Roma (Chiesa) – Cũng như tại Trung quốc, giáo hội Công giáo đang bị thử thách gắt gao tại một nước khổng lồ khác ở châu Á: đó là Ấn độ.
Có hai vấn đề ưu tiên nhất mà giáo hội Công giáo Ấn độ phải đương đầu.
Quan tâm thứ nhất là “đề cao phụ nữ trong giáo hội và trong xã hội”, đó là chủ đề cuộc khoáng đại hội nghị của các giám mục Ấn độ, nhóm họp từ ngày 13 đến 20 tháng 2 tại Jamshedpur, cách thủ đô Delhi 800 miles về phía đông nam.
Đức Hồng y Stanislaw Rylko, chủ tịch Hội đồng giáo hoàng về Giáo dân, đã từ Roma đến khai mạc hội nghị quan trọng này, tổ chức mỗi hai năm một lần.
Trong diễn từ khai mạc ngài nhấn mạnh đến bệnh dịch giết hại trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ nữ sơ sinh.
Việc giết trẻ gái, khi còn là bào thai trong bụng mẹ hoặc sau khi sinh – thường bằng cách cho ăn các loại cỏ độc hoặc dìm chết dưới nước, ngụy tạo thành một tai nạn – là những hành động rất phổ biến tại Ấn.
Trong nhiều gia đình, chuyện sinh con gái được coi là một gánh nặng không kham nổi, một phần vì của hồi môn rất đắt giá phải cho con gái khi về nhà chồng sau này. Khả năng biết trước được giới tính nam hay nữ của đứa trẻ chưa ra đời đã làm gia tăng hành động phá thai có chọn lựa tới mức rất lớn.
Để ngăn chặn chuyện sát nhân như thế, chính phủ Ấn đã cấm không cho xác định giới tính của trẻ chưa ra đời, nhưng chuyện cấm đoán này phần lớn đều bị qua mặt. Hậu quả tạo ra là sự bất quân bình đáng ngạc nhiên về dân số giữa nam và nữ, có một ít nơi đã tiến tới quá mức. Trong bang Madhya Pradesh, tại các quận Bhind và Morena, nay cứ 1000 người đàn ông thì chỉ có 400 phụ nữ.
Giáo hội Công giáo đã chống lại hiện tượng này và cùng thỏa hiệp với các tôn giáo khác, lại một lần nữa thức tỉnh lương tâm con người. Sáng kiến gần đây nhầt trong nỗ lực này là lời kêu gọi công bố hồi cuối tháng giêng của 200 nhà lãnh đạo các tôn giáo ở Ấn, như Kitô giáo, Ấn giáo, Hồi giáo, Sikh…chống lại “tội ác phạm đến Thượng đế và nhân loại” này.
Một chiến dịch không kém mạnh mẽ chống lại tai họa “mất dần phụ nữ” tại Ấn và các quốc gia khác cũng đã khai diễn tại Italia hồi tháng 9 năm qua do một nhà trí thức thế tục là ông Giuliano Ferrara, giám đốc nhật báo "il Foglio."
Thực tế thứ nhì đang thử thách cay nghiệt giáo hội tại Ấn là những bạo hành chống người Kitô hữu của các nhóm thuộc Ấn giáo cuồng tín.
Bạo hành đã tiến tới cao độ trong những năm vừa qua, nhất là tại một số bang như Gujarat và Orissa. Năm 1999, tại Orissa, đối diện Vịnh Bengal, nằm ở phía nam Calcutta, nhà truyền giáo Tin Lành người nước Úc là Graham Staines và hai con đã bị giết sau khi xe họ bị đốt cháy.
Những kẻ thù ghét người Kitô giáo thì kết án họ tuyên truyền giảng đạo, và như vậy là vi phạm vào Hindutwa, căn tính giữa Ấn độ và Ấn giáo, khẳng định do những trào lưu quốc gia của người theo Hồi giáo với tinh thần bất khoan dung.
Trong thực tế, trong số 1.2 tỉ dân Ấn độ, số người theo Kitô giáo thuộc mọi tông phái chỉ chiếm hơn 2 phần trăm. Và số người này không tăng thêm mà dần dần giảm đi, tuy chậm: từ 2.6 phần trăm năm 1971 giảm xuống còn 2.3 phần trăm vào năm 2001.
Nhưng trong khi đó, ở Ấn độ, cứ 5 trường tiểu học, cứ 4 nhà dành cho góa phụ và trẻ mồ côi, cứ 3 nhà dành cho người cùi và mang bệnh AIDS, thì có 1 do người Kitô giáo điều hành. Mẹ Têrêxa Calcutta là niềm tự hào của cả đất nước, trừ ra đối với những người theo Ấn giáo cuồng tín.
Trong thực tế, sự bùng nổ bạo lực gần đây nhất chống lại người Kitô hữu xảy ra tại Orissa cũng không tha ngay cả các nam nữ tu sĩ của Mẹ Têrêxa. Kỳ lễ Giáng sinh vừa qua, ba trong số các nhà của tu hội trong quận hạt Khandhamai bị tấn công do một bọn người võ trang bằng kiếm, dìu, roi sắt và dùi cui. Các nam nữ tu sĩ phải chạy trốn vào rừng. Bọn gây hấn còn trút giận bằng cách tàn phá các ngôi nhà ở và nhà nguyện.
Làn sóng gây hấn chống người Kitô giáo bắt đầu vào chiều trước lễ Giáng sinh và tiếp tục những ngày hôm sau tại nhiều địa điểm. Chúng tấn công các thánh đường, đốt nhà cửa, phá hủy các tiệm buôn.
Hồng y Telesphore Toppo, tổng giám mục Ranchi, sau khi thăm viếng các khu vực bị tàn phá đã mô tả lại những gì ngài nhìn thấy cho thông tấn xã Asia News:
“Một dải tro than là những gì còn lại trong các khu vực bị tàn phá do bạo hành chống Kitô giáo vào dịp lễ Giáng sinh tại Orissa. Thật là tồi tệ; thánh đường bị mạo phạm, nhà cửa bị thiêu cháy. Những ngôi làng bị bọn người Ấn giáo cực đoan phá hoại nay chỉ còn là mảnh đất rộng bị thiêu hủy.”
Raphael Cheenath, tổng giám mục Cuttack và Bhubaneswar là giáo phận bị thiệt hại nhất, trong một bản ước tính công bố hồi cuối tháng giêng cho biết có 6 người chết, 5000 người không nơi ở, số cơ sở nhà cửa bị hủy hoại gồm: 70 nhà thờ, 600 nhà ở, 6 tu viện và 3 chủng viện. Hội nghị các giám mục Ấn cũng chuyển một báo cáo tương tự như thế trong văn thư gửi tới ủy ban quốc gia về nhân quyền.
Trong bản báo cáo, Tổng giám mục Cheenath thẳng tay chỉ vào những kẻ mà ngài cho là đã xúi giục các hành vi gây hấn chống Kitô hữu: đó là những người không-tưởng theo Ấn giáo với tinh thần bất khoan dung, ẩn náu trong nhóm Vishva Hindu Parishad, và các thành viên của đẳng cấp cao trong xã hội Ấn thường không có thiện cảm đối với sự thăng tiến xã hội của những người Dalits, hạng cùng đinh, những kẻ bị ruồng bỏ và “không thanh khiết”, nhiều người trong số này đã trở lại theo Kitô giáo.
Có hai vấn đề ưu tiên nhất mà giáo hội Công giáo Ấn độ phải đương đầu.
Quan tâm thứ nhất là “đề cao phụ nữ trong giáo hội và trong xã hội”, đó là chủ đề cuộc khoáng đại hội nghị của các giám mục Ấn độ, nhóm họp từ ngày 13 đến 20 tháng 2 tại Jamshedpur, cách thủ đô Delhi 800 miles về phía đông nam.
Đức Hồng y Stanislaw Rylko, chủ tịch Hội đồng giáo hoàng về Giáo dân, đã từ Roma đến khai mạc hội nghị quan trọng này, tổ chức mỗi hai năm một lần.
Trong diễn từ khai mạc ngài nhấn mạnh đến bệnh dịch giết hại trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ nữ sơ sinh.
Việc giết trẻ gái, khi còn là bào thai trong bụng mẹ hoặc sau khi sinh – thường bằng cách cho ăn các loại cỏ độc hoặc dìm chết dưới nước, ngụy tạo thành một tai nạn – là những hành động rất phổ biến tại Ấn.
Trong nhiều gia đình, chuyện sinh con gái được coi là một gánh nặng không kham nổi, một phần vì của hồi môn rất đắt giá phải cho con gái khi về nhà chồng sau này. Khả năng biết trước được giới tính nam hay nữ của đứa trẻ chưa ra đời đã làm gia tăng hành động phá thai có chọn lựa tới mức rất lớn.
Để ngăn chặn chuyện sát nhân như thế, chính phủ Ấn đã cấm không cho xác định giới tính của trẻ chưa ra đời, nhưng chuyện cấm đoán này phần lớn đều bị qua mặt. Hậu quả tạo ra là sự bất quân bình đáng ngạc nhiên về dân số giữa nam và nữ, có một ít nơi đã tiến tới quá mức. Trong bang Madhya Pradesh, tại các quận Bhind và Morena, nay cứ 1000 người đàn ông thì chỉ có 400 phụ nữ.
Giáo hội Công giáo đã chống lại hiện tượng này và cùng thỏa hiệp với các tôn giáo khác, lại một lần nữa thức tỉnh lương tâm con người. Sáng kiến gần đây nhầt trong nỗ lực này là lời kêu gọi công bố hồi cuối tháng giêng của 200 nhà lãnh đạo các tôn giáo ở Ấn, như Kitô giáo, Ấn giáo, Hồi giáo, Sikh…chống lại “tội ác phạm đến Thượng đế và nhân loại” này.
Một chiến dịch không kém mạnh mẽ chống lại tai họa “mất dần phụ nữ” tại Ấn và các quốc gia khác cũng đã khai diễn tại Italia hồi tháng 9 năm qua do một nhà trí thức thế tục là ông Giuliano Ferrara, giám đốc nhật báo "il Foglio."
Thực tế thứ nhì đang thử thách cay nghiệt giáo hội tại Ấn là những bạo hành chống người Kitô hữu của các nhóm thuộc Ấn giáo cuồng tín.
Bạo hành đã tiến tới cao độ trong những năm vừa qua, nhất là tại một số bang như Gujarat và Orissa. Năm 1999, tại Orissa, đối diện Vịnh Bengal, nằm ở phía nam Calcutta, nhà truyền giáo Tin Lành người nước Úc là Graham Staines và hai con đã bị giết sau khi xe họ bị đốt cháy.
Những kẻ thù ghét người Kitô giáo thì kết án họ tuyên truyền giảng đạo, và như vậy là vi phạm vào Hindutwa, căn tính giữa Ấn độ và Ấn giáo, khẳng định do những trào lưu quốc gia của người theo Hồi giáo với tinh thần bất khoan dung.
Trong thực tế, trong số 1.2 tỉ dân Ấn độ, số người theo Kitô giáo thuộc mọi tông phái chỉ chiếm hơn 2 phần trăm. Và số người này không tăng thêm mà dần dần giảm đi, tuy chậm: từ 2.6 phần trăm năm 1971 giảm xuống còn 2.3 phần trăm vào năm 2001.
Nhưng trong khi đó, ở Ấn độ, cứ 5 trường tiểu học, cứ 4 nhà dành cho góa phụ và trẻ mồ côi, cứ 3 nhà dành cho người cùi và mang bệnh AIDS, thì có 1 do người Kitô giáo điều hành. Mẹ Têrêxa Calcutta là niềm tự hào của cả đất nước, trừ ra đối với những người theo Ấn giáo cuồng tín.
Trong thực tế, sự bùng nổ bạo lực gần đây nhất chống lại người Kitô hữu xảy ra tại Orissa cũng không tha ngay cả các nam nữ tu sĩ của Mẹ Têrêxa. Kỳ lễ Giáng sinh vừa qua, ba trong số các nhà của tu hội trong quận hạt Khandhamai bị tấn công do một bọn người võ trang bằng kiếm, dìu, roi sắt và dùi cui. Các nam nữ tu sĩ phải chạy trốn vào rừng. Bọn gây hấn còn trút giận bằng cách tàn phá các ngôi nhà ở và nhà nguyện.
Làn sóng gây hấn chống người Kitô giáo bắt đầu vào chiều trước lễ Giáng sinh và tiếp tục những ngày hôm sau tại nhiều địa điểm. Chúng tấn công các thánh đường, đốt nhà cửa, phá hủy các tiệm buôn.
Hồng y Telesphore Toppo, tổng giám mục Ranchi, sau khi thăm viếng các khu vực bị tàn phá đã mô tả lại những gì ngài nhìn thấy cho thông tấn xã Asia News:
“Một dải tro than là những gì còn lại trong các khu vực bị tàn phá do bạo hành chống Kitô giáo vào dịp lễ Giáng sinh tại Orissa. Thật là tồi tệ; thánh đường bị mạo phạm, nhà cửa bị thiêu cháy. Những ngôi làng bị bọn người Ấn giáo cực đoan phá hoại nay chỉ còn là mảnh đất rộng bị thiêu hủy.”
Raphael Cheenath, tổng giám mục Cuttack và Bhubaneswar là giáo phận bị thiệt hại nhất, trong một bản ước tính công bố hồi cuối tháng giêng cho biết có 6 người chết, 5000 người không nơi ở, số cơ sở nhà cửa bị hủy hoại gồm: 70 nhà thờ, 600 nhà ở, 6 tu viện và 3 chủng viện. Hội nghị các giám mục Ấn cũng chuyển một báo cáo tương tự như thế trong văn thư gửi tới ủy ban quốc gia về nhân quyền.
Trong bản báo cáo, Tổng giám mục Cheenath thẳng tay chỉ vào những kẻ mà ngài cho là đã xúi giục các hành vi gây hấn chống Kitô hữu: đó là những người không-tưởng theo Ấn giáo với tinh thần bất khoan dung, ẩn náu trong nhóm Vishva Hindu Parishad, và các thành viên của đẳng cấp cao trong xã hội Ấn thường không có thiện cảm đối với sự thăng tiến xã hội của những người Dalits, hạng cùng đinh, những kẻ bị ruồng bỏ và “không thanh khiết”, nhiều người trong số này đã trở lại theo Kitô giáo.