Vatican (CNS) – Đức giáo hoàng Bênêđictô sẽ công du Pháp vào trung tuần tháng 9 này. Cuộc viếng thăm 4 ngày sẽ đầy ắp những lễ lạc và những thách đố về mục vụ.
Chuyến tông du từ ngày 12 đến 15 tháng 9 chủ yếu nhằm kỷ niệm 150 năm ngày Đức Mẹ hiện ra tại Lộ đức, một thị trấn ở phía nam nước Pháp, nay đã trở thành một trong những địa điểm hành hương được ưa chuộng nhất thế giới.
Nhưng trước hết Đức giáo hoàng sẽ ở tại Paris một ngày rưỡi, tiếp xúc với các nhà lãnh đạo chính trị và văn hóa, gặp gỡ các linh mục và chủng sinh, và cử hành thánh lễ với giáo dân.
Đối với vị giáo hoàng nay đã 81 tuổi, đây là cuộc tông du tới trung tâm của một châu Âu đang không ngừng mất dần đạo Chúa, một khu vực mà có lần ngài đã gọi là “các giáo hội lớn lao dường như đang hấp hối.”
Đức giáo hoàng muốn khuyến khích cho một cuộc hồi sinh, và chương trình thăm viếng tạo cho ngài nhiều khả năng như thế:
- Trong ngày đầu tiên, khi gặp gỡ các nhà lãnh đạo dân sự và văn hóa, chắc ngài sẽ bênh vực tiếng nói hợp pháp của tôn giáo trong nền văn hóa châu Âu nay đã tục hóa.
- Bằng cách đích thân cử hành ngày kỷ niệm những lần Đức Mẹ hiện ra ở Lộ đức, Đức giáo hoàng sẽ có cơ hội khơi động truyền thống lâu đời ở nước Pháp là lòng sốt sắng tôn kính Đức Maria và giải thích tính cách thích đáng của truyền thống đó trong thời đại ngày nay.
- Các nghi lễ giáo hoàng thực hiện tại Lộ đức, nơi hàng triệu người khách hành hương bệnh tật tới cầu nguyện mỗi năm, sẽ đề cao tình đồng cảm của giáo hội đối với những người đau khổ.
- Ba cuộc họp của ngài với các giám mục Pháp – hai cuộc gặp gỡ cấp vùng kín đáo và một cuộc họp toàn quốc công khai có đọc diễn từ - tạo ra cơ hội để thẳng thắn thẩm định các vấn đề khó khăn về mục vụ và các phương lược phải theo.
Các vấn đề khó khăn về mục vụ là điều có thật, và những con số là bằng chứng của một khung cảnh ảm đạm:
Mặc dầu theo thống kê chính thức thì hơn 75% dân số Pháp là người Công giáo, nhưng sự tham dự vào sinh hoạt tại các giáo xứ địa phương từ 50 năm qua đã giảm sút đáng kể. Các cuộc nghiên cứu cho biết rằng có lẽ chỉ có 12% người Công giáo Pháp đi lễ hàng tuần, đa số người Công giáo ít khi hoặc không bao giờ tham dự thánh lễ cả.
Con số các linh mục triều ở Pháp đã giảm đi tới 50% trong 25 năm qua, và ơn gọi linh mục nơi đây có tỷ lệ thấp nhất thế giới. Tỷ lệ những người chịu phép Rửa tội, hôn phối và các nhiệm tích khác cũng không ngừng giảm sút.
Đối với các nhà lãnh đạo giáo hội, có lẽ điều làm họ lo ngại hơn cả vấn đề hành đạo tại Pháp, đó là thái độ của người dân. Một cuộc thăm dò năm 1999 cho biết có 56% người Pháp không tin ở ý niệm về tội lỗi, gần 60% nói rằng giáo hội không đưa ra được những câu trả lời cho các vấn đề luân lý, và 62% nói họ không nhận được ủi an hoặc sức mạnh từ tôn giáo.
Đức giáo hoàng Bênêđictô đã nhìn thấy những loại thách đố như thế ngay từ ngày đầu tiên trong chức vụ giáo hoàng. Trong các bài giảng và diễn từ, ngài đã lập luận rằng cuộc đời không có đức tin chung cuộc sẽ trống rỗng và không có gì lấp đầy được, và bằng chứng về những đời sống không có hạnh phúc như thế đầy rẫy chung quanh chúng ta.
Tại Pháp, chắc ngài sẽ nhấn mạnh ở điểm cho rằng đức tin đơn sơ giản dị - như của thánh Bernadette Soubirous, người thiếu nữ đã có được những thị kiến ở Lộ đức – vẫn còn thích đáng ở thế kỷ 21 này.
Mùa hè vừa qua, cũng như hồi trung tuần tháng 8, Đức giáo hoàng đã soạn thảo những bài diễn từ ngài sẽ đọc trong cuộc tông du Pháp, một số đã gợi ý cho chúng ta thấy được những gì trong tâm tưởng ngài. Khi cử hành lễ Mông Triệu, ngài đã nói về giá trị của “đức tin đơn sơ và thuần khiết” trong thế giới hiện đại.
Đặc biệt, cuộc đời của Đức Mẹ Maria, theo lời ngài, có thể linh hứng cho người Kitô hữu sống cuộc sống hàng ngày “hướng về các mối phúc thật.” Đối diện với tất cả những hạnh phúc giả trá trong thời đại mới này, ngài nói, người ta có thể học hỏi từ Đức Mẹ “để làm chứng nhân cho hy vọng và ủi an.”
Đức giáo hoàng thấy rằng thánh địa Lộ đức là nơi giáo hội có thể thực hiện Tin Mừng hy vọng của mình một cách rất cụ thể, giúp cất đi gánh nặng của những người đau khổ và của những người trong gia đình phải săn sóc họ.
Đầu năm nay, tại Rome, trong một hội nghị đánh dấu ngày kỷ niệm biến cố Lộ đức, ngài nói rằng một xã hội không chứng tỏ lòng nhân ái đối với những người bệnh tật và khổ đau là “một xã hội tàn ác và vô nhân.”
Trưng dẫn thông điệp “Spe Salvi” mới nhất của mình, ngài nói rằng các gia đình, nhất là các gia đình nghèo túng đang gặp cảnh khó khăn vì người thân bệnh hoạn, có nguy cơ bị “quét đi thành những mảnh rời tan tác” trong những cộng đồng chỉ biết đề cao khả năng sản xuất.
Tại Pháp, Đức giáo hoàng cũng có thể nhắc nhở xã hội về nghĩa vụ phải giúp cất đi nỗi cô đơn của người bệnh tật và những người đang hấp hối. Ngài đã cảnh giác rằng việc cô lập họ như thế đã góp phần vào việc chấp nhận càng ngày càng tăng sự trợ giúp chết êm dịu (euthanasia). Ở Pháp đã có trào lưu mạnh mẽ trong những năm gần đây muốn coi việc trợ chết êm dịu không phải là một tội phạm.
Ở đây nữa, Đức giáo hoàng có thể chỉ ra các nỗ lực của giáo hội để đem lại sự chữa lành tâm linh và thể lý, và trong diễn tiến như thế, củng cố quan điểm của ngài cho rằng Kitô giáo sống động và được loan truyền bằng chứng tá nhiều hơn là bằng lý luận.
Cũng như các cuộc du hành trước đây ra ngoài nước, phương lược của Đức giáo hoàng có vẻ như muốn đề cao những chủ đề lớn lao hơn – đó là niềm hy vọng Kitô giáo, đức tin là yêu thương trong hành động, nhu cầu đòi hỏi những sự thật đạo đức và các giá trị tôn giáo trong một xã hội thiên về vật chất – và làm cho những chủ đề này sinh động đối với những người ngài tiếp kiến.
Người Công giáo Pháp có lẽ sẽ không nhận được lời trách móc rầy la của Đức giáo hoàng hoặc một bài diễn văn về việc đi lễ lạy. Theo quan điểm của Đức giáo hoàng, không chỉ có vấn đề dành thì giờ cho giáo hội trong thời biểu hàng tuần, nhưng còn là dành chỗ cho Chúa trong cuộc đời của họ.
Chuyến tông du từ ngày 12 đến 15 tháng 9 chủ yếu nhằm kỷ niệm 150 năm ngày Đức Mẹ hiện ra tại Lộ đức, một thị trấn ở phía nam nước Pháp, nay đã trở thành một trong những địa điểm hành hương được ưa chuộng nhất thế giới.
Nhưng trước hết Đức giáo hoàng sẽ ở tại Paris một ngày rưỡi, tiếp xúc với các nhà lãnh đạo chính trị và văn hóa, gặp gỡ các linh mục và chủng sinh, và cử hành thánh lễ với giáo dân.

Đối với vị giáo hoàng nay đã 81 tuổi, đây là cuộc tông du tới trung tâm của một châu Âu đang không ngừng mất dần đạo Chúa, một khu vực mà có lần ngài đã gọi là “các giáo hội lớn lao dường như đang hấp hối.”
Đức giáo hoàng muốn khuyến khích cho một cuộc hồi sinh, và chương trình thăm viếng tạo cho ngài nhiều khả năng như thế:
- Trong ngày đầu tiên, khi gặp gỡ các nhà lãnh đạo dân sự và văn hóa, chắc ngài sẽ bênh vực tiếng nói hợp pháp của tôn giáo trong nền văn hóa châu Âu nay đã tục hóa.
- Bằng cách đích thân cử hành ngày kỷ niệm những lần Đức Mẹ hiện ra ở Lộ đức, Đức giáo hoàng sẽ có cơ hội khơi động truyền thống lâu đời ở nước Pháp là lòng sốt sắng tôn kính Đức Maria và giải thích tính cách thích đáng của truyền thống đó trong thời đại ngày nay.
- Các nghi lễ giáo hoàng thực hiện tại Lộ đức, nơi hàng triệu người khách hành hương bệnh tật tới cầu nguyện mỗi năm, sẽ đề cao tình đồng cảm của giáo hội đối với những người đau khổ.
- Ba cuộc họp của ngài với các giám mục Pháp – hai cuộc gặp gỡ cấp vùng kín đáo và một cuộc họp toàn quốc công khai có đọc diễn từ - tạo ra cơ hội để thẳng thắn thẩm định các vấn đề khó khăn về mục vụ và các phương lược phải theo.
Các vấn đề khó khăn về mục vụ là điều có thật, và những con số là bằng chứng của một khung cảnh ảm đạm:
Mặc dầu theo thống kê chính thức thì hơn 75% dân số Pháp là người Công giáo, nhưng sự tham dự vào sinh hoạt tại các giáo xứ địa phương từ 50 năm qua đã giảm sút đáng kể. Các cuộc nghiên cứu cho biết rằng có lẽ chỉ có 12% người Công giáo Pháp đi lễ hàng tuần, đa số người Công giáo ít khi hoặc không bao giờ tham dự thánh lễ cả.
Con số các linh mục triều ở Pháp đã giảm đi tới 50% trong 25 năm qua, và ơn gọi linh mục nơi đây có tỷ lệ thấp nhất thế giới. Tỷ lệ những người chịu phép Rửa tội, hôn phối và các nhiệm tích khác cũng không ngừng giảm sút.
Đối với các nhà lãnh đạo giáo hội, có lẽ điều làm họ lo ngại hơn cả vấn đề hành đạo tại Pháp, đó là thái độ của người dân. Một cuộc thăm dò năm 1999 cho biết có 56% người Pháp không tin ở ý niệm về tội lỗi, gần 60% nói rằng giáo hội không đưa ra được những câu trả lời cho các vấn đề luân lý, và 62% nói họ không nhận được ủi an hoặc sức mạnh từ tôn giáo.
Đức giáo hoàng Bênêđictô đã nhìn thấy những loại thách đố như thế ngay từ ngày đầu tiên trong chức vụ giáo hoàng. Trong các bài giảng và diễn từ, ngài đã lập luận rằng cuộc đời không có đức tin chung cuộc sẽ trống rỗng và không có gì lấp đầy được, và bằng chứng về những đời sống không có hạnh phúc như thế đầy rẫy chung quanh chúng ta.
Tại Pháp, chắc ngài sẽ nhấn mạnh ở điểm cho rằng đức tin đơn sơ giản dị - như của thánh Bernadette Soubirous, người thiếu nữ đã có được những thị kiến ở Lộ đức – vẫn còn thích đáng ở thế kỷ 21 này.
Mùa hè vừa qua, cũng như hồi trung tuần tháng 8, Đức giáo hoàng đã soạn thảo những bài diễn từ ngài sẽ đọc trong cuộc tông du Pháp, một số đã gợi ý cho chúng ta thấy được những gì trong tâm tưởng ngài. Khi cử hành lễ Mông Triệu, ngài đã nói về giá trị của “đức tin đơn sơ và thuần khiết” trong thế giới hiện đại.
Đặc biệt, cuộc đời của Đức Mẹ Maria, theo lời ngài, có thể linh hứng cho người Kitô hữu sống cuộc sống hàng ngày “hướng về các mối phúc thật.” Đối diện với tất cả những hạnh phúc giả trá trong thời đại mới này, ngài nói, người ta có thể học hỏi từ Đức Mẹ “để làm chứng nhân cho hy vọng và ủi an.”
Đức giáo hoàng thấy rằng thánh địa Lộ đức là nơi giáo hội có thể thực hiện Tin Mừng hy vọng của mình một cách rất cụ thể, giúp cất đi gánh nặng của những người đau khổ và của những người trong gia đình phải săn sóc họ.
Đầu năm nay, tại Rome, trong một hội nghị đánh dấu ngày kỷ niệm biến cố Lộ đức, ngài nói rằng một xã hội không chứng tỏ lòng nhân ái đối với những người bệnh tật và khổ đau là “một xã hội tàn ác và vô nhân.”
Trưng dẫn thông điệp “Spe Salvi” mới nhất của mình, ngài nói rằng các gia đình, nhất là các gia đình nghèo túng đang gặp cảnh khó khăn vì người thân bệnh hoạn, có nguy cơ bị “quét đi thành những mảnh rời tan tác” trong những cộng đồng chỉ biết đề cao khả năng sản xuất.
Tại Pháp, Đức giáo hoàng cũng có thể nhắc nhở xã hội về nghĩa vụ phải giúp cất đi nỗi cô đơn của người bệnh tật và những người đang hấp hối. Ngài đã cảnh giác rằng việc cô lập họ như thế đã góp phần vào việc chấp nhận càng ngày càng tăng sự trợ giúp chết êm dịu (euthanasia). Ở Pháp đã có trào lưu mạnh mẽ trong những năm gần đây muốn coi việc trợ chết êm dịu không phải là một tội phạm.
Ở đây nữa, Đức giáo hoàng có thể chỉ ra các nỗ lực của giáo hội để đem lại sự chữa lành tâm linh và thể lý, và trong diễn tiến như thế, củng cố quan điểm của ngài cho rằng Kitô giáo sống động và được loan truyền bằng chứng tá nhiều hơn là bằng lý luận.
Cũng như các cuộc du hành trước đây ra ngoài nước, phương lược của Đức giáo hoàng có vẻ như muốn đề cao những chủ đề lớn lao hơn – đó là niềm hy vọng Kitô giáo, đức tin là yêu thương trong hành động, nhu cầu đòi hỏi những sự thật đạo đức và các giá trị tôn giáo trong một xã hội thiên về vật chất – và làm cho những chủ đề này sinh động đối với những người ngài tiếp kiến.
Người Công giáo Pháp có lẽ sẽ không nhận được lời trách móc rầy la của Đức giáo hoàng hoặc một bài diễn văn về việc đi lễ lạy. Theo quan điểm của Đức giáo hoàng, không chỉ có vấn đề dành thì giờ cho giáo hội trong thời biểu hàng tuần, nhưng còn là dành chỗ cho Chúa trong cuộc đời của họ.