhiều hoa hồng chung quanh. Một số thánh nhân có hình trái tim như là biểu tượng của mình, chẳng hạn thánh Âu Tinh, để tượng trưng tình yêu lớn lao của ngài đối với Chúa; thánh nữ Theresa thành Avila, với hình trái tim bị đâm, nhắc nhở vết thương của thiên thần Seraphim mà ngài nhận lãnh trong cơn xuất thần; thánh nữ Margaret Mary, do vai trò của ngài trong việc cổ vũ sự tôn sùng Thánh Tâm Chúa trong thế giới hiện đại.
Hearts Of Jesus And Mary, Scapular
Áo Thánh Tâm Chúa và Trái Tim Đức Mẹ. Bộ áo màu trắng với hình hai trái tim và dụng cụ tại cuộc Khổ nạn ở một mặt, và thánh giá đỏ ở mặt bên kia. Áo này phát sinh tại Antwerp năm 1873 với Dòng Nữ tử Thánh tâm Chúa. Áo đã được Đức Giáo hòang Leo XIII và thánh Giáo hòang Piô X chấp thuận.
Heathen
Người ngoại, người vô đạo. Nguyên thủy là một thành viên chưa trở lại của một dân tộc, vốn không nhìn nhận Thiên Chúa của mặc khải Do thái giáo-Kitô giáo. Các bản dịch Kinh thánh thay đổi liên tục các chữ “heathen” (người vô đạo) và "pagan" (người ngọai giáo) để dịch chữ “unbeliever” (người vô tín ngưỡng), thí dụ Tv 2:8. Từ ngữ này đã trở thành có nghĩa là người không tin vào Thiên Chúa, và ít dùng hơn, đó là những người có tín ngưỡng, nhưng không phải là Kitô hữu hoặc tín hữu Do Thái giáo.
Heaven
Thiên đàng, thiên cung, trời. Là nơi chốn và điều kiện của hạnh phúc siêu nhiên toàn vẹn. Hạnh phúc này bao gồm chủ yếu trong việc trực tiếp diện kiến Chúa và yêu mến Chúa, và thứ đến là hiểu biết, yêu mến, và vui thú với các tạo vật. Cho đến việc thân xác sống lại ngày tận thế, ngọai trừ Chúa Kitô và Đức Mẹ, chỉ có linh hồn những người công chính được lên thiên đàng mà thôi. Sau ngày tận thế, các người công chính sẽ ở trên thiên đàng với cả xác lẫn hồn. Mặc dầu Thiên Chúa sẽ được mọi người nhìn thấy và vui mừng nhìn thấy, nhưng không phải mọi người có mức độ hạnh phúc như nhau. Mức độ hạnh phúc này sẽ tùy vào mức độ ơn Chúa ở nơi một người khi người ấy qua đời, và mức độ hạnh phúc cũng được điều kiện hóa nhiều bởi các công trạng của một người trong khi người ấy còn sống ở trần gian. Thiên đàng là đời đời bởi vì nó không bao giờ kết thúc. Nó là liên lỉ vì niềm vui ở đó sẽ không bao giờ ngừng. Nó có tính cộng đồng vì hạnh phúc là được chia sẻ với các thiên thần và các thánh, và là bạn của những người đã từng quen biết và yêu mến ở trần gian.
Hebd
Hebd, Hebdomad – tuần lễ.
Hebdomadarian
Giáo sĩ trực tuần. Là vị linh mục hoặc tu sĩ thi hành chức vụ một tuần lễ trong một tu viện hoặc một nhà thờ. Giáo sĩ trực tuần hát lễ cộng đoàn mỗi ngày, xướng các giờ kinh trong Thần vụ, hát lời nguyện, và ban mọi phép lành cần thiết. (Từ nguyên Hi Lạp hebdomos, thứ bảy.)
Heber
Heber, ông Khe-ve. Là một người đàn ông Kenite (Kê-ni) du mục đã di chuyển đến Kedesh (Ke-đét) và dựng lều ở cho ông và vợ ông là bà Jael (Gia-ên, Tl 4:11). Gần đó xảy ra trận chiến giữa người Canaanites (Ca-na-an), do ông Sisera (Xi-xơ-ra) chỉ huy, và người Do Thái. Được Đức Chúa linh ứng, bà Deborah (Đơ-vô-ra) lập kế hoạch cho trận chiến để đánh lừa quân Canaanite. Khi kế hoạch thành công, ông Sisera bỏ trốn và tìm nương náu trong lều của ông Heber (Tl 4:16). Trong sự giả vờ che giấu ông ấy, bà Jael đã giết chết ông khi ông đang ngủ (Tl 4:17-22).
Hebrews, Epistle To The
Thư gửi tín hữu Do thái (Dt). Là một lá thư, được gán cho tác giả là thánh Phaolô, được viết tại Roma khoảng năm 63. Thư được gửi chủ yếu cho các người mới trở lại từ Do Thái giáo. Thư được chia làm hai phần chính. Phần Một là tín lý (1:1 to 10:17) và nói về phẩm giá của Chúa Kitô như là Người Con tự nhiên của Thiên Chúa, chức thượng tế muôn đời của Chúa Kitô, hy lễ của Đức Kitô trong Giao ước mới là cao trọng ơn hy lễ theo Luật Moses (Mô-sê). Phần Hai là luân lý (10:19 to 13:17), trong đó những người mới trở lại được khuyến khích kiên trì trong đức tin Kitô giáo, và trong việc sống các nhân đức khó khăn được đức tin này đòi hỏi.
Hedge Schools
Trường học ngoài trời. Là việc dạy học cho các trẻ em Công giáo ngoài cánh đồng ở Ireland, trong thời kỳ bách hại tín hữu. Do các trường Công giáo bị xóa bỏ theo bộ luật hình sự, phía sau các hàng rào dọc đường đi là nơi duy nhất mà nền giáo dục Công giáo có thể tiếp tục duy trì.
Hegelianism
Thuyết Hegel, duy tâm luận. Là một học thuyết và phương pháp của triết gia Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831). Đặc điểm chính của thuyết này là tiến trình biện chứng, vốn mặc nhiên công nhận sự hiện hữu phổ quát của các sự đối lập nhau, vốn sẽ bị thấm vào một sự thống nhất cao hơn, và đến lượt các đối lập mới lại phát sinh từ đó. Thuyết Hegel bác bỏ căn tính và sự mâu thuẫn như là nền tảng của tư tưởng. Mọi suy tư và mọi phát triển của hữu thể đi theo một sơ đồ “bộ ba”, gồm có luận đề, phản đề, và kết quả của hai cái này là hợp đề, nghĩa là các đối lập trong xung đột tạo ra một thể thống nhất cao hơn, và rồi thể thống nhất này lại trở nên nguồn cho xung đột khác, và sinh ra thể thống nhất mới, cứ như thế mà tiếp tục đến vô cùng vô tận. Trong thuyết Hegel, mọi sự đều có thể giải thích một cách biện chứng. Theo thuyết này, Kitô giáo được trình bày như tôn giáo tuyệt đối của chân lý và sự tự do, và đỉnh cao nhất được hoàn thành trong lịch sử nhân loại. Nhưng Kitô giáo không là siêu nhiên và không là cứu cánh, mà chỉ là một chặng trong tiến trình Chúa tự định giá mình như là Thần linh Tuyệt đối. Chủ nghĩa Mác (Marxism) được xây dựng trên thuyết Hegel.
Heideggerianism
Thuyết Heidegger. Là triết học hiện sinh của triết gia Martin Heidegger (1889-1976). Ảnh hưởng có ý nghĩa nhất của nó trên Kitô giáo là qua những người chủ trương giải trừ huyền thọai tính, như Rudolf Bultmann, người đã chấp nhận lý thuyết tri thức của Heidegger. Con người được cho là một hữu thể trong thời gian. Con người là Dasein in Zeitlichkeit, tức là “tại thể tính”, có nghĩa là một hữu thể luôn thay đổi theo giòng thời gian. Theo thuyết này, những gì Tin Mừng đã kể là đã xảy ra hoặc đã nói trong thời gian, tức là chuyện quá khứ. Do đó, câu chuyện Kitô giáo là “lịch sử thánh”, nghĩa là các dữ liệu thực tế đã được thánh thiêng hóa, quá tải với các câu chuyện không thực và huyền thọai, vốn thuộc về một thời đại cũ và cả tin.
Heli
Heli, ông Ê-li. Là thân phụ của Thánh Giuse, phu quân của Đức Maria. Nếu trong thực tế thánh Giuse là cha đẻ của Chúa Giêsu, thay vì người giám hộ của Chúa, thì ông Heli phải là ông nội của Chúa. Thánh Luca diễn tả điều này như sau: “Thiên hạ vẫn coi Chúa Giêsu là con ông Giuse. Giuse là con Ê-li” (Lc 3:23).
Hell
Hỏa ngục, địa ngục. Là nơi và tình trạng trừng phạt đời đời cho các thiên thần sa ngã và những ai chết mà tự ý xa rời tình yêu của Thiên Chúa. Có sự trừng phạt hai phần trong hỏa ngục: nỗi đau mất mát, là không được chiêm ngắm Thánh Nhan Chúa, và nỗi đau tri giác, là sự đau khổ do các vật thể bên ngòai gây ra. Sự trừng phạt ở hỏa ngục là đời đời, như Chúa Kitô đã tuyên bố trong lời tiên báo của Chúa về ngày tận thế (Mt 25:46), và như Công đồng chung Lateran IV đã định tín, khi nói rằng “kẻ có tội sẽ lãnh nhận hình phạt đời đời với quỷ dữ” (Denzinger 801). Sự hiện hữu của hỏa ngục là phù hợp với đức công bình của Chúa, bởi vì Chúa tôn trọng sự tự do của con người và những ai bị hư mất là tự kết án mình thật sự qua việc chống lại ơn Chúa ban.
Hellenism
Văn minh Hi Lạp, đặc ngữ Hi Lạp. Là toàn bộ các lý tưởng cổ điển gắn liển với nước Hy Lạp cổ, trong đó có lý luận, theo đuổi kiến thức, áp dụng triết học để học hỏi tôn giáo. Đảm đương bàn tay hướng dẫn của Chúa Quan phòng, văn minh Hi Lạp giữ một vai trò quan trọng trong việc giúp tạo dáng, về mặt nhân bản và văn hóa, cho nguồn gốc và sự phát triển của Kitô giáo. Ngôn ngữ của các bản văn Tân Ước là tiếng Hi Lạp, văn minh Dân Ngọai mà Giáo hội đi vào là văn minh Hi Lạp, và các đặc điểm của các tầng lớp có học hành trong thế giới Địa Trung Hải thế kỷ thứ nhất là đặc điểm Hi Lạp.
Help Of Christians
Phù hộ các giáo hữu. Là tước hiệu của Đức Trinh Nữ Maria, được Đức Giáo hòang Piô VII thiết lập thành một lễ kính vào năm 1814, để tạ ơn việc ngài trở về Roma an tòan sau năm năm sống lưu vong ở Savona. Mặc dầu lễ này không có trong lịch phụng vụ phổ quát của Giáo hội, đây là lễ bổn mạng của nước Úc. Lời khẩn cầu nguyên thủy “Auxilium Christianorum" (Đức Bà phù hộ các giáo hữu) đã được Thánh Giáo hòang Piô V đưa vào Kinh cầu Đức Bà, để tạ ơn về chiến thắng của phe Kitô hữu trong trận chiến với người Thổ Nhĩ Kỳ ở Lepanto năm 1571.
Help Of The Sick, Scapular
Áo Đức Bà trợ giúp bệnh nhân. Là áo Đức Bà của một phụng hội được thành lập năm 1860, liên kết với Tu hội thánh Camillus, bổn mạng của các bệnh viện. Áo này màu đen, có ảnh Đức Trinh Nữ. Áo đã được các Giáo hòang Piô IX và Leo XIII chấp thuận.
Henotheism
Duy nhất thần giáo, đơn nhất thần đạo, nhất sùng thần giáo. Là sự thờ phượng một thần, trong khi không phủ nhận có nhiều thần khác. Trong thực tế, một thần được thờ phượng bởi một bộ tộc hoặc một dân tộc, và lọai trừ các thần khác thuộc các dân tộc khác. Đây là một hình thức đa thần giáo, trong nghĩa rằng thần được chọn thờ phượng này không được nhìn nhận như là Thượng đế chân thật duy nhất.
Heortology
Phụng vụ tầm nguyên học, nghiên cứu lịch phụng vụ. Là việc nghiên cứu các lịch tôn giáo. Đặc biệt hơn, đây là khoa học về lịch sử và ý nghĩa của các mùa và lễ trong niên lịch Giáo hội Công giáo. (Từ nguyên Hi Lạp heorte, lễ + logia, khoa học, tri thức.)
Heptateuch
Thất thư Kinh thánh, Bộ bảy quyển. Là bảy cuốn sách đầu tiên của Kinh thánh, cụ thể là sách Sáng thế (St), sách Xuất hành (Xh), sách Lê-vi (Lv), sách Dân số (Ds), sách Đệ Nhị luật (Đnl), sách Gio-duê (Gd) và sách Thủ lãnh (Tl). Bảy cuốn này tạo thành một thể thống nhất về lịch sử. (Từ nguyên Latinh heptateuchos, từ chữ Hi Lạp hepta, bảy + teuchos, sách.)
Heraldry, Ecclesiastical
Khoa nghiên cứu gia huy trong Giáo hội. Là khoa nghiên cứu các gia huy, biểu tượng, huy hiệu của các Dòng tu, hội đòan tôn giáo, và biểu tượng gán riêng cho mỗi thánh nhân. Các con dấu đầu tiên trong Giáo hội mang châm ngôn của một giám mục hay một viện phụ, và khỏang thế kỷ 14 các nhà Dòng ở Anh được lệnh phải có con dấu chung. Sau đó nó phát triển thành một huy hiệu cho mỗi cộng đòan. Mũ Giám mục, gậy Giám mục, và mũ đội đã xuất hiện như là biểu tượng trong thế kỷ 14, và khỏang thế kỷ 17 mũ Hồng y trở nên gần như phổ biến khắp thế giới cho các Hồng y. Thứ bậc của giám chức được chứng tỏ qua số núm tua ở mũ. Mũ lễ Giám mục hiện nay được các vị được quyền đội mũ ấy xếp cao hơn các biểu tượng khác. Một vật trang trí khác cho gia huy là gậy Giám mục, một dấu hiệu của phẩm chức Giám mục. Thánh giá ở gia huy cũng khác nhau: hai thanh ngang cho thánh giá của giáo chủ, ba thanh ngang cho thánh giá của Đức Giáo hòang. Chiếc gậy đầu u tròn thường xuất hiện sau cái khiên của cha bề trên hay mẹ bề trên. Các giáo sĩ người Armenia là giáo sĩ Đông phương không Công giáo duy nhất sử dụng các gia huy. Gia huy của Tòa thánh Vatican là mũ ba tầng vòng trên hai chìa khóa đan chéo, màu vàng trên nền màu đỏ.
Heredity, Law Of
Luật di truyền. Là thuyết cho rằng không những các đặc tính thể lý của một người mà còn các phẩm chất trí tuệ và luân lý của người ấy là phái sinh từ tổ tiên người ấy. Như thế thuyết này là không tương hợp với niềm tin của Kitô giáo trong tác động của ơn Chúa, và vai trò sự tự do của con người trong việc tạo dáng cho nhân cách của mình. Kitô giáo không phủ nhận rằng một số khuynh hướng thể lý, vốn có lẽ ảnh hưởng đời sống thiêng liêng của con người, có thể di truyền từ cha mẹ sang con cái. Tuy nhiên, bên cạnh ân sủng Chúa và ý chí tự do, môi trường sống và việc giáo dục của một người cũng là các yếu tố góp phần vào việc làm nên tính tình của người ấy.
Heresiarch
Người khai sinh lạc giáo, người chủ xướng lạc giáo. Là người thành lập hay khởi xướng một lạc giáo lớn, vốn sau đó bị Giáo hội lên án, thí dụ các ông Arius, Nestorius, và Pelagius.
Heretic
Người rối đạo, người lạc giáo. Là một người tuyên xưng lạc giáo. Luật Giáo hội phân biệt giữa người lạc giáo cố tình, tức là người cố ý phạm tội này, và một người lạc giáo cứ sự, là người không phạm tội về luân lý do tuyên xưng cái gọi là thuyết lạc giáo khách quan.
Hermeneutics
Khoa chú giải. Là nghệ thuật và khoa học giải thích Kinh thánh và truy tìm ý nghĩa đích thực của các đoạn Kinh thánh. Khoa học này định nghĩa các luật mà các nhà chú giải phải tuân theo, để xác định và giải thích ý nghĩa của lời Chúa. Khoa này giả thiết rằng người giải thích cần hiểu được các ngôn ngữ Kinh thánh và các khoa học khác, vốn có thể góp phần vào sự hiểu biết Kinh thánh tốt hơn. (Từ nguyên Hi Lạp herm_neus, người giải thích.)