Thánh Phaolô, một người Do Thái trong Chúa Kitô

Don Romano Penna là một chuyên viên nổi tiếng quốc tế về Tân Ước, nhất là về toàn bộ trước tác của Thánh Phaolô và về các nguồn Kitô giáo. Sau 25 năm giảng dạy tại Đại Học Giáo Hoàng Latran, mới đây ngài đã về hưu. Tác phẩm cuối cùng của ngài là bộ bình luận mới về Thư Rôma gồm ba cuốn: hai cuốn đầu đã xuất bản, cuốn thứ ba sẽ xuất bản nay mai. Ngày 30 tháng Năm vừa qua, Cha Penna có dành cho Lorenzo Cappelleti của tờ “30 Jours dans L’Église et dans le monde” một cuộc phỏng vấn. Nhân cơ hội này, cha đã đề cập tới tính thời sự của một số chủ đề trong tư tưởng của Thánh Tông Đồ Dân Ngoại như công chính hóa, việc trở lại và sứ mệnh truyền giáo.

Người sáng chế hay người truyền đạt

Nhiều người cho rằng người sáng chế ra Kitô giáo không phải là Chúa Giêsu mà chính là Thánh Phaolô. Cha Penna cho rằng suy nghĩ như thế không đúng. Lý do thứ nhất là giữa Chúa Giêsu trần gian và Thánh Phaolô, ta thấy có biến cố phục sinh, một biến cố ảnh hưởng rất nhiều tới sứ điệp, tới việc lên khuôn phúc âm nơi các cộng đoàn tiên khởi của Kitô giáo. Khi sống trên dương gian, Chúa Giêsu không nói chi nhiều về cái chết cũng như sự sống lại của Người. Chúa chú trọng tới việc giảng dạy về nước trời. Sau Phục Sinh, số phận và lịch sử bản vị của Chúa Giêsu đã đi vào tâm điểm việc công bố của các đồ đệ. Các đồ đệ này nhắc tới Người không phải chỉ như một bậc thầy, một tiên tri, những khuôn mặt xét cho cùng sẽ dẫn ta trở về giai cấp ưu tú đương thời của Do Thái, nhưng họ tích nhập khuôn mạo Chúa Giêsu vào cái khung có tính lịch sử và cứu độ nay đã chín mùi, đến độ khuôn mạo ấy đã trở thành khuôn mạo Đấng Chịu Đóng Đinh nhưng đã sống lại với một định hướng nhất định: phục vụ người khác. Rồi, giữa Chúa Giêsu và Thánh Phaolô, ta thấy có Giáo Hội, cộng đồng Kitô giáo tiên khởi. Cộng đồng này vốn đã định nghĩa Chúa Giêsu như đấng “đã chịu chết vì tội lỗi chúng ta”. Thánh Phaolô nào có sáng chế chi. Trước nhất, ngài chỉ là chứng nhân của Thánh Truyền. Ngài không làm điều gì khác hơn là lặp lại truyền thống có trước. Thí dụ, với tín hữu Côrintô, ngài cho hay: “Như thế, trước nhất tôi truyền lại cho anh em những gì chính tôi đã tiếp nhận nghĩa là Chúa Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Thánh Kinh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đúng như lời Thánh Kinh…” (1Cor 15:3).

Công chính hóa

Tuy nhiên, phải nhận một điều, sở dĩ có suy nghĩ trên, là vì tính độc đáo, hay đúng hơn, tính thiên tài của Thánh Phaolô trong việc giải thích Phúc Âm. Theo cha Penna, tính độc đáo này phản ảnh phần lớn trong sứ điệp công chính hóa dựa vào đức tin. Con người trở nên công chính trước mặt Thiên Chúa, họ được Thiên Chúa coi là công chính hay thánh thiện (nên nhớ, trong các thư của mình, 25 lần Thánh Phaolô gọi các tín hữu là thánh) không phải nhờ một đóng góp tự lập vào sự thánh thiện ấy mà nhờ biết tiếp nhận một cách khiêm hạ và hân hoan sự can thiệp từ bên ngoài (ab extra), tức sự can thiệp của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô. Đó mới là điều làm con người nên công chính, tức việc dùng đức tin mà tiếp nhận điều Thiên Chúa đã làm cho tôi. Trên bình diện nguyên ủy Kitô giáo, đây không phải là một quan niệm tạo hòa, điều tạo hòa chính là đức tin vào Chúa Giêsu Kitô, tin Người là Đấng Được Xức Dầu và đồng thời là Con Thiên Chúa. Nhưng trên hết, điều người ta gọi là phương thức của người Kitô hữu gốc Do Thái (filon judéo-chrétien) làm cho đức tin vào Chúa Giêsu Kitô có thể hiện diện chung với phần đóng góp bản thân. Trong Thư Thánh Giacôbê (Thánh Giacôbê là một trong các đại biểu của dòng tư duy này), ta rõ ràng đọc thấy rằng con người nên công chính không phải chỉ nhờ đức tin mà thôi. Lễ tế Ixaác của Abraham đã được đưa ra làm điển hình, nhưng với một thứ tự đảo ngược, dựa theo Sách Thánh. Thực vậy, trong Sách Sáng Thế, Lễ Tế Ixaác được tường thuật ở chương 22, sau khi Sách ấy đã nói ở chương 16 rằng nhờ tin, Abraham đã trở nên công chính, điều đã được Thánh Phaolô trích dẫn ở chương 4 trong thư gửi tín hữu Rôma. Như thế, sự công chính hóa này không bị điều kiện hóa bởi đức vâng lời hiệu nghiệm, là điều được kể trong chương 22 của Sách Sáng Thế. Tựu chung, quan điểm của người Kitô hữu gốc Do Thái hệ ở việc đảo ngược này.

Trở lại

Căn cứ vào điều trên, phải chăng người Kitô hữu gốc Do Thái muốn đi ngược lại cái nhìn của Thánh Phaolô? Theo cha Penna, Thánh Phaolô không biết gì tới danh xưng “Kitô hữu”, danh xưng này không hiện hữu vào thời của ngài. Theo Thánh Luca, các môn đệ Chúa Giêsu được gọi là Kitô hữu lần đầu ở Antiôkia; nhưng Sách Tông Đồ Công Vụ (11:26) đã ấn định sai niên biểu và cho rằng việc đó xẩy ra năm 30. Trên thực tế, Thánh Phaolô không hề biết tới danh xưng ấy. Ngài vẫn coi mình là người theo Do Thái giáo, nhưng là một người Do Thái trong Chúa Kitô. Chính vì lý do này, ngài không bao giờ dùng chữ trở lại. Ngài không phải là người trở lại. Người Do Thái không trở lại. Đó cũng là nhận định nổi tiếng của đại giáo trưởng Eugenio Zolli của Rôma. Ông được rửa tội gia nhập Giáo Hội Công Giáo sau Thế Chiến Hai, theo ông “Tôi không phải là người trở lại, tôi là người nay đã tới nơi”; vì người trở lại là người quay lưng lại với chính quá khứ của mình, mà người Do Thái là người không quay lưng, ông ta chỉ tiếp tục đường đi của mình. Đã đành, Thánh Phaolô có bước vượt qua. Trong thư Philiphê 3:7, ngài cho hay: “những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Chúa Kitô, tôi coi là thiệt thòi”. Các mối lợi đó hệ ở điều gì? Hệ ở việc tuân theo lề luật theo kiểu Biệt Phái (không theo nghĩa tầm thường), nghĩa là tuân phục Lề Luật cách hoàn toàn, trọn vẹn, đến độ coi nó như điều kiện để được công chính hóa trước mặt Thiên Chúa. Điều ấy đã được Thánh Phaolô vượt qua. Nhưng Israel vẫn luôn là điểm quy chiếu của ngài. Chỉ cần đọc lại các chương 9-11 thư gửi tín hữu Rôma cũng đủ sáng tỏ: dân ngoại được tháp vào Israel; cây sẽ thánh nếu rễ nó thánh (xem Rm 11:16 và tiếp theo). Chúng ta sống nhờ sự thánh thiện phái sinh (dérivée), không phải nguyên sinh mà thứ sinh (non pas primaire mais secondaire), và điều đó được nhìn bằng cái nhìn có tính lịch sử cứu độ. Theo cha Penna, Kitô giáo chỉ là một dị bản của Do Thái Giáo. Cho nên những ai tranh cãi chống Do Thái Giáo hay những ai thực hiện các hành vi phá hoại chống lại người Do Thái Giáo quả thật sai lầm: những người như thế không hiểu chút gì về danh nghĩa Kitô hữu của họ.

Tông đồ dân ngoại

Theo thư gửi tín hữu Êphêsô, chương 3 câu 6, mầu nhiệm mạc khải hệ ở sự kiện này là “trong Chúa Giêsu Kitô và nhờ Tin Mừng, dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa”. Và thánh Phaolô nói thêm ở câu 7: “Tôi đã trở nên thừa tác viên của Tin Mừng ấy”. Như thế phải chăng tính toàn diện trong mầu nhiệm Kitô giáo, về nội dung, chính là việc dân ngoại tham dự vào gia tài các lời hứa đã ngỏ với dân Do Thái? Theo cha Penna, nhiều chuyên gia Thánh Kinh và cả chính cha nữa vốn không coi thư gửi tín hữu Êphêsô là thư của Thánh Phaolô lịch sử. Nhưng dù sao, chủ đề này đặc trưng vẫn là chủ đề của Thánh Phaolô và vốn là chủ đề chính trong các thư mà ai cũng nhận là của Thánh Phaolô. Trong thư gửi tín hữu Galát (chương 2), ta đã thấy chủ đề ấy khi đề cập tới công đồng Giêrusalem. Trong thư này, một phân biệt rõ ràng đã được đưa ra: các ông Phêrô, Gioan và nhiều vị khác có nhiệm vụ rao giảng cho người cắt bì, còn Phaolô và Banaba thì rao giảng cho dân ngoại. Đó chính là đặc điểm của Thánh Phaolô. Ngài đã hiến mạng sống mình cho sứ vụ ấy. Và chủ yếu chính vì điều ấy mà ngài bị hiểu lầm. Chính vì sự cởi mở đó mà về phía người Kitô hữu gốc Do Thái, chứ không phải về phía người Do Thái Giáo, người ta đã chống đối ngài (trong thư này, ngài đề cập thẳng tới những người chống đối). Cũng trong thư này, Thánh Phaolô tuyên bố “chúng ta không phải là con cái người nô lệ mà là con cái người đàn bà tự do” (4:31) có ý ám chỉ tới hai người vợ của Abraham; thế nhưng các Kitô hữu mà thánh nhân gửi thư cho, tức các người ở Galát, đều là người dân ngoại, chứ không phải là người Do Thái. Chiến dịch vĩ đại do Thánh Phaolô thực hiện không phải là tách rời Tin Mừng ra khỏi Israel mà là mở cho mọi người ở bên ngoài Israel khả thể trở thành điều xưa nay vốn được coi là đặc quyền của một mình Israel, tức dân Thiên Chúa, dân Giao Ước (thánh nhân chỉ nói là dân). Đến độ, trong thư gửi tín hữu Rôma (9:25), Thánh Phaolô còn trích dẫn câu của tiên tri Hôsê: “Dân trước đây không phải dân của Ta, Ta sẽ gọi là Dân của Ta” và áp dụng câu đó cho dân ngoại, cho tất cả chúng ta, những người không thuộc gốc Do Thái. Đó chính là công trình của Thánh Phaolô trên cả bình diện chú giải lẫn bình diện truyền giáo; vì tất cả những điều ấy cho thấy một hiến thân toàn diện có tính sinh động và cụ thể đối với mọi phố thị bên ngoài Israel được thánh nhân đặt chân tới. Ngài không rao giảng ở chính Israel. Và tại Nhã Điển, ngài đã rao giảng Chúa Giêsu Kitô ở những địa điểm nào? Ở hội trường, công viên, ở đồi Aréopage, nơi ngài tiếp mọi tầng lớp của xã hội đương thời, bên ngoài bầu khí giam hãm của không gian tôn giáo. Chính tại những nơi như thế, ngài tiếp xúc với những người ở xa, thật xa so với Israel, như chính ngài đã viết trong thư gửi tín hữu Êphêsô (2:13): “Trước kia anh em là những người ở xa, nhưng nay, trong Chúa Giêsu Kitô, nhờ máu Chúa Kitô đổ ra, anh em đã trở thành những người ở gần”. Chính những người ở xa, những người khác, những người bị Israel coi là người khác, người dị biệt, không phải là dân, mà là người ngoài (gentes) (ở Israel, người ta phân biệt một bên là “dân”, một bên là “người ngoài”), đã được Thánh Phaolô hiến mình cho: công trình của ngài là đó. Ta có thể nói được rằng dưới mắt Thánh Phaolô, Chúa Giêsu Kitô không tượng trưng cho điều gì khác ngoài việc loại bỏ khoảng phân cách giữa người ngoài và người Do Thái. Thánh Phaolô có nhiều điều để nói về những rào cản đã được dựng nên cho sự phân cách ấy.

Lệnh truyền truyền giáo

Cũng có người cho rằng Thánh Phaolô không nhắc gì tới lệnh truyền truyền giáo của chính Chúa Giêsu, mặc dù truyền thống Kitô giáo nguyên thủy cho thấy nhiều chứng cớ về lệnh truyền này. Theo cha Penna, ý thức truyền giáo trong Giáo Hội là một vấn đề khá phức tạp. Vì trước nhất, người ta phải tự hỏi liệu Chúa Giêsu lịch sử có bao giờ đề cập tới lệnh truyền truyền giáo hay không. Bởi thực ra rõ ràng đã có lệnh ngược lại: “Tốt hơn, hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel” (xem Mt 10:6 và 15:24). Chính Chúa Giêsu, trong suốt cuộc đời dương thế của Người, cũng chỉ hoạt động bên trong biên giới Israel, không như Giôna có lúc đã tới hẳn Ninivê. Chúa Giêsu không tới Ninivê, cũng không tới Nhã Điển, Rôma, Alexandria của Ai Cập, là những địa điểm khá gần. Cho nên cần phải giải thích lý do tại sao, sau Lễ Phục Sinh, Giáo Hội lại cảm thấy có bổn phận phải rao giảng cho dân ngoại (không ngay tức khắc, vì trong Công Vụ 10, đối với Thánh Phêrô, phải tới rửa tội cho viên bách quản Cornêliô quả là một vấn đề: điều này dĩ nhiên chưa là thành phần trong ý thức tông đồ lúc sơ khai). Không phải là điều ngẫu nhiên nếu những lời ta đọc ở cuối phúc âm Mátthêu: “Vậy hãy ra đi, làm cho muôn dân trở thành môn đệ, hãy rửa tội cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần” (xem Mt 28:19 và tiếp theo), chỉ là lời của Chúa Giêsu phục sinh chứ không phải là lời của Chúa Giêsu dương thế… Cho nên người ta có thể đưa ra giả thuyết cho rằng chúng là lời của soạn giả, của phúc âm gia hay của Giáo Hội vị này, một giáo hội có tính Kitô giáo gốc Do Thái, miễn cưỡng lắm mới chịu mở giáo hội tại Antiôkia… Thành thử Thánh Phaolô không trích dẫn được lời nào của Chúa Giêsu nói về sự cần thiết của truyền giáo. Tuy nhiên, nếu ta tham chiếu chương 9 sách Tông Đồ Công Vụ, là trình thuật đầu tiên về cuộc gặp gỡ trên đường Đamát, ta sẽ thấy Chúa Giêsu nói với Anania về Thánh Phaolô: “Người này là dụng cụ Ta chọn để mang danh Ta đến trước mặt dân ngoại, vua chúa và con cái Israel…”. Ơn gọi của ngài là ơn gọi đích danh được Banaba và một loạt các cộng sự viên chia sẻ: Timôtê, Xila, Apôlô, Titô và tất cả những người được nhắc tới ở chương XVI trong thư gửi tín hữu Rôma, những người chịu mệt lả vì Chúa Kitô, hiến trọn cuộc đời cho Phúc Âm và công việc truyền giáo. Như thế việc truyền giáo có nghĩa gì? Điều ấy có nghĩa người ta coi trọng đức tin vào Chúa Giêsu phục sinh, vì chính Chúa Giêsu phục sinh đã bẻ gẫy mọi con đê, chính Phục Sinh đã phá hết mọi đê ngăn cản và đã hoàn tất một công trình lớn lao, một kỳ công…Càng nhận thức được giá trị nổ bùng của Phục Sinh, người ta càng cảm nghiệm được nó. Đây là điều quan trọng. Thánh Phaolô không nói chi về Chúa Giêsu trần thế, ngài chỉ nói về Chúa Giêsu chịu đóng đinh và đã sống lại. Kitô học của Thánh Phaolô hoàn toàn xoay quanh biến cố phục sinh, xoay quanh hai khía cạnh của biến cố phục sinh, tức thánh giá và sự sống lại, một biến cố có tính nổ bùng, vượt quá bên kia biên giới Israel. Mặt khác, ý thức cho rằng Chúa Giêsu đến để hủy bỏ các hy lễ đã trở thành một truyền thống trong các trước tác của người Kitô hữu gốc Do Thái không phải là Thánh Phaolô. Nếu Người đến để hủy bỏ hy lễ, thì điều đó có nghĩa là bản sắc Người vượt quá các nền phụng vụ vốn được cử hành trong các đền thờ và nó là cái gì vượt ra ngoài phạm trù thánh thiêng, mở cửa chào đón mọi phạm trù phàm tục (profane), vâng đúng là phạm trù phàm tục; mà phàm tục thì có mặt khắp nơi. Là phàm tục, bất cứ điều gì nằm ở bên ngoài Israel, một dân vốn được định nghĩa là thánh, điều mà “những người khác” không có. Nhưng, theo Thánh Phaolô, biến cố phục sinh sở dĩ có là vì chính “những người khác” ấy.

Tính thời sự

Con người và sứ điệp của Thánh Phaolô vẫn có tính thời sự cho đến tận nay. Đó là một sứ điệp của điều yếu tính, một sứ điệp nhằm thu gọn Kitô giáo vào điều cốt yếu này: gắn bó bản thân với Chúa Giêsu Kitô. Không còn điều gì khác; và trong “con người khác” này, tôi đặt để mọi sự và mọi người, từ thiên thần đến hạ nhân. Ở trong Chúa Kitô (dù sao, đây cũng là ngôn từ của Thánh Phaolô: “ở trong Chúa Kitô”, hay “trong Chúa”) có nghĩa là ở trong Thiên Chúa. Cho nên, phải thu gọn vào điều cốt yếu. Điều ấy hàm nghĩa phải tỉa bớt khá nhiều điều. Nói Thánh Phaolô là nói Chúa Giêsu Kitô. Trên bình diện Giáo Hội, cả định chế nữa. Dĩ nhiên, vào thời Thánh Phaolô, Giáo Hội khá nhẹ nhàng trong tư cách định chế, chưa nặng nề như nhiều thế kỷ sau. Mà sở dĩ Giáo Hội nhẹ về định chế được như thế, trước nhất là vì bản sắc giáo hội của Kitô giáo được hiểu như sự kiện tất cả đều là anh em, (một từ ngữ được dùng tới dùng lui tới 112 lần trong toàn bộ trước tác của Thánh Phaolô), vâng mọi người đều trên cùng một bình diện. Và cuối cùng, ai hiến mình phục vụ đều thấy mình ở dưới. Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Êphêsô, Thánh Phaolô viết: “Mà Apôlô là chi? Phaolô là chi? Chỉ là các tôi tớ…Tất cả đều thuộc về anh em, dù đó là Phaolô, là Apôlô, là Kêpha, là thế gian, là sự sống…Nhưng anh em thuộc về Chúa Kitô, và Chúa Kitô thuộc về Thiên Chúa” (xem 1Cor 3:5 và tiếp theo). Không một dòng nào nói từ trên xuống dưới. Mà là từ dưới lên trên: “Tất cả thuộc về anh em”…Anh em ở trên các tôi tớ, theo nghĩa các tôi tớ cũng là thành phần của cộng đoàn. Dĩ nhiên, cộng đoàn Kitô giáo không phải là ốc hến, nó có xương sống, nhưng điều quan trọng trong Giáo Hội, không phải là các đầy tớ, mà là người đã được rửa tội; các đầy tớ chỉ quan trọng theo mức họ cũng là những người đã được rửa tội. Tuy vậy, chớ nên hiểu lầm. Sự hiện hữu của các tôi tớ hết sức quan trọng, nếu không muốn nói là chủ yếu, đó là dữ kiện được Thánh Phaolô biết rất rõ. Chỉ cần trích dẫn các đoạn trong đó ngài nói về Giáo Hội như một thân thể có cơ cấu (xem 1Cor 12: 12 và tiếp theo) là đủ hiểu.