Giáo Hội Công Giáo Iraq

Dẫn nhập

Vùng đất ngày nay gọi là Iraq trước đây gọi là Mesopotamia (Lưỡng Hà Địa - vùng đất giữa hai con sông Tigris và Euphrates). Vùng đất này có thể coi là cái nôi văn minh của thế giới. Vườn Địa Đàng nơi ông Adong và bà Evà ăn trái cấm thuộc khu vực này. Đây là nơi có quê hương Ur của tổ phụ Abraham. Đây cũng là nơi có Vườn Treo Babylon, một trong bẩy kỳ quan của thế giới. Đây là nơi mà những dạng chữ viết đã được phát minh ra vào khoảng 3000 năm trước Chúa giáng sinh. Đây cũng là nơi mà bánh xe được phát minh ra. Đây cũng là nơi bộ luật đầu tiên của thế giới đã được giới thiệu bởi nhà lập pháp đầu tiên của thế giới là Hamurabi. Vùng Lưỡng Hà Địa cổ xưa đã cống hiến cho thế giới những nguyên tắc của Toán Học, của 60 phút trong một giờ và của 360o trong một vòng quay. Đây là nơi mà Aramic, ngôn ngữ của Đức Kitô và của Tân Ước, với 22 vần chữ cái, đã được hình thành và phát triển và từ thế kỷ thứ 7 trước Chúa giáng sinh đã là ngôn ngữ chính trong vùng Trung Đông. Tiếng Hêbrơ và tiếng ẢRập cũng từ tiếng Aramic mà ra.

Vùng đất của Kitô Giáo

Trong khi Thánh Phêrô, Thánh Anrê và Phaolô đi truyền giáo về phía Tây vào đế quốc La Mã, Thánh Tôma, vị tông đồ đã đòi phải xỏ ngón tay vào cạnh sườn Chúa mới tin Ngài đã phục sinh từ trong cõi chết, cùng với Thánh Giuđê, và Thánh Barthôlômêô đã đi truyền giáo ở phía Đông và đã rất thành công. Từ thế kỷ thứ Hai, Kitô Giáo đã phát triển mạnh mẽ trong hai quốc gia lớn nhất và cổ nhất của vùng Lưỡng Hà Địa là Assyria và Chaldea. Cả hai nước đều coi Kitô Giáo là quốc giáo. Từ vùng Lưỡng Hà Địa này, Giáo Hội Công Giáo phát triển mạnh mẽ sang cả các nước lân bang như Ba Tư, Ả Rập, Ấn Độ (thánh tích của Thánh Tôma được chôn cất dưới bàn thờ Vương Cung Thánh Đường Madras, Ấn Độ), Mông Cổ và vào tận đến Trung Hoa. Giáo Hội đã được phát triển mạnh mẽ nhờ các Thánh Tông Đồ và các đệ tử của các ngài như Mar Addai và Mar Mari.

Trong 5 thế kỷ đầu tiên, Giáo Hội Công Giáo Lưỡng Hà Địa hiệp thông với Tòa Thánh Rôma. Năm 489, Giáo Hội Công Giáo Lưỡng Hà Địa theo bè rối Nestoria và cắt đứt sự hiệp thông với Tòa Thánh để lập Giáo Hội tự trị. Lãnh đạo của Giáo Hội tân lập này được gọi là "Katholikos", cư ngụ tại Seleucia-Cteisphon, gần Baghdad.

Trong thế kỷ thứ 7, khu vực Lưỡng Hà Địa rơi vào tay quân Hồi Giáo. Năm 780, Catholikos Timetheos I di chuyển tòa thượng phụ về thủ đô mới Baghdad.

Năm 1445, Đức Giáo Hoàng Eugene IV dùng từ "Công Giáo theo nghi lễ Chaldea" để chỉ những người Công Giáo đã theo bè rối Nestoria nay quay lại hiệp nhất với Tòa Thánh.

Cố gắng chính thức đầu tiên để tái hiệp nhất với Tòa Thánh của Giáo Hội Lưỡng Hà Địa được ghi nhận vào năm 1553 khi thượng phụ Gioan Sulaka đến Rôma và tuyên xưng đức tin Công Giáo trước mặt Đức Thánh Cha Giuliô III. Tuy nhiên, đến năm 1592, phe theo bè rối Nestoria lại chiếm đa số trở lại và lại đoạn giao với Tòa Thánh. Từ thế kỷ 19 thì những người muốn hiệp nhất với Tòa Thánh chiếm đa số.

Hiện nay, Giáo Hội Công Giáo tại Iraq gồm có những giáo phận sau:

Các Giáo Phận
Công Giáo theo nghi lễ La Tinh 
 Tổng giáo phận Baghdad
Công Giáo theo nghi lễ Chaldea 
 Giáo phận Alquoch
 Giáo phận Amadiyah
 Giáo phận Aqra
 Tổng giáo phận Arbil
 Tổng giáo phận Babilon
 Tổng giáo phận Baghdad
 Tổng giáo phận Bassorah
 Tổng giáo phận Kerkuk
 Tổng giáo phận Mossul
 Tổng giáo phận Perat-Maishan
 Giáo phận Sulaimaniya
 Giáo phận Zaku
Công Giáo theo nghi lễ Syria 
 Tổng giáo phận Baghdad
 Tổng giáo phận Mossul
Công Giáo theo nghi lễ Armenia 
 Tổng giáo phận Baghdad


Phụng vụ của người Công Giáo nghi lễ Chaldea

Năm phụng vụ của người Công Giáo nghi lễ Chaldea gồm các mùa sau
1 Mùa Vọng (Soubra) 4 tuần
2 Mùa Giáng Sinh (Yalda) 2 tuần
3 Mùa Hiển Linh (Denha) 8 tuần
4 Mùa Chay (Sauma) 7 tuần
5 Mùa Phục Sinh (Qyamta) 8 tuần
6 Mùa Tông Đồ ( Shleeheh) 7 tuần
7 Mùa Hè (Qaita)7 tuần
8 Mùa Elia ( Elia) 7 tuần
9 Mùa Môisê ( Mosheh) 4 tuần
10 Mùa Giáo Hội (Qoodash Aiyta) 4 tuần


Một vài con số thống kê về dân số Công Giáo

Theo niên giám 2003 của Tòa Thánh, dân số Công Giáo hiện nay khoảng 175,000 tín hữu (chiếm chỉ 1% dân số) sinh hoạt trong 89 giáo xứ với 114 linh mục triều, 20 linh mục dòng, 7 phó tế vĩnh viễn, 28 nam tu sĩ, 283 nữ tu.