NEW HAVEN, Connecticut (ZENIT,Org). Sau khi chấm dứt nơi gặp gỡ trong cuộc thăm viếng của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI năm 2008 người Mỹ đã chứng tỏ một sự hăm hở và nhiệt tình để nghe sứ điệp Tin Mừng cùa ngài mà nhiều người không chờ đợi. Họ đã bày tỏ một sự đói--về chân lý và sự lãnh đạo luân lý.

Và--mặc dầu một xu hướng trong các phương tiện có tính cách rất phê phán khi đưa tin về Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI—hơn một năm sau, bằng những khoảng cách xa, những người Mỹ nói chuing—và những người Công Giáo Mỹ nói riêng—có một quan niệm tích cực về Đức Giáo Hoàng và một sự ước muốn mãnh liệt nghe ngài nói về những vấn đề thúc bách nhất trong ngày.

Một sự nghiên cứu của các Hiệp sĩ thuộc đoàn Columbus –Marist, được chỉ đạo trong tháng Ba vừa qua, đã thấy những người Mỹ có một quan niệm tích cực về Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI gần 3:1 khoảng cách (59% tới 20%). Giữa những người Công giáo, ngài được tín nhiệm lối 7:1 khoảng cách (76% tới 11%).

Được gần 3:1 khoảng cách (4:1 giữa những người Công Giáo), ngài được xem như là “tốt cho Giáo Hội.”

Sự kiện Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI vẫn được những người Mỹ kính trọng như thế--dầu một chu kỳ tin tức 24 giờ thường nghịch với ngài và sứ điệp của ngài—là một bằng chứng lớn về khả năng của Đức Giáo Hoàng truyên thông trực tiếp Tin Mừng cho dân chúng. Điều đó cũng nói một cái gì có ý nghĩa về sự ao ước của người Mỹ đối với sứ điệp hy vọng và tình yêu mà Đưc Giáo Hoàng Biển Đức VI giảng khi kêu gọi chúng ta nói “vâng” cho Chúa Giêsu Kitô.

Và sứ điệp này không bị mất trong một số lớn người Mỹ, những người muốn nghe ngài tranh cãi về những vấn đề có khả năng gây bầt hoà nhất của ngày. Điều này nhấn mạnh một sự đói thầm kín đối vơi chân lý sứ điệp của Giáo Hội, sứ điệp được Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI trình bày rõ ràng.

Khi nhà nước này sau nhà nước khác tái định nghĩa hôn nhân, những người Mỹ muốn nghe những quan điểm của Đức Giáo Hoàng về hôn nhân và gia đình với tỷ lệ hơn 2:1 (57% tới 22%). Giữa những người Công giáo tỷ lệ đó gần 5:1 (68% tới 14%).

Trong một quốc gia mà những luật liên quan sự phá thai và sự nghiên cứu tế bào gốc càng ngày càng được mở rộng tự do, một số lớn ngừoi Mỹ thích nghe điều Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI nói về những vấn đề sự sống này (50% tới 29% và 60% tới 21% giữa những người Công Giáo).

Nói cách khác, mặc dầu một nền văn hóa theo pháp luật và các phương tiện càng ngày càng thể hiện sự dung thứ “thuyết tương đối luân lý,” thì những người Mỹ--theo những khoảng cách rộng rải--thấy sự cam kết của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đối với nền luân lý Công Giáo là có giá trị, và theo sự lãnh đạo Công Giáo trong những vấn đề cốt lõi.

Những người Mỹ cũng muốn nghe những điều Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI nói về sự xem Thiên Chúa là một phần trong những sự sống hằng ngày chúng ta, về sự chia sẻ thời gian và tài năng với những kẻ túng thiếu, về sự thiển cận của tính tham lam, và về sự xây dựng một xã hội nơi những giá trị thiêng liêng đóng một vai trò quan trọng.

Giữa một sự suy thoái kinh tế trầm trọng do một loạt những thất bại luân lý, những người Mỹ muốn có viễn ảnh của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI để xây dựng một xã hội dựa trên những giá trị--không trên tính tham lam.

Khi đã thấy thuyết tương đối luân lý dẫn tới đâu về mặt kinh tế, những người Mỹ tìm kiếm thay cho một la bàn luân lý không nao núng, và mong đợi con người mà họ biết có một.

Dầu trên sân khấu quốc tế, những người Mỹ thấy Đức Giáo Hoàng là rất quan trọng.Bảy mươi tư phần trăm người Mỹ--và 84% người Công Giáo Mỹ--diễn tả Đưc Giáo Hoàng như “một nhà lãnh đạo tôn giáo quan trọng trong thế giới.” Và theo hơn 2:1 khoảng cách người Mỹ và những người Công Giáo Mỹ thấy ngài như hoạt động và rõ ràng.”

Trong ngày áp cuộc tông du của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đến Trung Đông, những người Mỹ--bằng 2:1 khoảng cách (46% tới 23%)—đã tin ngài nhạy cảm đối với người Hồi Giáo, và cũng bằng một khoảng cách tương tự (48% tới 20%), nói ngài cũng nhạy cảm đối với người Do thái. Giữa những người Công Giáo tỷ lệ là 3:1--lối 60% tin ngài nhạy cảm với những người cả hai tôn giáo, chi lối 20% không đồng ý.

Được phản chiếu trong những thái độ này là một cái gì rất thâm sâu. Mặc dầu sự gièm pha thỉnh thoảng Đưc Thánh Cha lãnh nhận trong chuyến tông du của ngài tới Đất Thánh, sự kiện ngài sẵn sàng đặt mạng sống của ngài trong nguy hiểm tại một vùng không bền vững và thường có bạo lực hầu tìm kiếm một nền hoà bình bền bỉ, nhấn mạnh những độ nhạy cảm của ngài cho cả hai phía xung đột Trung Đông.

Và mặc dầu sự chỉ trích xảy ra thỉnh một giải pháp hoà bình cho nạn bạo lực thường thấy tại Đất Thánh.

Những kẻ không đồng ý với những phương diện thuộc chuyến tông du của Đức Giáo Hoàng nên dừng lại để suy nghĩ điều này, và hơn nữa, có thể suy nghĩ rằng đang khi những sự bất bình quá khứ là phần của trí nhớ và không thể bỏ qua, những bất bình đó không nên biến thành những rào cản cho một cơ hội thật vì hoà bình đang ở trong tay bây giờ.

Và những kẻ muốn không nghĩ đến Đức Thương tế chúng ta—hay là một phần nào đó thuộc sứ điệp của ngài-- phải lấy một bài học từ những thái độ được liệt kê trong sự nghiên cứu này và phải thừa nhận rằng tâm hồn con người không nghỉ yên cho tới khi nghỉ trong Chúa. Đó là một sự kiện không mất trong những nhà tư tưởng Công Giáo từ thời Augustinô cho tới chính Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI, những vị đã ra sức đem những tâm hồn con người tới Chúa một dấu hiệu phân biệt triều đại giáo hoàng của ngài.

Đó là một sự dấn thân kiên định cho chân lý—và khả năng nhờ sự chuyên cầu nguyện của ngài hầu đem dân chúng tới gần Chúa Giêsu Kitô—đã biến Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI thành một hải đăng của sự can đảm luân lý mà những người Mỹ và những người khắp thế giới tôn trọng và muốn nghe sứ điệp. Chúng ta có thể gọi đó là một chiến thắng của chân lý trên truyền hình.