Giáo Hội Công Giáo và cuộc tấn công
bằng quân sự vào Iraq
Trong một năm qua, Tòa Thánh Vatican và các Giáo Hội Công Giáo trên thế giới đã mạnh mẽ chống lại việc Hoa Kỳ chủ trương đơn phương mở cuộc tấn công Iraq bằng quân sự và đòi hỏi một cuộc tấn công như thế, nếu cần thiết, phải được thực hiện trong khuôn khổ của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Lập trường đó ngày càng được các quốc gia và các giới quan tâm đến hòa bình và an ninh của nhân loại tán đồng, kể cả sau khi Hoa Kỳ đã đem quân tiến vào Iraq, không cần có sự phê chuẩn của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.
Hãng thông tấn Apic của Thụy Sĩ cho biết trong những ngày trước khi cuộc chiến khởi đầu, nhất là từ khi Tổng Thống Bush của Hoa Kỳ đặt ra kỳ hạn 48 tiếng đồng hồ để ông Saddam Hussein và những nguời con của ông rời khỏi Iraq, hàng ngàn điện thọai và điện thư đã được gởi đến Vatican để ủng hộ lập trường của Tòa Thánh. Những nữ tu làm việc tại trung tâm điện thọai Vatican đã khuyên những người gọi điện thoại đến để ủng hộ lập trường của Toà Thánh hãy "cầu nguyện cho hoà bình", và xin họ thay vì gọi điện thọai, hãy gởi fax đến văn phòng thư ký riêng của Đức Giáo Hoàng. Trong số những điện thư gởi về Trang Nhà của Tòa Thánh Vatican, có những điện thư đề nghị Đức Giáo Hoàng nên đến thủ đô Bagdhad để ngăn chận chiến tranh đừng xảy ra.
Trong khi đó, trước khi mở cuộc tấn công vào Iraq, Ngoại Trưởng Colin Powell của Hoa Kỳ loan báo có 30 nước ủng hộ Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống Iraq, và 15 nước khác tán thành nhưng không muốn được nêu tên vì lý do này hay lý do khác. Đó là các nước Afghanistan, Albania, Australia, Azerbaijan, Colombia, Czech Republic, Denmark, El Salvador, Eritrea, Estonia, Ethiopia, Georgia, Hungary, Iceland, Italy, Japan (post-conflict), South Korea, Latvia, Lithuania, Macedonia, Netherlands, Nicaragua, Philippines, Poland, Romania, Slovakia, Spain, Turkey, United Kingdom, Uzbekistan. Ông cho biết ông cũng đã nhận được sự ủng hộ công khai của Hòa Lan và Đan Mạch qua điện đàm với 2 vị Ngoại Trưởng. Trên thế giới hiện nay có 188 quốc gia đã tham gia tổ chức Liên Hiệp Quốc mà chỉ có 35 hay 40 quốc gia chính thức ủng hội Hoa Kỳ. Điều này chứng tỏ chủ trương của Hoa Kỳ chỉ được một thiều số quốc gia ủng hộ.
Ngoài ra, trong những tháng gần đây, kể cả khi Hoa Kỳ đã mở cuộc tấn công vào Iraq, các phong trào phản chiến đã nổi lên khắp nơi trong thế giới, có lúc số người tham dự lên đến hàng triệu, mặc dầu truyền hình Mỹ không chiếu hoặc chỉ chiếu lướt qua.
Tòa Thánh Vatican và các Giáo Hội Công Giáo đã dựa trên những căn bản nào để chống lại sự đơn phương tấn công Iraq của Hoa Kỳ? Giáo Hội đã dựa trên hai căn bản chính: Thứ nhất là Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Công Pháp Quốc Tế đã được các quốc gia trên thế giới lập ra để bảo vệ an ninh và hòa bình trên toàn thế giới. Thứ hai là những thương tổn mà chiến tranh sẽ gây ra cho nhân loại. Trước khi trình bày hai quan điểm này của Tòa Thánh, chúng tôi xin lược qua về những diễn biến của tình hình Iraq đưa đến cuộc chiến, và tình hình của Giáo Hội Công Giáo tại Iraq.
I.- Vài nét về tiến trình cuộc chiến Iraq
Tháng 7 năm 1990, Saddam Hussien trách Kuwait đã tuôn ra quá nhiều dầu làm số dầu thô bị ứ động trên thị trường và giá dầu giảm xuông quá thấp. Cuộc thương lượng giữa hai nước về số lượng dầu bán ra trên thị trường qua trung gian của Anh đã thất bại. Ngày 2.8.1990, Saddam Hussein đem quân chiếm Kuwait và tuyên bố Kuwait là tỉnh thứ 19 của Iraq, rồi thành lập một chính phủ bù nhìn để cai trị. Liên Hiệp Quốc và Hoa Kỳ ra lệnh cho Iraq phải rút quân ra khỏi Kuwait, nhưng Iraq không thi hành. Liên Hiệp Quốc liền áp dụng biện pháp chế tài, cho phép Iraq chỉ được phép bán dầu đủ để mua thực phẩm và thuốc men mà thôi. Nhưng Iraq không quan tâm.
Ngày 18.1.1991, Hoa Kỳ bắt đầu mở cuộc tấn Iraq bằng không quân và hỏa tiển. Iraq chống lại bằng cách bắn hỏa tiển Kcud vào Saudi Arabia và Do Thái. Ngày 27.2.1991 Hoa Kỳ bất thần mở cuộc tấn công Iraq cả bằng không quân lẫn bộ binh. Cuộc hành quân này được mang tên là “Cuộc Hành Quân Bảo Tố Sa Mạc” (Operation Desert Storm) do Tướng Norman Schwarzkopf chỉ huy. Chỉ trong 4 ngày, quân đội Hoa Kỳ đã giải phóng Kuwait và tiến qua Iraq, làm quân đội Iraq hoàn toàn tan rả. Khoảng 175.000 quân Iraq bị bắt sống và 85.000 quân bị giết. Nhưng điều ngạc nhiên là khi đang thắng lợi như vậy, Tổng Thống Bush bổng ra lệnh ngưng hàng quân và thu quân về. Tướng Norman Schwarzkopf rất ngạc nhiên về lệnh này.
Nhiều nhà phân tích cho rằng với đà thắng lợi nói trên, nếu Hoa Kỳ tiếp tục hành quân trong vòng một tuần lễ nữa, toàn thể lãnh thổ Iraq sẽ bị chiếm đóng, và chế độ Saddam Hussein sẽ bị sụp đổ. Nhưng Hoa Kỳ đã không làm như vậy. Hoa Kỳ muốn dùng Saddam Hussein làm con ngáo ộp, đặt vùng Trung Đông luôn ở trong tình trạng bất ổn, khiến các nước giàu có trong vùng này phải mua vũ khí của Mỹ để tự vệ, còn Hoa Kỳ có lý do chính đáng để duy trì quân đội tại vùng này. Vì thế, Tổng Thống Bush cha đã không diệt Saddam Hussein.
Sau cuộc chiến này, Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc đã cấm vận Iraq và buộc Iraq phải giải giới. Việc giải giới được đặt dưới sự kiểm soát của các thanh tra Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, Iraq đã gây khó khăn cho việc kiểm tra vũ khí của phái đoàn thanh tra. Từ năm 1990 đến 2002, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc liên tiếp đưa đã ra 11 nghị quyêt buộc Iraq phải tuân thủ, nhưng Iraq vẫn tiếp tục gây khó khăn. Ngày 8.11.2002, Hội Đồng Bảo An đã ban hành Nghị quyết số 1441 đưa ra các biện pháp kiểm tra vũ khí gồm 14 khoản buộc Iraq phải tuân hành triệt để, nếu không sẽ bị trừng phạt. Khoản 13 Nghị quyết này đã nhắc nhở như sau:
“Hội Đồng lặp lại báo động Iraq rằng Iraq sẽ phải đối phó với những hậu quả nghiêm trọng do kết quả của những sự tiếp tục vi phạm các nghĩa vụ của mìmh”.
II.- Tình hình Giáo Hội Công Giáo tại Iraq
Cuốn Niên Giám Giáo Hoàng năm 2003 (Annuario Pontificio) vừa mới phát hành cho biết vào đầu năm 1991, ngay trước khi cuộc chiến tại vùng Vịnh xảy ra, dân số Công Giáo tại Iraq có khoảng hơn 500.000 người trên tổng số dân khoảng 21 triệu, trong đó bao gồm các tín hữu Công Giáo Chaldea, Armenia, La Tinh và Syria. Nay, dân số Công Giáo chỉ còn khoảng 175.000 người, tức đã mất đi khoảng 2/3. Một giáo sĩ tại Vatican đã nói: "Nó giống như một cuộc xuất hành trong Kinh Thánh. Với sự đe dọa của cuộc chiến mới, giáo dân Công Giáo còn ở lại phải suy nghĩ gay go đến việc thu xếp hành trang cho mình". Linh mục Najim, người chịu trách nhiệm về các cộng đoàn Giáo Hội Iraq trên khắp Âu Châu, cho biết có ít nhất 65.000 tín hữu Công Giáo Chaldea đã di cư qua Âu Châu trong vòng 8 năm qua. Nhiều người khác đã đi qua Hoa Kỳ.
Hiện nay, Giáo Hội Iraq có 89 giáo xứ, 114 linh mục triều, 20 linh mục dòng, 7 phó tế vĩnh viễn, 28 nam tu sĩ và 283 nữ tu sĩ.
Ông Albert Yelda thuộc phong trào The Iraqi National Congress đã nói với hảng thông tấn UPI rằng người Công Giáo tại đây không dám đeo thánh giá như truyền thống khi đi ra đường. Họ bị coi là những thập tự quân và không được nhận khẩu phần lương thực. Những người ủng hộ Saddam Hussein đã bảo họ: "Bảo Mỹ nuôi mấy người. Đi chỗ khác chơi, ở đây không có chỗ cho mấy người". Năm 1998, chính phủ Iraq đã từ chối một cuộc viếng thăm Iraq của Đức Giáo Hoàng.
Đức Cha Jshlemon Warduni, Giám Mục Phụ Tá tại Baghdad, cho biết rằng mối đe dọa một cuộc tấn công Iraq đã gây phiền phức cho những nguời Kitô hữu đang sống tại Iraq, vì bị nghi ngờ là thân Tây phương và Hoa Kỳ. Ngài nói: "Chúng tôi cũng rất lo lắng cho tất cả người dân Iraq. Như là giáo hội địa phương, chúng tôi phải làm mọi việc có thể làm, để việc tấn công này không bao giờ xảy ra; nếu xảy ra, thì đây là một thảm cảnh mới". Ngài kết luận: "Chúng tôi tin vào Thiên chúa, Đấng sẽ ban cho chúng ta hòa bình và chúng tôi kêu gọi tất cả các giáo hội trên toàn thế giới hãy cầu nguyện với chúng tôi, để Thiên chúa soi sáng cho các nhà lãnh đạo các quốc gia biết hành động để phục vụ cho sự công bằng."
Các viên chức của Giáo Hội quen thuộc với hoàn cảnh ở Iraq đã nói rằng tuy họ không có ảo tưởng về chế độ Saddam Hussein, nhưng Đảng Ba'ath của ông ta đã đối phó chống lại trào lưu bảo thủ của Hồi Giáo tại Iraq trong nhiều năm. Iraq đã tỏ ra khoan dung với Kitô Giáo.
III.- Chủ trương bảo vệ các định chế của Liên Hiệp Quốc
Tiến sĩ Joaquin Navarro-Valls, phát ngôn viên của Tòa Thánh, cho biết trong cuộc hội kiến với ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh đến "vai trò cần thiết của Liên Hiệp Quốc trong giờ phút hiện nay", và Ngài "hy vọng các giải pháp công lý và hiệu quả trước thách đố hiện nay sẽ được tìm ra, phù hợp với công pháp quốc tế mà Liên Hiệp Quốc là cơ quan đứng ra bảo đảm việc thực thi".
Vậy, theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Quốc Tế Công Pháp, muốn mở cuộc tấn công Iraq bằng quân sự phải có những điều kiện nào?
1.- Cấm xâm lăng
Điều 2(4) của Hiến Chương LHQ quy định:
“Tất cả các thành viên, trong tương quan quốc tế của mình, phải kiềm chế việc đe dọa hay dùng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của bất cứ quốc gia nào, hay bằng bất cứ cách nào không phù hợp với các mục tiêu của Liên Hiệp Quốc.”
Điều này được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc tái xác định trong Nghị quyết số 2625 (XXV) ngày 24.10.1970 khi đưa ra “Tuyên Ngôn các Nguyên Tắc Quốc Tế về Sự Liên Đới và Hợp Tác Huynh Đệ giữa các Quốc Gia theo tinh thần của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc”. Nguyên tắc đó như sau:
“Không một Quốc Gia hay một nhóm Quốc Gia nào có quyền can thiệp, trực tiếp hay gián tiếp, vì bất cứ lý do gì, vào các việc quốc nội hay quốc ngoại của bất cứ quốc gia nào khác. Do đó, sự can thiệp bằng võ khí hay tất cả những hình thức can thiệp khác, hay những âm mưu đe dọa chống lại nhân vật của quốc gia hay chống lại các yếu tố về chính trị, kinh tế và văn hóa của quốc gia đó, là vi phạm luật quốc tế.”
Nghị quyết số 3314-XXXIX (Resolution 3314 - XXIX) ngày 14.12.1974 đã định nghĩa tội xăm lăng (aggression) như sau:
“Xâm lăng là việc một Quốc Gia dùng quân lực chống lại chủ quyến, sự toàn vẹn lãnh thổ, hay sự độc lập chính trị của một quốc gia khác, hay bằng bất cứ cách nào khác không phù hợp với Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, như được nêu ra trong Định nghĩa này.”
2.- Quyền áp dụng các biện pháp chế tài
Chương VII của Hiến Chương LHQ dành cho Hội Đồng Bảo An quyền áp dụng các biện pháp chề tài đối với các quốc gia vi phạm luật pháp quốc tế, phương hại đến hòa bình và an ninh của thế giới. Điều 39 dự liệu rằng Hội Đống Bảo An sẽ thẩm định về sự hiện hữu của bất cứ sự đe dọa hòa bình nào, sự phá vở hòa bình, hay hành động xâm lược và sẽ đưa ra những sự khuyến cáo hay biện pháp nào sẽ được áp dụng chiếu theo các điều 41 và 42 của Hiến Chương, để duy trì hay vãn hồi hòa bình và an ninh của thế giới. Điều 42 cho phép Hội Đồng Bảo An xử dụng các biện pháp quân sự cần thiết để bảo vệ hay vãn hồi hòa bình và an ninh thế giới. Điều 46 và 47 dự liệu rằng Hội Đồng Bảo An sẽ hoạch định kế hoạch việc áp dụng biện pháp quân sự với sự hổ trợ của Ban Tham Mưu Quân Sự. Ban Tham Mưu này do Hội Đồng Bảo An thiết lập, có nhiệm vụ giúp Hội Đồng về đường hướng chiến lược của lực lượng quân sự.
3.- Vượt ra ngoài định chế Liên Hiệp Quốc
Trong vụ Iraq, chính phủ Hoa Kỳ đã thất bại trong việc thuyết phục Hội Đồng Bảo An áp dụng biện pháp quân sự đối với Iraq. Những tài liệu do cơ quan tình báo Mỹ và Thủ Tướng Tony Blair của Anh đưa ra để chứng minh Iraq có võ khí giết người hàng loạt đã bị ban thanh tra LHQ coi là giả, không có giá trị. Trong bài giảng Mùa Chay hôm 9.3.2003, Đức Giáo Hoàng đã nói:
“Có hình ảnh nào hùng hồn hơn hình ảnh Chúa Kitô trước thử thách láo khoét xảo quyệt của Satan đối với sức mạnh sự thật chân chính của Lời Chúa.”
“Trong thâm sâu của mỗi con người được vang vọng tiếng nói của Thiên Chúa và cùng một lúc tiếng cám dổ xảo trá của quỷ dử. Tiếng nói của sự ác cám dổ con người với những sự tốt lành giả dối, lôi kéo tránh xa những sự tốt lành chân chính là vâng theo thánh ý Chúa, do đó làm cho nhiều người sống trong thất vọng.”
Không chứng minh được Iraq có tàng trử võ khí giết hại hàng loạt và lo sợ Nga và Pháp sẽ phủ quyết, Hoa Kỳ đã viện dẫn ba lý do sau đây để dành quyền đơn phương hành động:
a) Nghị quyết số 1441 ngày 8.11.2002
Hoa Kỳ cho rằng với Nghị quyết 1441, Hội Đồng Bảo An đã mặc thị cho phép xử dụng biện pháp quân sự rồi. Nhưng sự thật không phải như vậy. Nghị quyết này chỉ nói:“Hội Đồng đã báo động Iraq rằng Iraq sẽ phải đối phó với những hậu quả nghiêm trọng do kết quả của những sự tiếp tục vi phạm các nghĩa vụ của mìmh”.
Vã lại, muốn xử dụng biện pháp quân sự, Hiến Chương LHQ đòi hỏi phải thi hành đầy đủ các thủ tục quy định ở các điều khoản từ 41 đến 47 như đã nói trên. Các thủ tục này chưa hề được tiến hành nên không thể xử dụng được.
b) Quyền tự vệ (self-defence)
Hoa Kỳ cho rằng với quyền tự vệ, Hoa Kỳ được phép xử dụng quân sự đối với Iraq.
Lập luận này cũng sai lầm. Điều 51 của Hiến Chương LHQ chỉ cho phép các thành viên xử dụng quyền tự vệ (self-defence) đề chống lại các cuộc tấn công bằng võ khí cho đến khi Hội Đồng Bảo An đưa ra những biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế mà thôi. Các biện pháp được dùng để thực hiện quyền tự vệ phải được báo cáo cho Hội Đồng Bảo An ngay và các biện pháp đó không được ảnh hưởng đến thẩm quyền và trách nhiệm của Hội Đồng trong việc duy trì và vản hồi hòa bình và an ninh.
Iraq chưa hề tấn công Hoa Kỳ bằng võ khíỉ, nên Hoa Kỳ không có quyền tự vệ. Và dù có quyền tự vệ, Hoa Kỳ không thể vượt ra khỏi giới hạn của quyền này, tiến tới xâm lăng một nước khác.
c) Quyền ra tay trước
Trong bài diễn văn đọc trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ngày 12.9.2002, Tổng Thống Bush đã mô tả chế độ của Saddam Hunsein là “một sự nguy hiểm nghiêm trọng và tập trung” (a grave and gathering danger). Ông nói nếu Liên Hiệp Quốc không yểm trợ, Hoa Kỳ sẽ dành quyền ra tay trước (preemptive use of force) để tránh hậu họa. Vấn đề đặt ra là quyền ra tay trước này có phù hợp với luật pháp quốc tế không.
Luật gia Hugo Grotius, một sư phụ của ngành quốc tế công pháp, có nói rằng trong thế kỷ 17, việc giết kẻ đang chuẩn bị giết chốc được coi là hợp pháp. Nhưng theo Hiến Chương LHQ và Quốc Tế Công Pháp ngày nay, việc xử dụng vũ lực của một quốc gia đã bị hạn chế. Điều 2 (4) và điều 39 của Hiến Chương dành cho Hội Đồng Bảo An quyền “thẩm định về sự hiện hữu của bất cứ sự đe dọa hòa bình nào, sự phá vở hòa bình, hay hành động xâm lược” và “quyết định những biện pháp nào có thể được xử dụng... để duy trì hòa bình và an ninh thế giới”. Như vậy, khi chấp nhận Hiến Chương LHQ, Hoa Kỳ không còn quyền tự ý ra tay trước nữa. Nếu nước nào cũng làm như vậy, chắc chắn hòa bình và an ninh của thế giới sẽ bị phá vở.
4.- Tòa Án Quốc Tế không có súng
Thật ra, đây không phải là lần đầu tiên Hoa Kỳ đã mở cuộc tấn công quân sự vào nước khác mà không cần quyết định của Hội Đồng Bảo An. Năm 1999, Hoa Kỳ và các nước thuộc khối NATO cũng đã mở cuộc hành quân trừng phạt chế độ Nam Tư cũ không cần có quyết định của Hội Đồng Bảo An. Sau đó, vụ này đã bị đưa ra truy tố trước Tòa Án Quốc Tế Âu Châu (International European Tribunal). Trong phiên xử ngày 6.6.2000, Tòa xác nhận các tổ chức mở cuộc tấn công vào chế độ Nam Tư (cũ) đã vi phạm Luật Quốc Tế khi xâm lăng nước Nam Tư (cũ). Bản án viết:
“Căn cứ vào kết luận của hai ngày nghe trình bày, với bằng chứng được trình bày bới các nhân chứng khác nhau từ Liên Bang Cộng Hòa Nam Tư và nhiều chuyên viên quốc tế, và căn cứ vào tài liệu xuất phát từ 2 cuộc điều trần trước đó - tháng 10 năm 1999 ở Berlin và tháng 4 năm 2000 ở Hamburg - bồi thẩm đoàn của Tòa Án Quốc Tế Âu Châu này đã đi đến phán quyết như sau:
“Những người lãnh đạo các chính phủ và các bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng của các nước thành viên của NATO, những cấp chỉ huy của khối NATO, những thành viên của Quốc Hội Liên Bang của Cộng Hòa Liên Bang Đức Quốc là những người đã biểu quyết ủng hộ sự tham gia của quân lực Đức vào việc can thiệp bằng quân sự chống lại Liên Bang Cộng Hòa Nam Tư, bị coi là có tội vi phạm nghiêm trọng Luật Quốc Tế qua việc xâm lăng bằng quân sự được thi hành để chống lại Liên Bang Cộng Hòa Nam Tư từ ngày 24 tháng 3 đến ngày 10 tháng 6 năm 1999.”
Tuy nhiên, Tòa Án Quốc Tế Âu Châu không có công an, không có quân đội và không có súng, còn Hoa Kỳ và các nước trong khối NATO có quân lực và võ khí hùng mạnh và tối tân nhất thế giới, nên bản án nói trên không thể đem ra thi hành được! Thành ra, phán quyết của Tòa Án Quốc Tế chỉ có thể áp dụng cho những kẻ thất trận và kẻ yếu mà thôi.
Rồi đây Hoa Kỳ có thể bị đưa ra truy tố về tội xâm lăng Iraq như các nước trong khối NATO khi tấn công vào Nam Tư cũ hay không?
Để thực hiện chủ trương đơn phương hành động, Hoa Kỳ đã rút tên ra khỏi Công Ước Rome về Tòa Án Hình Sự Quốc Tế và còn buộc các quân gia có gia nhập Công Ước này phải miễn trừ việc đưa các công dân Mỹ ra trước Tòa Án Hình Sự Quốc Tế, nếu không sẽ cắt hết viện trợ, nên rất khó truy tố chính phủ Hoa Kỳ và các quân nhân Hoa Kỳ. Và dù Tòa Án Quốc Tế có truy tố và xét xử với bản án như vụ tấn công vào Nam Tư cũ đi nữa, bản án cũng không thể đem thi hành được.
5.- Cứu vãn định chế Liên Hiệp Quốc
Trong thực tế, chúng ta thấy từ ngày được thành lập đến nay, Hội Đồng Bảo An chỉ ngăn chận sự xâm lăng khi thấy có thể ngăn chận được và các cường quốc thường dùng Hội Đồng Bảo An để bảo vệ quyền lợi của họ. Những trường hợp khó khăn hay quyền lợi của các cường quốcỉ không bị xâm phạm, họ thường làm ngơ. Thí dụ: Trung Quốc chiếm Tây Tạng, Nga đem quân vào Hung Gia Lợi, Việt Nam đánh chiếm Cam-bốt, Trung Quốc xâm chiếm Việt Nam, Indonesia sát nhập Đông Timor... Hội Đồng Bảo An và các cường quốc chỉ lên tiếng phản đối qua loa rồi im luôn.
Tuy nhiên, Liên Hiệp Quốc cũng đã làm được nhiều việc hữu ích như ngăn chận nạn kỳ thị chủng tộc, chiến tranh diệt chủng, bảo vệ nhân quyền và răn đe những quốc gia muốn xâm phạm hòa bình và an ninh thế giới. Nay nếu Hoa Kỳ dành quyền hàng động không cần sự cho phép của Hội Đồng Bảo An, vai trò bảo của Liên Hiệp Quốc ngày càng lu mờ đi. Trước tình trạng đó, Tòa Thánh và nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới đang cố gắng bảo vệ vai trò chính đáng của Liên Hiệp Quốc để tổ chức này có thể bảo vệ công lý và hòa bình.
Ngoài ra, việc Tòa Thánh và các cường quốc như Pháp, Nga và Trung Quốc... chống lại việc Hoa Kỳ đơn phương mở cuộc tấn công bằng quân sự vào Iraq cũng giúp duy trì thế quân bình về quyền lực trên thế giới, không để Hoa Kỳ trở thành một chúa tể trên mặt đất, muốn làm gì thì làm.
Ngày Chúa Nhật 16/03/2003, trong khi Tổng Thống Bush của Hoa Kỳ, Thủ Tướng Tony Blair của Anh Quốc, và Thủ Tướng Tây Ban Nha José Maria Aznar họp thượng đỉnh ở một căn cứ quân sự ở quần đảo Azores, thì tại quảng trường thánh Phêrô ở Roma Đức Giáo Hoàng đã ngỏ lời với các tín hữu như sau:
“Chắc rằng, những vị có trách nhiệm chính trị tại Thủ Đô Baghdad, có bổn phận khẩn cấp cộng tác đầy đủ với cộng đoàn quốc tế, để lọai bỏ mọi nguyên do cho cuộc can thiệp quân sự. Cha muốn gởi lời kêu gọi tha thiết như sau: xin các vị hãy dành ưu tiên cho số phận của những người đồng hương.
“Cha cũng muốn nhắc lại cho những quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc, và đặc biệt cho những ai kết thành Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, rằng việc xử dụng sức mạnh là giải pháp cuối cùng, sau khi đã tận dụng mọi phương thế giải quyết ôn hoà, dựa theo những nguyên tắc thật rõ ràng của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc...
"Ai quyết định cho rằng đã dùng cạn hết tất cả những phương tiện ôn hoà mà Luật Pháp Quốc Tế cho phép, thì người đó lãnh lấy trách nhiệm trầm trọng trước mặt Thiên Chúa, trước lương tâm và trước lịch sử."
IV.- Bảo vệ những người dân vô tội
Vào đầu năm nay, trong buổi tiếp kiến các vị hồng y, giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân đang làm việc tại giáo triều Roma, Đức Giáo Hoàng nói rằng Chúa Kitô đang khóc vì chiến tranh và khủng bố đang gây đổ máu trên thế giới, đặc biệt tại Thánh địa và trong "các cuộc xung đột bị lảng quên." Ngài nói tiếp:
“Trước hết, làm thế nào chúng ta có thể quên được khuôn mặt của Chúa Kitô đang mang lấy những vết nhăn của đau đớn, của cuộc thuơng khó đích thực, do bởi những cuộc xung đột đang làm đổ máu tại nhiều vùng trên thế giới và do các cuộc xung đột đang đe dọa bùng nổ mãng liệt hơn nữa?”
“Trước cảnh tang thuơng đổ máu như vậy, Giáo hội không thiếu sót trong bổn phận nói lên tiếng nói của mình cho mọi người, và tiếp tục cầu nguyện.”
Đức Tổng Giám Mục Fernando Filoni, Khâm Sứ Tòa Thánh tại Iraq, đã quyết định ở lại Irak để biểu lộ sự thông cảm và chia sẻ với những thống khổ của các nạn nhân phải gánh chịu tang tóc. Ngài nói:
“Chúng tôi hiện đang ở đây và chúng tôi sẽ ở lại chính tại nơi đây, ngay cả khi chiến sự bùng nổ. Chúng tôi không có một lựa chọn nào khác, bao lâu còn được phép ở lại, chúng tôi sẽ lưu lại nơi đây.”
Hôm 18.3.2003, Đức Cha Jean Benjamin Sleiman, Tổng Giám Mục Baghdad, cho biết các thánh đường tại Iraq sẽ luôn mở cửa để dân chúng cần trú ngụ trong khi Liên quân Anh-Mỹ dội bom. Ngài nói: “Hôm nay thành phố chết, có cái yên lặng giả tạo, rất ít xe cộ, và hầu như không có hoạt động thương mại tài chánh nào”. Ngài cho biết, nhiều tín hữu có gốc gác ở miền quê đã trở về đó rồi. Họ đã rời thành phố, chạy trốn đi với những gì có thể mang theo được. Có lẽ họ sẽ được yên hơn tại miền quê. Ngài nói tiếp: “Tuy vậy, các giáo đường vẫn luôn mở cửa bất luận sự gì xẩy ra, để bảo đảm cho dân có chổ trú ẩn. Chính quyền đã phát thẻ lương thực, và vì thế trong vòng một tuần lễ thì không có trở ngại về đồ ăn”. Về cuộc chiến đang diễn ra, Đức Tổng Giám Mục có ý kiến:
“Tôi muốn nói cho Tổng Thống Bush rằng chiến tranh sẽ làm hại kẻ chiến thắng, chỉ có hòa bình mới là chiến thắng thực sự…. Trong một nghĩa nào đó, tất cả chúng ta đều là người Mỹ, chúng ta tất cả là công dân của thế giới. Tôi yêu quốc gia đó và dân chúng Mỹ, và tôi muốn họ hiểu những gì họ đang bắt tay vào”.
V.- Cội rễ sinh ra mọi điều ác
Nhìn lại, chúng ta thấy Hoa Kỳ đã mở cuộc chiến Iraq bằng mọi giá vì ba mục tiêu thiết bách sau đây của nước Mỹ:
(1) Giải quyết vấn đề kinh tế bằng chi phí quốc phòng.
(2) Thỏa màn quyền lợi của giới tư bản quốc phòng Hoa Kỳ.
(3) Đằn mặt và chế ngự khối Hồi Giáo.
Để thực hiện ba mục tiêu đó, Hoa Kỳ đã hành động vượt ra ngoài khuôn khổ luật pháp quốc tế mà Hoa Kỳ thường đòi buộc các nước khác phải tôn trọng, gây ra những hậu quả và những tiền lệ đáng tiếc.
Trong Sứ Điệp Mùa Chay 2003, Đức Giáo Hoàng nói rằng những lời thánh Phaolô nói với Timôthêô vẫn đúng cho mọi thời đại: "Thật thế, cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé" (1 Tim 6,10).”
Đức Giáo Hoàng nhắc lại một nguyên lý tự nó hiển nhiên, dầu thường bị xao lãng, đó là “cần tìm kiếm không phải lợi ích của một bộ phận nhỏ được ưu đãi, nhưng sự cãi thiện những điều kiện sống cho mọi người. Chỉ duy nhất trên nền tảng này mà người ta sẽ xây dựng trật tự quốc tế, thật sự in dấu công bình và tình liên đới, mà tất cả đều mong ước.”
Mặc dầu phản ứng của Tòa Thánh Vatican và Giáo Hội Công Giáo, của các quốc gia cũng như dân chúng khắp nơi trên trái đất không ngăn chận được sự quyết tâm của Hoa Kỳ, nhưng người ta hy vọng rằng những phản ứng đó sẽ giúp duy trì được thế quân bình về quyền lực trong thế giới ngày nay, cho Hoa Kỳ thấy rằng sau chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ đã trở thành vô địch nhưng không phải muốn làm gì thì làm. Hoa Kỳ phải tôn trọng Luật Pháp Quốc Tế, sự công bằng và quyền lợi của các nước khác như Hiến Chương Liên Hiệp Quốc đã quy định. Khắp nơi trong Giáo Hội, lời “Kinh Hòa Bình” luôn vang vọng:
Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.
Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm...
Lữ Giang