Những nạn nhân câm nín của chiến tranh

Trong bài "Những người nổ bom tự sát" đăng trên tờ Điểm Sách New York (New York Review of Books), số ra ngày 16/01/2003, tác giả Avishai Margalit đưa ra luận điểm rằng trong thế kỷ 20, tỷ lệ thường dân bị giết trong chiến tranh là 5% hồi Thế Chiến Thứ Nhất. Con số này đã tăng lên 50% trong Thế Chiến Thứ Hai, và từ 70% đến 90% trong chiến tranh Việt Nam. Tính chính xác của những con số này có thể còn phải bàn cãi, nhưng dù vậy, kỷ lục lịch sử tự nó cũng nói thẳng ra rằng luật cấm tấn công vào thường dân trong chiến tranh đã bị xem thường đáng kể.

Một lý do dẫn đến điều này là sự tàn phá các thành phố đã trở nên một phần chấp nhận được trong tư duy chiến lược quân sự từ thập niên 1930. Ý niệm này lần đầu tiên được đưa ra thực hành bởi người Đức trong cuộc chiến tại Ba Lan, Hòa Lan và Anh Quốc, và đạt đến tột đỉnh trong vụ Mỹ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki.

Sự lan tràn của các phong trào cách mạng trong Thế Giới Thứ Ba từ cuối thập niên 1940 và phong trào khủng bố trên quy mô toàn cầu từ cuối thập niên 1960, còn đẩy lối tư duy này đi xa hơn nữa khi họ thường tránh né các mục tiêu quân sự và lấy thường dân cùng những người không có khả năng chiến đấu làm các mục tiêu chính.

Những cuộc tấn công hôm 11 tháng Chín là những ví dụ hùng hồn nhất về thứ chiến tranh mà trong đó thế giới dân sự thấy mình bị lôi cuốn vào. Tuy nhiên, trong trường hợp này, sự câm nín áp đặt lên các nạn nhân đã bị phá vỡ bởi thân nhân của họ và bởi sự công bố những mẩu chuyện và những kỷ niệm về cuộc đời họ. Loạt bài gần đây trên tờ Der Spiegel về những nạn nhân của cuộc ném bom xuống các thành phố của Đức trong Thế Chiến Thứ Hai, giết chết 600,000 người, gồm cả 75,000 trẻ em là một ví dụ khác cho thấy cách thức mà sự câm nín của các nạn nhân đã bị phá vỡ.

Kierkegaard có lần đã nhận xét rằng "những con số là sự phủ nhận của sự thật". Chúng tôi thấy điều này đúng biết bao khi nhắc lại những con số thống kê về những người bị giết trong chiến tranh. Mỗi một "con số" tiêu biểu cho một cá thể đặc thù, một nhân cách độc đáo, thường đã bị giết chết trong một cách thức rất tàn bạo. Nhưng những con số trơ trọi về những người bị giết che mắt nhân loại khỏi những cách thức tàn bạo mà từng người trong họ đã bị giết. Sự bí ẩn áp đặt lên những nạn nhân tự nó là một phần của điều mà Đức Thánh Cha đã mô tả như là "sự thất bại của nhân loại" do chiến tranh gây ra.

Chiến tranh không luôn luôn có thể tránh được là một phần thảm kịch của tình trạnh nhân loại mà đôi khi độc tài và bất công áp đặt lên chúng ta. Đức bác ái đòi buộc chúng ta phải bảo vệ những ai chúng ta yêu mến và những ai chúng ta chịu trách nhiệm, và điều này bao gồm cả những nạn nhân câm nín của chiến tranh, những người không còn nói được về những bất công mà họ đã phải gánh chịu. Nhiệm vụ của cộng đồng Kitô Giáo là trợ giúp những nạn nhân này một tiếng nói, và vang vọng với tiếng nói đó lời nói "Vâng với sự sống! Không với sự chết! Không với chiến tranh!".

Giáo sư Julian Porteous, Sydney