Vatican (VIS) – Sáng ngày 7 tháng giêng tại điện Sala Regia thuộc Tòa thánh Vatican, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã đọc bài diễn từ hàng năm theo truyền thống trước các nhà ngoại giao đang phục vụ tại Tòa thánh.
Ngài cũng nhận được lời chúc mừng của các đại sứ trong bài diễn văn do ông Giovanni Galassi đọc. Ông là đại sứ nước San Marino và là niên trưởng ngoại giao đoàn.
Tòa thánh hiện đang duy trì quan hệ ngoại giao với 176 quốc gia, cộng thêm Liên hiệp Âu châu và Chính quyền Quân sự tối cao tại Malta. Ngoài ra Tòa thánh cũng có quan hệ đặc biệt với Liên hiệp Nga và Tổ chức Giải phóng Palestine.
Mở đầu bài diễn từ, Đức Giáo hoàng nhắc lại việc thiết lập những quan hệ ngoại giao năm qua với Vương quốc Ảrập Thống nhất. Ngài cũng đề cập đến những cuộc tông du của mình tại nước ngoài, như cuộc thăm viếng nước Ba tây hồi tháng năm năm ngoái. Về vấn đề này, ngài bày tỏ niềm hy vọng có được “sự hợp tác ngày càng tăng tiến giữa các dân tộc Châu Mỹ La tinh, và, trong phạm vi mỗi quốc gia tạo thành lục địa này, có được những giải quyết các xung đột nội bộ”.
Ngài nói: “Tôi muốn đề cập tới Cuba, nơi đang chuẩn bị mừng kỷ niệm 10 năm ngày thăm viếng của vị tiền nhiệm đáng kính của tôi. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã được các nhà cầm quyền và dân chúng nơi đó yêu thương đón tiếp, và ngài đã khuyến khích mọi người Cuba cùng nhau làm việc cho một tương lai tốt đẹp hơn. Tôi muốn được nhắc lại sứ điệp hy vọng đó, đến nay vẫn chưa mất chút nào tính cách thích đáng.
Ngài nói tiếp: “Tôi đặc biệt tưởng nhớ và cầu nguyện cho những người gặp phải thiên tai. Tôi nghĩ tới nạn bão lụt đã tàn phá một số vùng tại Mexico và Trung Mỹ, cũng như các quốc gia tại châu Phi và châu Á, đặc biệt là Bangladesh, và một phần tại châu Đại dương”.
Phản ảnh mối quan ngại của cộng đồng quốc tế về tình hình ở Trung Đông, ngài nói: “Tôi vui mừng với việc Hội nghị Annapolis nhằm tiến tới việc bãi bỏ các giải pháp phe phái và một chiều, ủng hộ một bước tiến toàn cầu nhằm tôn trọng quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các dân tộc trong khu vực này. Một lần nữa tôi kêu gọi người Israel và người Palestine tập trung năng lực vào việc thực thi các cam kết đã đưa ra trong dịp đó, và thi hành tiến trình đã được tái khởi đầu một cách tốt đẹp. Hơn nữa, tôi mời gọi cộng đồng quốc tế hỗ trợ mạnh mẽ cho hai dân tộc này và hiểu biết những nỗi đau thương cũng như niềm lo lắng của họ.
“Ai mà không cảm động về cảnh ngộ của Lebanon, giữa khi các thử thách và tất cả bạo lực tiếp tục rung chuyển xứ sở thân yêu này? Điều nguyện ước chân thành nhất của tôi là dân tộc Lebanon có thể tự do quyết định tương lai của mình, và tôi cầu nguyện Thượng Đế soi sáng cho họ, bắt đầu từ các nhà lãnh đạo đời sống công cộng, để cho, khi đặt các quyền lợi riêng tư ra bên cạnh, họ sẽ có thể sẵn sàng cam kết đi vào con đường đối thoại và hòa giải. Chỉ trong đường hướng này, quốc gia mới có thể tiến bộ trong ổn định và trở thành một lần nữa tấm gương cho sự chung sống hoà bình giữa các cộng đồng khác biệt.
“Tại Iraq cũng thế, sự hòa giải là điều khẩn thiết. Hiện nay, những cuộc tấn công khủng bố, đe dọa và bạo lực vẫn tiếp tục, nhất là đối với những cộng đồng Thiên Chúa giáo, và các tin tức mới ngày hôm qua đây xác nhận mối quan ngại của chúng ta; rõ rệt là một số vấn đề chính trị khó khăn còn chưa được giải quyết. Trong bối cảnh này, cần có một sự cải cách về hiến pháp thích hợp để bảo đảm quyền lợi của những người thiểu số. Cần có các sự cứu trợ nhân đạo quan trọng cho những người bị ảnh hưởng của chiến tranh, tôi đặc biệt nghĩ đến những người phải di tản trong nước và những người tị nạn phải trốn sang nước ngoài, trong đó có nhiều người Thiên Chúa giáo”.
“Tôi cũng muốn bày tỏ sự ủng hộ của tôi đối với công cuộc theo đuổi tiếp tục và không ngừng nghỉ con đường ngoại giao để giải quyết vấn đề chương trình hạt nhân của Iran, bằng thành tâm thương thuyết, chấp nhận các biện pháp nhằm gia tăng sự trong sáng và tin cậy lẫn nhau, và luôn luôn đặt nặng nhu cầu đích thực của các dân tộc và phúc lợi chung của gia đình nhân loại.
“Nhìn về toàn bộ châu Á, tôi muốn lưu ý quý vị về một số tình trạng khủng hoảng khác, trước nhất là tại Pakistan nơi đã bị khổ đau vì bạo lực trầm trọng trong mấy tháng qua. Tôi hy vọng là tất cả những lực lượng chính trị và xã hội sẽ cam kết xây dựng một xã hội hoà bình, tôn trọng quyền lợi của tất cả mọi người. Tại Afghanistan, ngoài bạo lực ra còn có các vấn để xã hội trầm trọng khác nữa, chẳng hạn việc sản xuất các chất ma túy”.
Về vấn đề châu Phi, Đức thánh cha nói: “Trước nhất tôi muốn nhắc lại mối đau đớn sâu xa của tôi khi thấy rằng hy vọng dường như tan biến đi do liên tiếp những đói khát và chết chóc đe dọa trải dài tại Darfur. Bằng tất cả lòng mình, tôi cầu mong rằng nỗ lực kết hợp của Liên Hiệp quốc và Liên hiệp châu Phi, mà sứ mạng mới chỉ khởi đầu, sẽ mang lại sự cứu trợ và an ủi đến cho những người đang đau khổ”.
“Somalia, đặc biệt là Mogadishu, tiếp tục bị ảnh hưởng bởi bạo lực và nghèo đói. Tôi kêu gọi các phe phái trong cuộc tranh chấp hãy ngưng các cuộc hành quân quân sự, giúp cho sự chuyên chở những cứu trợ nhân đạo, và hãy tôn trọng người dân thường.
“Trong những ngày vừa qua, Kenya đã trải qua một cuộc bùng nổ bạo lực bất ngờ. Cùng với các vị giám mục nơi đây trong lời kêu gọi ngày 2 tháng giêng, tôi mời tất cả dân chúng, đặc biệt là các nhà lãnh đạo chính trị, tìm ra một giải pháp hoà bình qua đối thoại, đặt căn bản trên công lý và tình huynh đệ”.
Cuối cùng Đức thánh cha chú ý tới châu Âu: “Tôi vui mừng vì các tiến bộ đạt được nơi nhiều quốc gia vùng Balkan, và một lần nữa tôi bày tỏ niềm hy vọng rắng quy chế dứt khoát tại Kosovo sẽ cứu xét đến các đòi hỏi chính đáng của các phe phái liên hệ và sẽ bảo đảm an ninh cũng như tôn trọng quyền lợi của tất cả dân chúng tại đất nước này để cho ám ảnh bạo lực được xóa bỏ và sự ổn định của châu Âu được củng cố”.
Cũng về vấn đề châu Âu, Đức thánh cha bảo đảm rằng ngài đang “chú ý theo dõi giai đoạn mới bắt đầu bằng việc ký kết Hiệp ước Lisbon. Bước đi này thúc đẩy tiến trình xây dựng ‘ngôi nhà châu Âu’ sẽ là nơi tốt đẹp để sinh sống cho mọi người chỉ khi nào nó được xây dựng trên nền tảng vững chắc về văn hóa và luân lý nơi các giá trị chung rút ra từ lịch sử và các truyền thống của chúng ta và nếu nó không từ chối cội nguồn Kitô giáo của mình”.
“Điểm qua nhanh chóng các sự việc, ta thấy rõ là an ninh và ổn định trên thế giới hãy còn mong manh. Các yếu tố đáng quan ngại thì thay đổi và luật pháp chỉ có thể là một sức mạnh hữu hiệu nếu nền tảng được neo chắc vào luật lệ tự nhiên do Đấng Sáng tạo ban phát. Đây là một lý do nữa cho biết không bao giờ có thể loại bỏ Thượng Đế ra ngoài chân trời của nhân loại và của lịch sử. Danh Chúa là tên của công lý, biểu dương tiếng gọi cấp thiết cho hòa bình”.
“Sự nhận thức này, cùng với nhiều điều khác nữa, có thể giúp tìm ra hướng đi cho các sáng kiến về đối thoại liên văn hóa và liên tôn giáo…Để thành sự thực, việc đối thoại này phải trong sáng, tránh chủ nghĩa tương đối và thuyết hỗn đồng, đồng thời phải được ghi dấu bằng sự tương kính và tinh thần hòa giải cũng như tình huynh đệ”.
“Ở mọi châu lục, Giáo hội Công giáo cố gắng bảo đảm rằng nhân quyền chẳng những phải được tuyên dương mà còn phải được đem ra thực hành. Hy vọng rằng các cơ quan được lập ra để bảo vệ và phát huy nhân quyền sẽ đem hết nỗ lực phục vụ công tác này và đặc biệt là Hội đồng về Nhân quyền sẽ đáp ứng được những điều ước vọng của những người thành lập ra tổ chức đó”.
“Tòa thánh, về phần mình, không bao giờ mệt mỏi khi tái khẳng định các nguyên tắc và các quyền này, đặt cơ sở trên những gì là thiết yếu và thường trực nơi nhân vị con người. Giáo hội muốn thực thi sứ vụ này nhằm đến phẩm giá đích thực của con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Và căn cứ trên các lý do này, tôi không thể một lần nữa không phàn nàn về những cuộc tấn công tiếp nối chống lại sinh mạng con người nơi mọi châu lục”.
“Tôi vui mừng vì ngày 18 tháng 12 Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã chấp thuận một nghị quyết kêu gọi các quốc gia tạm ngưng dùng án tử hình, và tôi ao ước rằng sáng kiến này sẽ đưa đến việc công khai thảo luận về tính cách thánh thiêng của mạng sống con người”.
“Một lần nữa, tôi lấy làm tiếc về những mối đe dọa làm xáo trộn sự toàn vẹn của gia đình, được thành lập trên sự hôn phối giữa một người nam và một người nữ. Các nhà lãnh đạo chính trị, dù thuộc loại nào, cũng nên bảo vệ cơ chế thiết yếu này, là tế bào căn bản của xã hội”.
“Ngay cả tư do tôn giáo, ‘một nhu cầu thiết yếu cho phẩm giá mỗi con người và viên đá nền móng của cơ cấu nhân quyền’ cũng thường bị phá hoại. Có nhiều nơi quyền này không được hoàn toàn thực thi. Tòa thánh bảo vệ quyền này, đòi hỏi phải được tôn trọng trên bình diện toàn cầu, và quan ngại về các điều kỳ thị chống lại người Kitô hữu cũng như các tín đồ các tôn giáo khác”.
“Hòa bình không thể chỉ đơn thuần là một từ ngữ và một khát khao vô vọng. Hòa bình là một cam kết và một lối sống đòi hỏi rằng nguyện vọng chính đáng của mọi người phải được thỏa mãn, chẳng hạn được có thực phẩm, nước uống và nhiên liệu, thuốc men và kỹ thuật, hoặc theo dõi sự thay đổi về khí hậu. Chỉ trong đường hướng này chúng ta mới có thể xây dựng được tương lai cho nhân loại; chỉ trong đường hướng này chúng ta mới có thể thúc đẩy một sự phát triển toàn bộ và có giá trị cho hôm nay cũng như ngày mai”.
“Sau cùng, tôi muốn thúc giục cộng đồng quốc tế cùng đưa ra lời cam kết trên bình diện toàn cầu về an ninh. Một nỗ lực liên hợp về phía các quốc gia để thực thi tất cả các nhiệm vụ đã cam kết và phòng ngừa không cho những kẻ khủng bố có được các vũ khí phá hoại hàng loạt sẽ chắc chắn củng cố chế độ không phổ biến võ khí hạt nhân và làm cho nó có hiệu quả hơn”.
Đức Giáo hoàng kết luận: “Trong một ý nghĩa nào đó, ngoại giao là một nghệ thuật về hy vọng. Nó sống động nhờ niềm cậy trông và kiếm tìm sự phân biệt ra ngay cả những dấu hiệu tế nhị nhất. Nghệ thuật ngoại giao phải phân phát ra niềm hy vọng…Ước chi Thượng đế mở lòng của những kẻ đang cai trị gia đình các dân tộc để họ đi vào niềm hy vọng mà sẽ không bao giờ làm ai thất vọng.”
Ngài cũng nhận được lời chúc mừng của các đại sứ trong bài diễn văn do ông Giovanni Galassi đọc. Ông là đại sứ nước San Marino và là niên trưởng ngoại giao đoàn.
Tòa thánh hiện đang duy trì quan hệ ngoại giao với 176 quốc gia, cộng thêm Liên hiệp Âu châu và Chính quyền Quân sự tối cao tại Malta. Ngoài ra Tòa thánh cũng có quan hệ đặc biệt với Liên hiệp Nga và Tổ chức Giải phóng Palestine.
Mở đầu bài diễn từ, Đức Giáo hoàng nhắc lại việc thiết lập những quan hệ ngoại giao năm qua với Vương quốc Ảrập Thống nhất. Ngài cũng đề cập đến những cuộc tông du của mình tại nước ngoài, như cuộc thăm viếng nước Ba tây hồi tháng năm năm ngoái. Về vấn đề này, ngài bày tỏ niềm hy vọng có được “sự hợp tác ngày càng tăng tiến giữa các dân tộc Châu Mỹ La tinh, và, trong phạm vi mỗi quốc gia tạo thành lục địa này, có được những giải quyết các xung đột nội bộ”.
Ngài nói: “Tôi muốn đề cập tới Cuba, nơi đang chuẩn bị mừng kỷ niệm 10 năm ngày thăm viếng của vị tiền nhiệm đáng kính của tôi. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã được các nhà cầm quyền và dân chúng nơi đó yêu thương đón tiếp, và ngài đã khuyến khích mọi người Cuba cùng nhau làm việc cho một tương lai tốt đẹp hơn. Tôi muốn được nhắc lại sứ điệp hy vọng đó, đến nay vẫn chưa mất chút nào tính cách thích đáng.
Ngài nói tiếp: “Tôi đặc biệt tưởng nhớ và cầu nguyện cho những người gặp phải thiên tai. Tôi nghĩ tới nạn bão lụt đã tàn phá một số vùng tại Mexico và Trung Mỹ, cũng như các quốc gia tại châu Phi và châu Á, đặc biệt là Bangladesh, và một phần tại châu Đại dương”.
Phản ảnh mối quan ngại của cộng đồng quốc tế về tình hình ở Trung Đông, ngài nói: “Tôi vui mừng với việc Hội nghị Annapolis nhằm tiến tới việc bãi bỏ các giải pháp phe phái và một chiều, ủng hộ một bước tiến toàn cầu nhằm tôn trọng quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các dân tộc trong khu vực này. Một lần nữa tôi kêu gọi người Israel và người Palestine tập trung năng lực vào việc thực thi các cam kết đã đưa ra trong dịp đó, và thi hành tiến trình đã được tái khởi đầu một cách tốt đẹp. Hơn nữa, tôi mời gọi cộng đồng quốc tế hỗ trợ mạnh mẽ cho hai dân tộc này và hiểu biết những nỗi đau thương cũng như niềm lo lắng của họ.
“Ai mà không cảm động về cảnh ngộ của Lebanon, giữa khi các thử thách và tất cả bạo lực tiếp tục rung chuyển xứ sở thân yêu này? Điều nguyện ước chân thành nhất của tôi là dân tộc Lebanon có thể tự do quyết định tương lai của mình, và tôi cầu nguyện Thượng Đế soi sáng cho họ, bắt đầu từ các nhà lãnh đạo đời sống công cộng, để cho, khi đặt các quyền lợi riêng tư ra bên cạnh, họ sẽ có thể sẵn sàng cam kết đi vào con đường đối thoại và hòa giải. Chỉ trong đường hướng này, quốc gia mới có thể tiến bộ trong ổn định và trở thành một lần nữa tấm gương cho sự chung sống hoà bình giữa các cộng đồng khác biệt.
“Tại Iraq cũng thế, sự hòa giải là điều khẩn thiết. Hiện nay, những cuộc tấn công khủng bố, đe dọa và bạo lực vẫn tiếp tục, nhất là đối với những cộng đồng Thiên Chúa giáo, và các tin tức mới ngày hôm qua đây xác nhận mối quan ngại của chúng ta; rõ rệt là một số vấn đề chính trị khó khăn còn chưa được giải quyết. Trong bối cảnh này, cần có một sự cải cách về hiến pháp thích hợp để bảo đảm quyền lợi của những người thiểu số. Cần có các sự cứu trợ nhân đạo quan trọng cho những người bị ảnh hưởng của chiến tranh, tôi đặc biệt nghĩ đến những người phải di tản trong nước và những người tị nạn phải trốn sang nước ngoài, trong đó có nhiều người Thiên Chúa giáo”.
“Tôi cũng muốn bày tỏ sự ủng hộ của tôi đối với công cuộc theo đuổi tiếp tục và không ngừng nghỉ con đường ngoại giao để giải quyết vấn đề chương trình hạt nhân của Iran, bằng thành tâm thương thuyết, chấp nhận các biện pháp nhằm gia tăng sự trong sáng và tin cậy lẫn nhau, và luôn luôn đặt nặng nhu cầu đích thực của các dân tộc và phúc lợi chung của gia đình nhân loại.
“Nhìn về toàn bộ châu Á, tôi muốn lưu ý quý vị về một số tình trạng khủng hoảng khác, trước nhất là tại Pakistan nơi đã bị khổ đau vì bạo lực trầm trọng trong mấy tháng qua. Tôi hy vọng là tất cả những lực lượng chính trị và xã hội sẽ cam kết xây dựng một xã hội hoà bình, tôn trọng quyền lợi của tất cả mọi người. Tại Afghanistan, ngoài bạo lực ra còn có các vấn để xã hội trầm trọng khác nữa, chẳng hạn việc sản xuất các chất ma túy”.
Về vấn đề châu Phi, Đức thánh cha nói: “Trước nhất tôi muốn nhắc lại mối đau đớn sâu xa của tôi khi thấy rằng hy vọng dường như tan biến đi do liên tiếp những đói khát và chết chóc đe dọa trải dài tại Darfur. Bằng tất cả lòng mình, tôi cầu mong rằng nỗ lực kết hợp của Liên Hiệp quốc và Liên hiệp châu Phi, mà sứ mạng mới chỉ khởi đầu, sẽ mang lại sự cứu trợ và an ủi đến cho những người đang đau khổ”.
“Somalia, đặc biệt là Mogadishu, tiếp tục bị ảnh hưởng bởi bạo lực và nghèo đói. Tôi kêu gọi các phe phái trong cuộc tranh chấp hãy ngưng các cuộc hành quân quân sự, giúp cho sự chuyên chở những cứu trợ nhân đạo, và hãy tôn trọng người dân thường.
“Trong những ngày vừa qua, Kenya đã trải qua một cuộc bùng nổ bạo lực bất ngờ. Cùng với các vị giám mục nơi đây trong lời kêu gọi ngày 2 tháng giêng, tôi mời tất cả dân chúng, đặc biệt là các nhà lãnh đạo chính trị, tìm ra một giải pháp hoà bình qua đối thoại, đặt căn bản trên công lý và tình huynh đệ”.
Cuối cùng Đức thánh cha chú ý tới châu Âu: “Tôi vui mừng vì các tiến bộ đạt được nơi nhiều quốc gia vùng Balkan, và một lần nữa tôi bày tỏ niềm hy vọng rắng quy chế dứt khoát tại Kosovo sẽ cứu xét đến các đòi hỏi chính đáng của các phe phái liên hệ và sẽ bảo đảm an ninh cũng như tôn trọng quyền lợi của tất cả dân chúng tại đất nước này để cho ám ảnh bạo lực được xóa bỏ và sự ổn định của châu Âu được củng cố”.
Cũng về vấn đề châu Âu, Đức thánh cha bảo đảm rằng ngài đang “chú ý theo dõi giai đoạn mới bắt đầu bằng việc ký kết Hiệp ước Lisbon. Bước đi này thúc đẩy tiến trình xây dựng ‘ngôi nhà châu Âu’ sẽ là nơi tốt đẹp để sinh sống cho mọi người chỉ khi nào nó được xây dựng trên nền tảng vững chắc về văn hóa và luân lý nơi các giá trị chung rút ra từ lịch sử và các truyền thống của chúng ta và nếu nó không từ chối cội nguồn Kitô giáo của mình”.
“Điểm qua nhanh chóng các sự việc, ta thấy rõ là an ninh và ổn định trên thế giới hãy còn mong manh. Các yếu tố đáng quan ngại thì thay đổi và luật pháp chỉ có thể là một sức mạnh hữu hiệu nếu nền tảng được neo chắc vào luật lệ tự nhiên do Đấng Sáng tạo ban phát. Đây là một lý do nữa cho biết không bao giờ có thể loại bỏ Thượng Đế ra ngoài chân trời của nhân loại và của lịch sử. Danh Chúa là tên của công lý, biểu dương tiếng gọi cấp thiết cho hòa bình”.
“Sự nhận thức này, cùng với nhiều điều khác nữa, có thể giúp tìm ra hướng đi cho các sáng kiến về đối thoại liên văn hóa và liên tôn giáo…Để thành sự thực, việc đối thoại này phải trong sáng, tránh chủ nghĩa tương đối và thuyết hỗn đồng, đồng thời phải được ghi dấu bằng sự tương kính và tinh thần hòa giải cũng như tình huynh đệ”.
“Ở mọi châu lục, Giáo hội Công giáo cố gắng bảo đảm rằng nhân quyền chẳng những phải được tuyên dương mà còn phải được đem ra thực hành. Hy vọng rằng các cơ quan được lập ra để bảo vệ và phát huy nhân quyền sẽ đem hết nỗ lực phục vụ công tác này và đặc biệt là Hội đồng về Nhân quyền sẽ đáp ứng được những điều ước vọng của những người thành lập ra tổ chức đó”.
“Tòa thánh, về phần mình, không bao giờ mệt mỏi khi tái khẳng định các nguyên tắc và các quyền này, đặt cơ sở trên những gì là thiết yếu và thường trực nơi nhân vị con người. Giáo hội muốn thực thi sứ vụ này nhằm đến phẩm giá đích thực của con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Và căn cứ trên các lý do này, tôi không thể một lần nữa không phàn nàn về những cuộc tấn công tiếp nối chống lại sinh mạng con người nơi mọi châu lục”.
“Tôi vui mừng vì ngày 18 tháng 12 Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã chấp thuận một nghị quyết kêu gọi các quốc gia tạm ngưng dùng án tử hình, và tôi ao ước rằng sáng kiến này sẽ đưa đến việc công khai thảo luận về tính cách thánh thiêng của mạng sống con người”.
“Một lần nữa, tôi lấy làm tiếc về những mối đe dọa làm xáo trộn sự toàn vẹn của gia đình, được thành lập trên sự hôn phối giữa một người nam và một người nữ. Các nhà lãnh đạo chính trị, dù thuộc loại nào, cũng nên bảo vệ cơ chế thiết yếu này, là tế bào căn bản của xã hội”.
“Ngay cả tư do tôn giáo, ‘một nhu cầu thiết yếu cho phẩm giá mỗi con người và viên đá nền móng của cơ cấu nhân quyền’ cũng thường bị phá hoại. Có nhiều nơi quyền này không được hoàn toàn thực thi. Tòa thánh bảo vệ quyền này, đòi hỏi phải được tôn trọng trên bình diện toàn cầu, và quan ngại về các điều kỳ thị chống lại người Kitô hữu cũng như các tín đồ các tôn giáo khác”.
“Hòa bình không thể chỉ đơn thuần là một từ ngữ và một khát khao vô vọng. Hòa bình là một cam kết và một lối sống đòi hỏi rằng nguyện vọng chính đáng của mọi người phải được thỏa mãn, chẳng hạn được có thực phẩm, nước uống và nhiên liệu, thuốc men và kỹ thuật, hoặc theo dõi sự thay đổi về khí hậu. Chỉ trong đường hướng này chúng ta mới có thể xây dựng được tương lai cho nhân loại; chỉ trong đường hướng này chúng ta mới có thể thúc đẩy một sự phát triển toàn bộ và có giá trị cho hôm nay cũng như ngày mai”.
“Sau cùng, tôi muốn thúc giục cộng đồng quốc tế cùng đưa ra lời cam kết trên bình diện toàn cầu về an ninh. Một nỗ lực liên hợp về phía các quốc gia để thực thi tất cả các nhiệm vụ đã cam kết và phòng ngừa không cho những kẻ khủng bố có được các vũ khí phá hoại hàng loạt sẽ chắc chắn củng cố chế độ không phổ biến võ khí hạt nhân và làm cho nó có hiệu quả hơn”.
Đức Giáo hoàng kết luận: “Trong một ý nghĩa nào đó, ngoại giao là một nghệ thuật về hy vọng. Nó sống động nhờ niềm cậy trông và kiếm tìm sự phân biệt ra ngay cả những dấu hiệu tế nhị nhất. Nghệ thuật ngoại giao phải phân phát ra niềm hy vọng…Ước chi Thượng đế mở lòng của những kẻ đang cai trị gia đình các dân tộc để họ đi vào niềm hy vọng mà sẽ không bao giờ làm ai thất vọng.”