Beirut (AsiaNews) – Từ ngày 4 đến 6 tháng 11, 25 học giả Công giáo và 25 người Hồi giáo sẽ gặp nhau tại Vatican để nghiên cứu khả năng có thể cộng tác giữa hai tôn giáo lớn nhất trên thế giới (Hồi giáo có 1.4 tỉ tín đồ, Công giáo có 1.18 tỉ). Những người đại diện của hơn 1/3 nhân loại trên hành tinh này sẽ gặp nhau với chủ đề “Yêu kính Thiên Chúa và yêu thương người lân cận”. Ngày đầu tiên họ sẽ đề cập đến các chủ đề thần học–tâm linh; ngày thứ hai họ sẽ chuyển qua “phẩm giá con người”, khảo sát những vấn đề liên quan đến các quyền của con người, tự do tôn giáo, tôn trọng tôn giáo, có thể đề cập đến sự tự do truyền đạo và cải đạo.
Chủ đề chung đã nổi bật lên từ hai năm vừa qua, nhưng không phải là không gặp phải khó khăn. Sau bài diễn từ ngày 12 tháng 9 năm 2006 của Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI tại Regensburg, thế giới Hồi giáo phản ứng lại bằng bạo lực và bác bỏ đề nghị của Đức giáo hoàng muốn công nhận rằng sự liên hệ với Thiên Chúa đòi hỏi lý trí và loại trừ bạo lực. Nhiều phản ứng gây ra là do không hiểu biết gì về bài diễn từ, và vì thường chỉ làm quen với những gì được các cơ quan thông tấn và các tờ báo tường thuật lại (thường với ý đồ xuyên tạc).
Nhờ ở bài diễn từ Regensburg, 38 học giả Hồi giáo đã gửi một lá thư phản hồi đầu tiên (đề ngày 13 tháng 10 năm 2006) và một năm sau lại gửi lá thư thứ hai (do 138 học giả ký tên, về sau tăng thành 275 người) để tìm kiếm thế đứng chung trong sự hợp tác giữa người Kitô giáo và Hồi giáo.
Vào ngày 19 tháng 11 năm 2007, Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI phúc đáp lá thư của 138 người bằng cách mở ra khả năng hợp tác về nhiều lãnh vực. Ngày 12 tháng 12 năm 2007, một lá thư của Hoàng tử Jordan là Ghazi bin Muhammad bin Talal gửi cho Hồng y Bertone, thỏa thuận sự hợp tác đó. Từ ngày 4 đến 5 tháng 3, các nhân vật của giáo triều Vatican và của thế giới Hồi giáo đã gặp nhau để qui định các thủ tục và nội dung cuộc đối thoại này. Vào lúc kết thúc, hai phía loan báo thiết lập diễn đàn Công giáo–Hồi giáo “nhằm phát triển đối thoại giữa người Công giáo và Hồi giáo”. Chính diễn đàn này là cuộc họp lần đầu tiên tại Roma từ ngày 4 đến 6 tháng 11 năm nay. Ngày mùng 6, cả nhóm sẽ có cuộc triều yết Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI. Một tham dự viên cuộc họp là Lm Samir Khalil Samir đưa ra bản phân tích sau đây:
Cuộc gặp gỡ giữa các chuyên gia Hồi giáo và Công giáo trong tháng 11 này là bước khởi đầu, và là một điều tích cực, chỉ vì quan niệm: đối thoại thì tốt đẹp hơn là lãnh đạm và im lặng ở cả hai phía. Trong những năm vừa qua, đã có một sự thay đổi quan trọng. Trước hết những lá thư của các học giả Hồi giáo đã yêu cầu một cuộc đối thoại có tính cách đặc thù, đó là về thần học. Nhưng như thế có nguy cơ không đem lại kết quả gì. Đức thánh cha và Hồng y Tauran đã nhấn mạnh rằng cuộc đối thoại phải bao gồm những vấn đề trong cuộc sống thường ngày và các quyền của lương tâm. Một trong các tham dự viên Hồi giáo là Tariq Ramadan đồng ý ở điểm này.
Người Kitô giáo và Hồi giáo bị trở ngại do chủ thuyết cơ bản
Mối liên lạc giữa người Kitô giáo và Hồi giáo đã trải qua một lich sử đầy sôi động. Trong những năm 1960, sau công đồng Vatican II, đã có một thôi thúc mạnh mẽ từ phía Công giáo. Cũng đã có sự cởi mở đáng kể và thành thật từ phía người Hồi giáo. Thế rồi hai sự việc xảy ra:
a- với thời gian, cuộc đối thoại bị tắt ngấm nếu không được hỗ trợ bởi một cơ cấu thường trực. Cuộc đối thoại với Chính thống giáo và với các giáo phái Kitô khác đều thường xuyên: vì chúng ta gặp gỡ mỗi năm, lại còn có các ủy ban hỗn hợp… Mặt khác, đối với Hồi giáo, điều này tùy thuộc vào hoàn cảnh; đôi khi các nhà lãnh đạo muốn đối thoại, lúc khác họ lại không muốn….
b- lý do thứ hai là trong thập niện 1970, làn sóng các phong trào theo chủ thuyết cơ bản bắt đầu nổi lên, mà chính thế giới Hồi giáo là kẻ đầu tiên phải chịu thiệt thòi. Sự phát triển này ngăn cản mọi sự, vì lập trường của nó là chối bỏ người khác (1). Lập trường của phái Salafis, về nhiều điểm, chống lại đà canh tân và chống phương Tây là nơi phát sinh ra nó; sự kiện này dẫn tới việc giảm thiểu các cuộc đối thoại.
Điều đáng chú ý là sự tái tục cuộc đối thoại này chính là nhờ ở bài diễn từ tại Regensburg. Và điều này cũng được một số chuyên viên Hồi giáo công nhận (2). Bài diễn từ của Đức giáo hoàng là khởi đầu của một phong trào mới chủ trương suy xét lại. Nếu nó gây ra được một phản ứng tích cực là vì ngài nói lên sự thật, và không hận thù. Điều này khẳng định rằng nếu không có sự chân thực trong đối thoại sẽ không có kết quả gì.
Con đường đi tới
Khoảng 50 người sẽ tham gia diễn đàn này, số người hai bên đồng đều, tuy tên tuổi chưa được công bố. nhưng đã có thể phác họa một vài viễn ảnh cho việc mở đầu một sự cộng tác. Tôi thiết nghĩ rằng chúng ta có thể bước tới nhiều bước. Nhưng phải đối diện với nhiều điểm hiểu lầm và va chạm bằng sự điềm đạm và lòng thành thực.
Nếu chúng ta nói về tín lý, chúng ta phải nói rõ lập trường Kitô giáo về đạo Hồi, về Kinh Koran và về cá nhân của Mohammed, tìm hiểu lập trường của họ và cho họ biết những điều chúng ta tin và lý do tại sao tin như thế. Về phía Hồi giáo, điều quan trọng là họ cũng phải nói rõ sự quan trọng của đức tin chúng ta nơi Thiên Chúa Ba Ngôi, sự nhập thể của Lời, sự hợp nhất của Thiên Chúa, v.v. nhằm tránh đưa ra những cáo buộc sai lạc. Nhưng nếu những lời cáo buộc là đúng, chúng ta phải sửa đổi.
Ở phương Tây, đã có điều gây tranh cãi là việc mở các trường học và thánh thất Hồi giáo. Nhưng đây không phải là vấn đề liên quan đến cuộc đối thoại Hồi giáo–Kitô gíiáo. Việc cấm đoán là do quốc gia thế tục, và không nhằm mục đích bảo vệ người Công giáo. Vấn đề ở đây là thỏa thuận xem nơi thờ phượng phải như thế nào, không được lầm với chỗ để chiến đấu hoặc tranh đấu. Nhà nước phải làm sáng tỏ các đặc tính của những nơi đó và nếu ai vi phạm các luật lệ ấy nhà nước phải có quyền tước bỏ quyền lợi này.
Điều này cũng đúng khi áp dụng vào các trường học. Ở nước Pháp, chẳng hạn, có những luật lệ nhà nước đặt ra để công nhận một trường học, kể cả truờng Hồi giáo. Những qui lệ như thế bây giờ phải làm sáng tỏ ra. Từ trước đến nay, nhu cầu đối với vấn đề này chưa cảm thấy được bởi vì đã có một nền tảng chung rõ rệt. Nhưng bây giờ, với xã hội đa nguyên và toàn cầu hóa của chúng ta, cần phải có sự minh bạch. Chẳng hạn, quốc gia phải xác định xem nhà nước có được cấp đất để xây cất nơi thờ phượng hay không; có được cầu nguyện trên đường phố hay không …
Tôi không biết cuộc đối thoại này sẽ có kết quả như thế nào: số người tham dự khá đông (tổng số hơn 50) mang đến nguy cơ là những cuộc thảo luận sẽ không sâu và có hiệu quả.
Tự do tôn giáo
Cả hai tôn giáo đều tự cho là mang thông điệp về chân lý, và được kêu gọi rao truyền chân lý đó trong sứ mạng của mình. Nhưng những phương cách thực hiện điều đó phải được minh định. Cách dùng các phương pháp bất xứng, hoặc bị cấm, phải được loại trừ ra. Người Hồi giáo chẳng hạn, kết án người Kitô giáo thực thi việc chiêu dụ bằng cách “làm ơn” cho người nghèo để đổi lại yêu cầu họ theo đạo. Nhưng ngăn chận sáng kiến tiến tới trong khi cho phép một tôn giáo được bành trướng, là điều bất công. Cái ý tưởng được đề cao trong thế giới Hồi giáo: “sự thật có mọi quyền hạn, giả dối không có quyền gì” cũng là điều bất công. Căn cứ vào điều này, khả năng bành trướng của những tôn giáo không phải Hồi giáo bị loại trừ xét theo thực tiễn (3). Liên quan đến vấn đề này là sự khinh thị đối với người bỏ đạo – như xảy ra với vụ rửa tội cho Magdi Cristiano Allam – người bị coi như kẻ phản bội chứ không phải kẻ đi tìm chân lý. Mở trường học cũng là điều quan trọng đối với cả hai tôn giáo và vì thế quyền này phải được bảo vệ, không được chê bai coi như là để tuyên truyền chiêu dụ vào đạo.
Kết luận
Cảm tưởng của tôi cho rằng cuộc đối thoại này có thể có kết quả nếu tôn trọng ba chiều kích:
Phải được khởi đầu, và tiếp tục trong nhiều năm;
Lúc kết thúc, cụ thể, và các tài liệu phải được soạn thảo và phổ biến càng rộng rãi càng tốt;
Uy thế tối đa phải được dành cho các tài liệu này. Về phía Công giáo điều đó thật dễ ràng: chỉ cần một vị hồng y hay một vị có thẩm quyền nào khác ký tên là đủ. Về phía Hồi giáo, phải có sự thoả thuận của các nhân vật tôn giáo và các nhà chính trị đạo Hồi. Các luật lệ hạn chế tự do tôn giáo là do các chính phủ Hồi giáo ban hành, chứ không phải do các học giả Hồi giáo. Mỗi thành viên viên tham dự cuộc đối thoại này, khi trở về nước phải tiếp xúc với chính phủ mình và các tổ chức Hồi giáo khác. Hơn nữa, các quyết định tùy thuộc vào quốc gia, nên được “Tổ chức Hôi đồng Hồi giáo” bỏ phiếu chấp thuận, vì nếu điều này không thể thực hiện được sẽ làm nản chí. Uy thế của tài liệu là điều quan trọng.
Nhưng nhu cầu đầu tiên và khẩn thiết nhất là tự do tôn giáo: đó là quyền của mỗi tôn giáo được rao giảng và truyền bá qua các phương tiện chính đáng và hợp pháp, không bằng những phương tiện bất hợp pháp, điều này phải được liệt kê ra. Đây là một nguyên lý tinh thần – bởi vì nó chạm tới phẩm giá con người – và cũng còn là một nguyên lý thần học, bởi vì nó chạm tới nguyên lý con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, được tự do và do đó có tự do phạm phải lỗi lầm. Tôi hy vọng rằng cuộc họp này mau chóng sẽ có kết quả là một bản tài liệu chung về tự do tôn giáo.
-------------------------------------
(1) Về quan điểm này, điều đáng nói là đối thoại không có nghĩa là “đặt niềm tin của mình sang một bên”. Những người Công giáo chúng ta, ngay khi chúng ta tin rằng Giáo hội Công giáo mang chân lý, nhưng cũng tin rằng có những hạt giống của Lời, của chân lý, trong các lập trường, các vị thế khác nữa.
(2) Xin coi Tarik Ramadan: “Sau khi gây ra một làn sóng chấn động, những lời của Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI tại Regensburg hai năm trước chắc chắn đã có những hậu quả tích cực nhiều hơn là tiêu cực về lâu về dài. Chắc không gây tranh cãi, là cuộc hội nghị này đề ra việc xem xét lại bản chất trách nhiệm của cả người Kitô giáo và Hồi giáo ở phương Tây. (Il Riformista, October 31, 2008.)
(3) Hàng ngày trong thế giới Hồi giáo chúng ta thấy đức tin đạo Hồi được rao truyền (trên đài phát thanh, đài truyền hình, trên báo chí, bằng loa phóng thanh phát ra từ các đền thờ), nhưng người Kitô giáo lại không được đeo một tượng thánh giá, vì “gieo rắc điều giả dối” là điều bị cấm đoán.
Chủ đề chung đã nổi bật lên từ hai năm vừa qua, nhưng không phải là không gặp phải khó khăn. Sau bài diễn từ ngày 12 tháng 9 năm 2006 của Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI tại Regensburg, thế giới Hồi giáo phản ứng lại bằng bạo lực và bác bỏ đề nghị của Đức giáo hoàng muốn công nhận rằng sự liên hệ với Thiên Chúa đòi hỏi lý trí và loại trừ bạo lực. Nhiều phản ứng gây ra là do không hiểu biết gì về bài diễn từ, và vì thường chỉ làm quen với những gì được các cơ quan thông tấn và các tờ báo tường thuật lại (thường với ý đồ xuyên tạc).
Nhờ ở bài diễn từ Regensburg, 38 học giả Hồi giáo đã gửi một lá thư phản hồi đầu tiên (đề ngày 13 tháng 10 năm 2006) và một năm sau lại gửi lá thư thứ hai (do 138 học giả ký tên, về sau tăng thành 275 người) để tìm kiếm thế đứng chung trong sự hợp tác giữa người Kitô giáo và Hồi giáo.
Vào ngày 19 tháng 11 năm 2007, Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI phúc đáp lá thư của 138 người bằng cách mở ra khả năng hợp tác về nhiều lãnh vực. Ngày 12 tháng 12 năm 2007, một lá thư của Hoàng tử Jordan là Ghazi bin Muhammad bin Talal gửi cho Hồng y Bertone, thỏa thuận sự hợp tác đó. Từ ngày 4 đến 5 tháng 3, các nhân vật của giáo triều Vatican và của thế giới Hồi giáo đã gặp nhau để qui định các thủ tục và nội dung cuộc đối thoại này. Vào lúc kết thúc, hai phía loan báo thiết lập diễn đàn Công giáo–Hồi giáo “nhằm phát triển đối thoại giữa người Công giáo và Hồi giáo”. Chính diễn đàn này là cuộc họp lần đầu tiên tại Roma từ ngày 4 đến 6 tháng 11 năm nay. Ngày mùng 6, cả nhóm sẽ có cuộc triều yết Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI. Một tham dự viên cuộc họp là Lm Samir Khalil Samir đưa ra bản phân tích sau đây:
Cuộc gặp gỡ giữa các chuyên gia Hồi giáo và Công giáo trong tháng 11 này là bước khởi đầu, và là một điều tích cực, chỉ vì quan niệm: đối thoại thì tốt đẹp hơn là lãnh đạm và im lặng ở cả hai phía. Trong những năm vừa qua, đã có một sự thay đổi quan trọng. Trước hết những lá thư của các học giả Hồi giáo đã yêu cầu một cuộc đối thoại có tính cách đặc thù, đó là về thần học. Nhưng như thế có nguy cơ không đem lại kết quả gì. Đức thánh cha và Hồng y Tauran đã nhấn mạnh rằng cuộc đối thoại phải bao gồm những vấn đề trong cuộc sống thường ngày và các quyền của lương tâm. Một trong các tham dự viên Hồi giáo là Tariq Ramadan đồng ý ở điểm này.
Người Kitô giáo và Hồi giáo bị trở ngại do chủ thuyết cơ bản
Mối liên lạc giữa người Kitô giáo và Hồi giáo đã trải qua một lich sử đầy sôi động. Trong những năm 1960, sau công đồng Vatican II, đã có một thôi thúc mạnh mẽ từ phía Công giáo. Cũng đã có sự cởi mở đáng kể và thành thật từ phía người Hồi giáo. Thế rồi hai sự việc xảy ra:
a- với thời gian, cuộc đối thoại bị tắt ngấm nếu không được hỗ trợ bởi một cơ cấu thường trực. Cuộc đối thoại với Chính thống giáo và với các giáo phái Kitô khác đều thường xuyên: vì chúng ta gặp gỡ mỗi năm, lại còn có các ủy ban hỗn hợp… Mặt khác, đối với Hồi giáo, điều này tùy thuộc vào hoàn cảnh; đôi khi các nhà lãnh đạo muốn đối thoại, lúc khác họ lại không muốn….
b- lý do thứ hai là trong thập niện 1970, làn sóng các phong trào theo chủ thuyết cơ bản bắt đầu nổi lên, mà chính thế giới Hồi giáo là kẻ đầu tiên phải chịu thiệt thòi. Sự phát triển này ngăn cản mọi sự, vì lập trường của nó là chối bỏ người khác (1). Lập trường của phái Salafis, về nhiều điểm, chống lại đà canh tân và chống phương Tây là nơi phát sinh ra nó; sự kiện này dẫn tới việc giảm thiểu các cuộc đối thoại.
Điều đáng chú ý là sự tái tục cuộc đối thoại này chính là nhờ ở bài diễn từ tại Regensburg. Và điều này cũng được một số chuyên viên Hồi giáo công nhận (2). Bài diễn từ của Đức giáo hoàng là khởi đầu của một phong trào mới chủ trương suy xét lại. Nếu nó gây ra được một phản ứng tích cực là vì ngài nói lên sự thật, và không hận thù. Điều này khẳng định rằng nếu không có sự chân thực trong đối thoại sẽ không có kết quả gì.
Con đường đi tới
Khoảng 50 người sẽ tham gia diễn đàn này, số người hai bên đồng đều, tuy tên tuổi chưa được công bố. nhưng đã có thể phác họa một vài viễn ảnh cho việc mở đầu một sự cộng tác. Tôi thiết nghĩ rằng chúng ta có thể bước tới nhiều bước. Nhưng phải đối diện với nhiều điểm hiểu lầm và va chạm bằng sự điềm đạm và lòng thành thực.
Nếu chúng ta nói về tín lý, chúng ta phải nói rõ lập trường Kitô giáo về đạo Hồi, về Kinh Koran và về cá nhân của Mohammed, tìm hiểu lập trường của họ và cho họ biết những điều chúng ta tin và lý do tại sao tin như thế. Về phía Hồi giáo, điều quan trọng là họ cũng phải nói rõ sự quan trọng của đức tin chúng ta nơi Thiên Chúa Ba Ngôi, sự nhập thể của Lời, sự hợp nhất của Thiên Chúa, v.v. nhằm tránh đưa ra những cáo buộc sai lạc. Nhưng nếu những lời cáo buộc là đúng, chúng ta phải sửa đổi.
Ở phương Tây, đã có điều gây tranh cãi là việc mở các trường học và thánh thất Hồi giáo. Nhưng đây không phải là vấn đề liên quan đến cuộc đối thoại Hồi giáo–Kitô gíiáo. Việc cấm đoán là do quốc gia thế tục, và không nhằm mục đích bảo vệ người Công giáo. Vấn đề ở đây là thỏa thuận xem nơi thờ phượng phải như thế nào, không được lầm với chỗ để chiến đấu hoặc tranh đấu. Nhà nước phải làm sáng tỏ các đặc tính của những nơi đó và nếu ai vi phạm các luật lệ ấy nhà nước phải có quyền tước bỏ quyền lợi này.
Điều này cũng đúng khi áp dụng vào các trường học. Ở nước Pháp, chẳng hạn, có những luật lệ nhà nước đặt ra để công nhận một trường học, kể cả truờng Hồi giáo. Những qui lệ như thế bây giờ phải làm sáng tỏ ra. Từ trước đến nay, nhu cầu đối với vấn đề này chưa cảm thấy được bởi vì đã có một nền tảng chung rõ rệt. Nhưng bây giờ, với xã hội đa nguyên và toàn cầu hóa của chúng ta, cần phải có sự minh bạch. Chẳng hạn, quốc gia phải xác định xem nhà nước có được cấp đất để xây cất nơi thờ phượng hay không; có được cầu nguyện trên đường phố hay không …
Tôi không biết cuộc đối thoại này sẽ có kết quả như thế nào: số người tham dự khá đông (tổng số hơn 50) mang đến nguy cơ là những cuộc thảo luận sẽ không sâu và có hiệu quả.
Tự do tôn giáo
Cả hai tôn giáo đều tự cho là mang thông điệp về chân lý, và được kêu gọi rao truyền chân lý đó trong sứ mạng của mình. Nhưng những phương cách thực hiện điều đó phải được minh định. Cách dùng các phương pháp bất xứng, hoặc bị cấm, phải được loại trừ ra. Người Hồi giáo chẳng hạn, kết án người Kitô giáo thực thi việc chiêu dụ bằng cách “làm ơn” cho người nghèo để đổi lại yêu cầu họ theo đạo. Nhưng ngăn chận sáng kiến tiến tới trong khi cho phép một tôn giáo được bành trướng, là điều bất công. Cái ý tưởng được đề cao trong thế giới Hồi giáo: “sự thật có mọi quyền hạn, giả dối không có quyền gì” cũng là điều bất công. Căn cứ vào điều này, khả năng bành trướng của những tôn giáo không phải Hồi giáo bị loại trừ xét theo thực tiễn (3). Liên quan đến vấn đề này là sự khinh thị đối với người bỏ đạo – như xảy ra với vụ rửa tội cho Magdi Cristiano Allam – người bị coi như kẻ phản bội chứ không phải kẻ đi tìm chân lý. Mở trường học cũng là điều quan trọng đối với cả hai tôn giáo và vì thế quyền này phải được bảo vệ, không được chê bai coi như là để tuyên truyền chiêu dụ vào đạo.
Kết luận
Cảm tưởng của tôi cho rằng cuộc đối thoại này có thể có kết quả nếu tôn trọng ba chiều kích:
Phải được khởi đầu, và tiếp tục trong nhiều năm;
Lúc kết thúc, cụ thể, và các tài liệu phải được soạn thảo và phổ biến càng rộng rãi càng tốt;
Uy thế tối đa phải được dành cho các tài liệu này. Về phía Công giáo điều đó thật dễ ràng: chỉ cần một vị hồng y hay một vị có thẩm quyền nào khác ký tên là đủ. Về phía Hồi giáo, phải có sự thoả thuận của các nhân vật tôn giáo và các nhà chính trị đạo Hồi. Các luật lệ hạn chế tự do tôn giáo là do các chính phủ Hồi giáo ban hành, chứ không phải do các học giả Hồi giáo. Mỗi thành viên viên tham dự cuộc đối thoại này, khi trở về nước phải tiếp xúc với chính phủ mình và các tổ chức Hồi giáo khác. Hơn nữa, các quyết định tùy thuộc vào quốc gia, nên được “Tổ chức Hôi đồng Hồi giáo” bỏ phiếu chấp thuận, vì nếu điều này không thể thực hiện được sẽ làm nản chí. Uy thế của tài liệu là điều quan trọng.
Nhưng nhu cầu đầu tiên và khẩn thiết nhất là tự do tôn giáo: đó là quyền của mỗi tôn giáo được rao giảng và truyền bá qua các phương tiện chính đáng và hợp pháp, không bằng những phương tiện bất hợp pháp, điều này phải được liệt kê ra. Đây là một nguyên lý tinh thần – bởi vì nó chạm tới phẩm giá con người – và cũng còn là một nguyên lý thần học, bởi vì nó chạm tới nguyên lý con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, được tự do và do đó có tự do phạm phải lỗi lầm. Tôi hy vọng rằng cuộc họp này mau chóng sẽ có kết quả là một bản tài liệu chung về tự do tôn giáo.
-------------------------------------
(1) Về quan điểm này, điều đáng nói là đối thoại không có nghĩa là “đặt niềm tin của mình sang một bên”. Những người Công giáo chúng ta, ngay khi chúng ta tin rằng Giáo hội Công giáo mang chân lý, nhưng cũng tin rằng có những hạt giống của Lời, của chân lý, trong các lập trường, các vị thế khác nữa.
(2) Xin coi Tarik Ramadan: “Sau khi gây ra một làn sóng chấn động, những lời của Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI tại Regensburg hai năm trước chắc chắn đã có những hậu quả tích cực nhiều hơn là tiêu cực về lâu về dài. Chắc không gây tranh cãi, là cuộc hội nghị này đề ra việc xem xét lại bản chất trách nhiệm của cả người Kitô giáo và Hồi giáo ở phương Tây. (Il Riformista, October 31, 2008.)
(3) Hàng ngày trong thế giới Hồi giáo chúng ta thấy đức tin đạo Hồi được rao truyền (trên đài phát thanh, đài truyền hình, trên báo chí, bằng loa phóng thanh phát ra từ các đền thờ), nhưng người Kitô giáo lại không được đeo một tượng thánh giá, vì “gieo rắc điều giả dối” là điều bị cấm đoán.