Cha David Neuhaus, SJ, giám đốc văn phòng đại diện những người Công Giáo Do Thái nói tiếng Hibálai thuộc tòa thượng phụ Latinh ở Giêrusalem, có một số nhận định sau chuyến viếng thăm Đất Thánh của Đức GH Bênêđíctô XVI tại đất nước của Cha.
Cha cho hay việc đầu tiên là phải cảm tạ Chúa về hồng ân được đón tiếp Đức Thánh Cha ngay tại quê hương Chúa Giêsu Thành Nadarét và là quê hương của cha. Sau đó, cha xoay các nhận định của cha chung quanh các vai trò do Đức Giáo Hoàng thủ diễn trong suốt cuộc hành trình này: vai trò người hành hương, vai trò người mục tử, vai trò người đối thoại và vai trò người cổ động hòa bình. Qua các vai trò đó, ngài biểu lộ khuôn mặt của Chúa Kitô cho mọi người ngài gặp.
Người hành hương
Đức Thánh Cha đến như người hành hương đi kính viếng các nơi được Thiên Chúa thánh hóa làm hoạt trường cho lịch sử cứu rỗi của chúng ta. Ngài đến để nhắc lại cho Kitô hữu biết tầm quan trọng của những nơi này vì ta có thể dùng chúng làm “phúc âm” để loan báo tin mừng của Chúa cho nhân loại về một Thiên Chúa trung tín và cứu vớt mà hết thẩy chúng ta phải chạy tới. Cuộc thăm viếng của ngài vì thế sẽ khuyến khích mọi Kitô hữu hãy đến và cầu nguyện tại đây vì “câu truyện Phúc Âm, một khi được chiêm ngắm trong bối cảnh lịch sử và địa dư của nó, sẽ trở nên sống động và đầy mầu sắc, giúp ta nắm rõ ý nghĩa các lời Chúa nói và các việc Chúa làm” (Phòng Tiệc Ly).
Cầu nguyện là bài học quan trọng nhất trong cuộc viếng thăm này. Trên tất cả mọi điều khác, ta được mời gọi thành người cầu nguyện, biết mở rộng trái tim mình cho một Thiên Chúa luôn tìm cách hành động qua con cái mình, ngõ hầu ban cho họ những ơn phúc họ khao khát một cách khẩn thiết nhất, đó là hòa bình và hợp nhất. “Cầu nguyện là hy vọng bằng hành động […] và ta cảm nhận được các khả thể diệu kỳ đang mở ra trước mặt ta khi trái tim ta chịu quay về với chân lý của Chúa, với kế sách của Người dành cho mỗi người chúng ta và cho thế giới” (Trung Tâm Nữ Vương Hòa Bình).
Người mục tử
Có lẽ những giây phút mạnh mẽ nhất trong chuyến tông du của Đức Thánh Cha là những lúc ngài cầu nguyện với các cộng đồng Kitô Giáo tại Đất Thánh. Chính trong bối cảnh ấy, Đức Giáo Hoàng đã trực tiếp nói truyện với đoàn chiên của ngài và nói lên sự quan tâm lo lắng đầy tình cha con đối với các môn đệ của Chúa Giêsu đang sống giữa tranh chấp và lao nhọc. Tại mọi khúc quanh, ngài đều nhấn mạnh tới sinh khí của cuộc sống Kitô Giáo và chú trọng tới sự hợp nhất. Đức Giáo Hoàng làm nổi bật ơn gọi độc đáo của Kitô hữu trong vùng, khích lệ họ tiếp tục làm chứng tá cho tình yêu của Chúa Kitô ngay trên quê hương của Người. Ngài kêu gọi chúng ta trở thành tông đồ của tình yêu, cột trụ của đức tin và hoà hợp, người rao giảng phúc âm sự sống, người truyền giảng Nước Thiên Chúa.
Đức Thánh Cha nhắc đến man vàn các khó khăn mà Kitô hữu đang gánh chịu: “Cha hy vọng sự hiện diện của cha tại đây là một dấu chỉ cho thấy các con không bị lãng quên, sự hiện diện và chứng tá đầy kiên tâm của các con quả là qúy giá trước mặt Chúa và là chủ yếu đối với tương lai của các lãnh thổ này. […] Các con, các Kitô hữu của Đất Thánh, các con được kêu gọi phục vụ […] như chất men của hòa hợp, của khôn ngoan và cân bằng” (Thánh Lễ tại Giêrusalem). Đức Thánh Cha nói rất lâu về bổn phận người Kitô hữu phải trở nên chứng nhân cho sự sống chứ không phải cho sự chết: “Trên hết, các con hãy trở nên các nhân chứng cho sức mạnh của sự sống, sự sống mới đã được Chúa Kitô Phục Sinh đem lại, một sự sống có khả năng chiếu sáng và biến đổi ngay cả những hoàn cảnh đen tối nhất, vô vọng nhất của thân phận con người […] Các con đừng sợ hãi!” (Thánh Lễ tại Bêlem)
Đức Thánh Cha so sánh Kitô hữu với Trinh Nữ Maria: “Có lẽ đôi khi các con cảm thấy tiếng nói của các con chẳng đáng kể bao nhiêu. Nhiều đồng bào Kitô hữu của các con đã di cư […] Tình thế của các con khiến người ta nhớ tới trinh nữ Maria lúc còn trẻ […] Giống Đức Maria, các con có một vai trò để đảm nhiệm trong kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa, bằng cách đem Chúa Kitô đến cho thế giới, bằng cách làm nhân chứng cho Người và truyền bá sứ điệp hòa bình và hợp nhất của Người” (Kinh Chiều tại Nadarét).
Người đối thoại
Đức Thánh Cha tới cũng để cổ vũ cuộc đối thoại liên tôn. Đến một vùng nơi Kitô hữu chỉ là một phần rất nhỏ của dân số, ngài tìm cách gặp gỡ các nhà lãnh đạo tôn giáo của cả Hồi Giáo lẫn Do Thái Giáo ngõ hầu đảm bảo với họ rằng Giáo Hội Công Giáo là một người sẵn sàng hùn hạp vào cố gắng kiến tạo một thế giới tốt hơn. “Chúng tôi biết rằng các dị biệt của chúng ta không bao giờ được trình bày sai lạc như là nguồn gốc không thể tránh được của va chạm […] Đúng hơn, các dị biệt ấy phải đem lại một dịp may kỳ diệu để người thuộc các tôn giáo khác nhau có thể sống với nhau trong một lòng kính trọng, quí mến sâu xa, biết đánh giá nhau, khuyến khích nhau trên các nẻo đường của Chúa” (Trung Tâm Thánh Mẫu).
Trong cuộc gặp gỡ với các đại giáo trưởng, Đức Giáo Hoàng tha thiết kêu gọi một sự tin tưởng lẫn nhau trong cuộc đối thoại đang diễn tiến giữa người Công Giáo và người Do Thái Giáo: “Tin tưởng nhau hiển nhiên là một yếu tố có tính yếu tính đối với một cuộc đối thoại hữu hiệu” (Tòa Đại Giáo Trưởng). Muốn vượt qua nhiều thế kỷ dị biệt, bất tin tưởng và cả thù hận nữa cũng đòi phải có nhiều khôn ngoan và kiên nhẫn. “Chúng ta nên làm mọi sự để có thể học hỏi ngôn từ của người khác, và đối với tôi, xem ra chúng ta đang thực hiện được nhiều tiến bộ lớn lao” (Trên máy bay). Cùng với việc ta đang học cách tôn trọng và vinh danh những gì chúng ta có chung, Giáo Hội và người Do Thái Giáo cũng cần phải khám phá ra cách biết tôn trọng và vinh danh những gì chúng ta còn dị biệt nhau. Đây là một thách đố đáng sợ vẫn còn đang ở trước mặt ta.
Ngay sau khi đặt chân tới Do Thái, Đức Giáo Hoàng đã nhìn nhận tầm quan trọng của Shoah (Nạn Diệt Chủng). Ngài nhấn mạnh rằng Giáo Hội cam kết đối với việc tưởng niệm các nạn nhân và đứng cạnh nhân dân Do Thái trong việc tranh đấu chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa bài Do Thái: “Buồn thay, chủ nghĩa bài Do Thái vẫn tiếp tục thò cái đầu xấu xa của nó tại nhiều nơi trên thế giới. Điều ấy không thể nào chấp nhận được. Mọi cố gắng cần đưa ra để chống lại chủ nghĩa bài Do Thái tại bất cứ nơi nào nó hiện diện, và để cổ vũ lòng kính trọng và qúi mến đối với thành viên của mọi dân tộc, bộ lạc, ngôn ngữ và quốc gia trên khắp mặt địa cầu (Phi trường Ben Gurion)
Theo chân vị tiền nhiệm của ngài là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Đức Giáo Hoàng thực hiện hai cuộc hành hương có tính biểu tượng: thăm Bức Tường Phía Tây, nơi ngài đặt một lời cầu nguyện viết sẵn trên giấy vào khe hở của Bức Tường và thăm Yad Vashem, đài tưởng niệm các nạn nhân của Shoah. Tại Yad Vashem, Đức Giáo Hoàng tuyên bố rằng ngài tới đây để đứng im lặng: “một sự im lặng để tưởng niệm, một sự im lặng để cầu nguyện, một sự im lặng để hy vọng” (Yad VaShem).
Đức Giáo Hoàng cũng nói truyện với người Hồi Giáo nhiều dịp trong suốt chuyến viếng thăm, để một lần nữa nói lên xác tín của ngài rằng người Hồi Giáo và người Kitô Giáo được mời gọi làm việc với nhau để kiến tạo các xã hội biết đặt cơ sở trên các giá trị chung mà người Hồi Giáo và người Kitô Giáo cùng chia sẻ. “Chắc chắn hiện đang có một sứ điệp chung, và chúng ta sẽ có dịp trình bày sứ điệp ấy. Và bất kể các dị biệt về nguồn gốc, chúng ta vẫn có những chiếc rễ chung” (trên máy bay). Đức Giáo Hoàng tới thăm nhiều đền thờ Hồi Giáo, ở cả Amman lẫn Giêrusalem. Qua đó, một lần nữa ngài đã chứng tỏ được lòng tôn kính đối với niềm tin tôn giáo của người Hồi Giáo. “Ước chi mọi tín đồ của Người tiếp tục ngắm nhìn sự tốt lành tuyệt đối của Người, và đừng bao giờ quên không nhìn đến cách thế sự tốt lành tuyệt đối ấy được phản ảnh trong khuôn mặt người khác” (Haram al-Sharif).
Người hòa bình
Trong suốt chuyến viếng thăm của ngài, Đức Giáo Hoàng lúc nào cũng lưu ý đến việc ngài liên lỉ cầu nguyện cho công lý và hòa bình. Ngài làm thế không phải như một người làm chính trị, nhưng như một người cầu nguyện, như một mục tử đào tạo lương tâm và như người đi tìm sự thật. Tại Giêrusalem, ngài lưu ý mọi người tới ơn gọi của Thành Phố này, một ơn gọi chưa thể hiện được trong cảnh bất ổn hiện nay: “Giêrusalem phải là một nơi dạy người ta tính phổ quát, lòng tôn trọng người khác, đối thoại và hiểu biết lẫn nhau; một nơi mà thiên kiến, ngu dốt và sợ sệt phải được vượt qua bằng trung thực, ngay thẳng và mưu cầu hòa bình” (Thánh lễ tại Giêrusalem).
Không nản chí, Đức Giáo Hoàng lặp đi lặp lại lời khẩn thiết của Giáo Hội kêu gọi xây dựng những cây cầu chứ không phải những bức tường, nhờ thế giải quyết thực tế hết sức đáng buồn hiện nay tại Đất Thánh, một lãnh thổ tường ngăn nhiều hơn và hiển nhiên hơn cầu nối. Ngài khẩn khoản yêu cầu hai bên mở rộng trái tim đón nhận một tinh thần mới. Dù sao, Đức Thánh Cha cũng cho các thính giả của ngài hay tường ngăn không tồn tại mãi đâu: “Bất kể cuộc tranh chấp có tỏ ra không thể giải quyết và được giao thông hào bảo vệ kỹ đến bao nhiêu, người ta vẫn có cơ sở để hy vọng, hy vọng rằng nó có thể giải quyết được, hy vọng rằng các cố gắng nhẫn nại và trì chí của những người đang hoạt động cho hòa bình và hoà giải, cuối cùng, sẽ đem lại kết quả” (Từ giã Bêlem).
Trong diễn văn cuối cùng đọc tại Phi Trường Quốc Tế Ben Gurion, một lần nữa, Đức Thánh Cha lại nói lên sự đau đớn của những người vốn qúy yêu Đất Thánh và mọi dân tộc của Đất Thánh. “Không bằng hữu nào của người Do Thái và người Palestine lại không đau buồn vì các căng thẳng liên tục giữa hai dân tộc. […] Hãy để giải pháp hai nhà nước trở thành một thực tế, chứ không phải chỉ là mộng ước nữa. Và hãy để hòa bình từ các lãnh thổ này tỏa lan ra bên ngoài […]đem hy vọng lại cho nhiều vùng khác đang bị tranh chấp tác động” (Từ giã Do Thái).
Đức Thánh Cha cho rằng: điều cần đối với tình thế hiện nay là “lòng can đảm và trí tưởng tượng để theo đuổi con đường hòa giải đầy thách thức và hết sức cần thiết” (Trại tị nạn Aida). Can đảm để tưởng tượng ra một tương lai! Việc Đức Bênêđíctô XVI di chuyển dọc các tường ngăn và rào cản cho người ta thấy rằng những tường ngăn và rào cản này chỉ bị hạ xuống khi ta biết mở tâm hồn mình để tưởng tượng ra khả thể kia.
Hy vọng không hàm hồ
Theo vị đại diện người Công Giáo nói tiếng Hibálai tại Đất Thánh này, ta cần cảm ơn Đức Giáo Hoàng và mọi người góp phần làm cho chuyến tông du của ngài thành công. Ngài đến quả đã an ủi, khích lệ và nâng đỡ được các Kitô hữu ở đây. Điều quan trọng lúc này là phải học hỏi lời ngài nói và việc ngài làm vì những lời nói và việc làm ấy đem sự việc về một mối với nhau, theo một phương cách có thể nói lên tính đặc thù trong sứ điệp Kitô Giáo, tại mảnh đất đầy tranh chấp và chia rẽ này.
Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI nhắc người Kitô hữu tại Đất Thánh rằng mỗi ngày họ phải mỗi trở thành một hiện diện có thể nói lên không những công lý và hòa bình mà còn cả tha thứ, yêu thương và hy vọng nữa. Tưởng không còn lời nào gây xúc động bằng lời ngài nói lúc đứng trước Mộ Chúa Giêsu ở Giêrusalem: “Ngôi mộ trống nói với ta về hy vọng, niềm hy vọng không bao giờ làm ta thất vọng vì nó là hồng ân của Thánh Thần sự sống” (Mộ Thánh). |