Năm Thánh Phaolô: Tự Do Chia Xớt Mới Là Tự Do Nhân Bản

Thứ Sáu vừa qua, Đức GH Bênêđíctô XVI đã tới thăm Đại Chủng Viện của Giáo Phận Rôma. Nhân cơ hội này, Đức Giáo Hoàng đã đọc một bài suy niệm dựa vào thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Ga-lát. Nguyên văn bài suy niệm như sau:

Thưa Đức Hồng Y,

Các bạn thân mến,

Đối với cha, có mặt tại chủng viện của mình, để thấy các linh mục tương lai của giáo phận mình, để hiện diện với chúng con dưới biểu tượng Đức Mẹ Cậy Trông, luôn là một niềm vui lớn. Chúng ta tiến bước với Đức Mẹ, Đấng hằng trợ giúp và đồng hành với chúng ta, và là Đấng thực sự làm chúng ta tin tưởng vững chắc luôn được ơn thánh Chúa nâng đỡ.

Giờ đây, ta hãy cùng nhau xét xem Thánh Phaolô muốn nói với chúng ta điều chi qua bản văn này: “Anh chị em được mời gọi tiến tới tự do”. Thời đại nào cũng thế, từ khởi thủy lịch sử và nhất là trong thời hiện đại, tự do luôn là giấc mơ vĩ đại của loài người. Ta biết rằng bản văn của Thư Gửi Tín Hữu Ga-lát này đã gợi hứng rất nhiều cho Luthêrô, và kết luận của ông là: Luật đan viện, phẩm trật Giáo Hội, huấn quyền, thẩy đều là cái ách nô lệ mà chính ông có nhiệm vu phải giải thoát. Tiếp theo đó, thời Ánh Sáng đã hoàn toàn được điều hướng, được thẩm thấu bởi khát vọng tự do này, một nền tự do mà người ta nghĩ là đã đạt được rồi. Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác-xít cũng tự cho mình là con đường dẫn tới tự do.

Đêm nay, ta hãy tự hỏi: Tự do là gì? Ta được tự do ra sao? Thánh Phaolô giúp ta hiểu cái thực tại phức tạp của tự do là gì bằng cách lồng ý niệm này vào ngữ cảnh phân chia căn bản giữa nhân học và thần học. Ngài viết: “Anh chị em đừng sử dụng tự do của mình làm cơ hội cho xác thịt, nhưng bằng tình yêu, anh chị em hãy làm đầy tớ cho nhau”. Cha viện trưởng đã nói với chúng ta rằng “xác thịt” không phải là thân xác, nhưng trong ngôn ngữ Thánh Phaolô, nó chính là việc tuyệt đối hóa cái tôi, cái tôi từng muốn là tất cả và có mọi sự cho chính mình. Nói tắt, cái tôi tuyệt đối, một cái tôi không chịu tùy thuộc điều gì, không chịu tùy thuộc ai, xem ra mới thực sự chiếm hữu được tự do. Tôi tự do nếu tôi không tùy thuộc ai, nếu tôi có thể làm mọi điều tôi muốn. Tuy nhiên, chính việc tuyệt đối hóa cái tôi này là “xác thịt” nghĩa là điều hạ giá con người, chứ không phải là chiến thắng của tự do: chủ nghĩa duy tự do không phải là tự do, mà đúng ra là thất bại của tự do.

Và Thánh Phaolô đã mạnh dạn đưa ra một nghịch lý khá mạnh: “bằng tình yêu, anh chị em hãy làm đầy tớ cho nhau” (tiếng Hy Lạp: douleuete); nói cách khác, nghịch lý thay, tự do phải được thể hiện trong phục vụ: ta chỉ thực sự tự do nếu ta trở thành đầy tớ cho nhau. Và thế là Thánh Phaolô đặt trọn vấn đề tự do dưới ánh sáng chân lý về con người. Thu gọn mình vào xác thịt rõ ràng là nâng mình lên ngang hàng thần minh; câu nói “Ta, con người mà thôi” chỉ dẫn khởi một láo khóet. Bởi vì, thực sự ra, không phải như thế: Con người không phải là một tuyệt đối thể, một hữu thể có khả năng tự cô lập mình và hành xử tùy theo ý chí riêng của mình. Điều ấy đi ngược lại chân lý về con người của chúng ta. Sự thật trước nhất là: chúng ta chỉ là tạo vật, tạo vật của Thiên Chúa và sống trong liên hệ với Đấng Hóa Công. Ta là các hữu thể có lý trí, và chỉ khi nào chịu nhìn nhận mối liên hệ ấy, ta mới bước vào chân lý, còn không, ta sẽ rơi vào lầm lạc và cuối cùng bị lầm lạc ấy hủy hoại.

Ta là tạo vật, do đó tùy thuộc Đấng Hóa Công. Thời Ánh Sáng, nhất là đối với chủ nghĩa vô thần, sự tùy thuộc này xem ra giống như một điều người ta cần phải tự giải thoát ra khỏi. Tuy nhiên, trên thực tế, việc tùy thuộc kia chỉ tệ hại nếu Đấng Thiên Chúa Hóa Công kia tàn bạo, chứ không phải là Đấng nhân lành, nếu Người cũng giống các bạo chúa phàm trần. Còn nếu Đấng Hóa Công ấy yêu thương ta và sự tùy thuộc của ta hàm nghĩa thuộc về bình diện yêu thương của Người, thì thực ra, sự tùy thuộc kia chính là tự do. Thực sự, ta ở trong tình yêu của Tạo Hóa, ta được kết hợp với Người, với toàn bộ thực tại của Người, với toàn bộ quyền năng của Người. Bởi vậy, điều đầu tiên là đây: là tạo vật nghĩa là được Đấng Tạo Hóa yêu thương, là ở trong mối liên hệ yêu thương Người hàng ban cho ta, bằng tình yếu ấy, Người luôn cấp dưỡng cho ta. Từ đó, trước nhất, ta rút tỉa được sự thật về chính chúng ta, một sự thật cùng một lúc mời gọi ta bước vào yêu thương.

Và chính vì thế, thấy Thiên Chúa, quy hướng về Thiên Chúa, biết Thiên Chúa, biết thánh ý Thiên Chúa, lồng ta vào ý Người, nghĩa là vào tình yêu của Người, là càng ngày càng bước vào địa hạt của chân lý. Và con đường dẫn tới việc nhận biết Thiên Chúa này, nhận biết mối liên hệ yêu thương với Thiên Chúa, là cuộc mạo hiểm hết sức phi thường trong cuộc sống Kitô hữu của ta: bởi vì trong Chúa Kitô, ta nhận biết dung mạo Thiên Chúa, dung mạo Đấng Thiên Chúa vốn yêu thương ta đến chết trên thánh giá, tự hiến trọn bản thân mình.

Tuy nhiên, mối liên hệ có tính tạo vật cũng bao hàm một loại liên hệ thứ hai: Ta ở trong mối liên hệ với Thiên Chúa đã đành, nhưng, cùng một lúc, trong tư cách gia đình nhân loại, ta cũng ở trong mối liên hệ với nhau nữa. Nói cách khác, tự do của con người một đàng phải nằm trong niềm hân hoan và địa hạt vĩ đại của tình yêu Thiên Chúa, đàng khác, nó cũng bao hàm việc phải trở nên cùng một sự với người khác và vì người khác. Không thể có tự do mà lại chống lại người khác được. Nếu tôi tuyệt đối hóa cái tôi, tôi sẽ trở thành kẻ thù của người khác, chúng ta không thể cùng sống chung trên trái đất này với nhau nữa và trọn cuộc sống ta sẽ trở thành tàn bạo và thất bại. Chỉ có thứ tự do chia xớt (shared freedom) mới là tự do nhân bản; cùng nhau hiện hữu, ta mới bước vào hòa tấu khúc tự do được.

Do đó, đây là một điểm hết sức quan trọng khác: chỉ khi nào chịu chấp nhận người khác, bằng cách chấp nhận các giới hạn rõ ràng đòi tự do của tôi phải tôn trọng người khác, chỉ khi nào tự lồng tôi vào mạng lưới tùy thuộc lẫn nhau vốn tạo ra chúng ta, và sau cùng, chỉ khi nào có được một gia đình nhân loại, tôi mới bước trên con đường tiến tới giải phóng chung.

Ở đây, ta thấy một yếu tố rất quan trọng. Đâu là thước đo việc chia xớt tự do này? Ta biết rằng con người cần có trật tự và luật lệ, để có thể thực thi tự do của mình, một thứ tự do sống chung. Nhưng làm sao tìm ra thứ trật tự công chính ấy, trong đó, không ai còn bị áp bức, nhưng mọi người đều có dịp đóng góp để tạo nên loại hòa điệu tự do ấy? Nếu không có sự thật chung nào về con người, thì chỉ còn lại chủ nghiã duy nghiệm (positivism) và người ta sẽ có cảm giác rằng điều ấy bị áp đặt bằng bạo lực. Do đó mà có sự nổi loạn chống lại trật tự và luật lệ như thể chúng chỉ là một lối nô dịch con người.

Tuy nhiên, nếu ta tìm được trật tự của Thiên Chúa trong bản tính ta, trật tự của sự thật vốn đem lại cho từng hữu thể vị trí riêng của họ, thì trật tự và luật lệ thực sự có thể trở thành một khí cụ của tự do, chống lại mọi hình thức nô dịch của chủ nghĩa vị kỷ. Làm đầy tớ hay phục vụ lẫn nhau trở thành một khí cụ của tự do, và ở đây, ta có thể bao gồm cả một nền triết lý về chính trị phù hợp với học thuyết xã hội của Giáo Hội, một học thuyết giúp ta tìm được trật tự chung nói ở đây, tức thứ trật tự mang đến cho mỗi người vị trí riêng của họ trong cuộc sống chung của nhân loại. Cho nên, thực tại đầu tiên cần được tôn trọng chính là chân lý: Tự do mà ngược với chân lý thì không còn là tự do nữa. Làm đầy tớ cho nhau đem lại lãnh địa chung cho tự do.

Và rồi Thánh Phaolô viết tiếp: “Vì toàn bộ luật lệ được nên trọn trong câu này: ‘Ngươi hãy yêu thương người lân cận ngươi như chính mình ngươi’”. Theo lời quả quyết ấy, mầu nhiệm Thiên Chúa Nhập Thể đã xuất hiện, mầu nhiệm Chúa Kitô đã xuất hiện, Đấng trở thành luật lệ sống động trong chính cuộc sống, cái chết và sự sống lại của mình.

Ngay tức khắc, lời đầu tiên ta vừa đọc “Anh chị em được mời gọi tiến tới tự do” là có ý chỉ về mầu nhiệm này. Ta vốn được Phúc Âm mời gọi, ta vốn được mời gọi thực sự trong phép rửa, để tham dự vào cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô, và do đó, vượt qua “xác thịt”, vượt qua chủ nghĩa vị kỷ, mà hiệp thông với Chúa Kitô. Và như thế ta được ở trong sự viên mãn của luật lệ.

Có lẽ các con hết thẩy đều biết lời lẽ tốt đẹp của Thánh Augustinô. Ngài nói rằng: “Hãy yêu rồi muốn làm gì thì làm” (Dilige et fac quod vis). Điều Thánh Augustinô nói quả là chân lý nếu ta thực sự hiểu được ý nghĩa của chữ “yêu”. “Hãy yêu rồi muốn làm gì thì làm” nhưng ta phải thực sự hiệp thông sâu sắc với Chúa Kitô, phải đồng hóa ta với cái chết và sự sống lại của Người, phải nên một với Người bằng cách hiệp lễ thân xác Người. Chỉ khi nào ta biết tham dự các bí tích, lắng nghe Lời Chúa, lắng nghe Ý Thiên Chúa, thì luật lệ của Người mới thực sự đi vào ý chí ta, ý chí ta mới đồng nhất với ý Người, các ý chí ấy mới trở nên một ý chí duy nhất và nhờ thế ta mới thực sự tự do, ta mới thực sự làm điều ta muốn, vì ta yêu thương với Chúa Kitô, ta yêu thương trong chân lý và với chân lý.

Cho nên, ta hãy cầu xin để Chúa giúp ta trên con đường vốn khởi đầu từ phép rửa này, con đường đồng nhất với Chúa Kitô, một đồng nhất luôn được thể hiện trong Phép Thánh Thể. Trong Lời Nguyện Thánh Thể thứ ba, ta đọc rằng: “Để chúng con nên một thân xác và một tinh thần trong Chúa Kitô”. Đây là giây phút trong đó, nhờ Phép Thánh Thể và nhờ việc ta thực sự tham dự vào mầu nhiệm cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô, ta trở nên một tinh thần với Người, ta đồng nhất với ý Người, và nhờ thế, ta thực sự đạt tới tự do.

Sau lời này “Lề luật đã nên trọn”, lời độc đáo đã trở thành thực tại trong hiệp thông với Chúa Kitô, mọi khuôn mặt các thánh từng tham dự vào sự hiệp thông này với Chúa Kitô đã xuất hiện phía sau Người, trong sự hiệp nhất hữu thể, trong sự hiệp nhất với ý của Người. Trước nhất là Đức Nữ Trinh trong đức khiêm cung, đức tốt lành và đức ái của ngài. Đức Nữ Trinh ban cho ta lòng tin tưởng, ngài cầm tay ta, hướng dẫn và giúp đỡ ta trên con đường hiệp nhất ta với ý Thiên Chúa, như ngài từng làm từ giây phút đầu tiên lúc ngài nói lên sự hiệp nhất ấy qua tiếng “xin vâng”.

Và cuối cùng, sau những điều tốt đẹp ấy, thư Thánh Phaolô một lần nữa nhắc tới tình huống hơi đáng buồn của cộng đồng Ga-lát, khi ngài viết: “Nhưng nếu anh chị em cắn xé lẫn nhau, thì hãy chú ý điều này anh chị em sẽ tiêu diệt lẫn nhau…anh chị em hãy bước theo Chúa Thánh Thần”. Đối với cha, xem ra trong cộng đồng này, một cộng đồng không còn bước theo con đường hiệp thông với Chúa Kitô nữa, nhưng đã theo luật lệ “xác thịt” bên ngoài, tất nhiên sẽ xuất hiện nhiều mâu thuẫn, nên Thánh Phaolô đã phải nói: “anh chị em đã trở nên thú dữ, cắn xé lẫn nhau”. Ngài có ý nói tới những mâu thuẫn phát sinh do việc đức tin đã thoái hóa trở thành chủ nghĩa duy thức (intellectualism) và đức khiêm cung bị thay thế bởi tính kiêu căng chỉ muốn hay hơn người khác.

Ta thấy rõ rằng cả ngày nay nữa vẫn có những điều tương tự như thế khi, thay vì tự lồng mình vào cuộc hiệp thông với Chúa Kitô, vào Nhiệm Thể Người là Giáo Hội, mỗi người lại chỉ muốn hay hơn người khác và với lòng kiêu căng trí thức, chỉ muốn coi mình là nhất hạng. Và do đó các tranh chấp mâu thuẫn đã phát sinh, đầy tính hủy hoại, biếm họa cả Giáo Hội, mà (bản chất) luôn phải là một linh hồn, một trái tim.

Ngày nay, trong lời cảnh cáo của Thánh Phaolô, ta nên tìm ra lý do để xét lại lương tâm mình: đừng nên nghĩ cách hay hơn người khác, nhưng hãy gặp gỡ nhau bằng đức khiêm hạ của Chúa Kitô, bằng sự khiêm hạ của Đức Nữ Trinh, hãy thực hành việc vâng phục đức tin. Chính bằng cách đó, địa hạt vĩ đại của chân lý và tự do trong yêu thương sẽ thực sự mở ra cho cả chúng ta nữa.

Sau cùng, cha muốn cảm tạ Thiên Chúa vì Người đã cho ta thấy dung mạo Chúa Kitô, vì Người đã ban cho ta Đức Nữ Trinh, các thánh, vì Người đã kêu gọi ta nên một thân xác, một tinh thần với Người. Và ta hãu cầu xin để Người giúp ta biết tự lồng mình nhiều hơn nữa vào sự hiệp thông với ý Người, để ta tìm được yêu thương và niềm vui trong tự do.