ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐÍCTÔ XVI TRẢ LỜI CHO CÁC CHỦNG SINH
Ngày thứ Bảy 17 tháng 2 năm 2007, nhân ngày lễ Đức Trinh Nữ Cậy Tin, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô 16 đã thăm viếng Đại Chủng Viện Rôma và ngài đã trả lời các câu hỏi của các Chủng sinh. Xin chuyển dịch và giới thiệu đến các Phó Tế, Chủng Sinh và Dự Tu Giáo phận Mỹ Tho nhân mùa tựu trường niên học 2007-2008.
1. Câu hỏi thứ nhất của Chủng Sinh Koicio Dimov, giáo phận Nicopoli, nước Bungari, năm thứ bốn Đại Chủng Viện (năm thứ hai thần học):
Trọng kính Đức Thánh Cha, khi giải thích Chặng Đàng Thánh Giá năm 2005, ngài đã nói về những vết nhơ tồn tại trong Giáo hội, và trong bài giảng lễ phong chức linh mục giáo phận Rôma cùng năm, ngài đã cảnh giác chúng con xa tránh nguy cơ [coi chức linh mục như] “nghề nghiệp”, muốn nên “cao trọng”, tìm kiếm một chỗ đứng nhờ Giáo hội”. Làm sao chúng con có thể đối diện với những vấn đề này một cách khách quan nhất và trách nhiệm nhất có thể?
Đức Giáo Hoàng Bênêđictô 16 trả lời:
Đây không phải là một câu hỏi dễ dàng, nhưng dường như cha đã từng đề cập đến, và đây là điểm quan trọng: Chúa biết, Ngài đã biết ngay từ đầu rằng tội lỗi vẫn tồn tại trong Giáo hội. Thật quan trọng khi nhận ra sự yếu hèn của chúng ta, và không chỉ nhìn thấy tội lỗi nơi những người khác, trong những cơ chế, trong những phẩm trật cấp cao, nhưng còn nhìn thấy nơi chính bản thân chúng ta, để biết khiêm nhường hơn và học biết rằng trước mặt Chúa, địa vị trong Giáo hội là không đáng kể. Điều đáng kể chính là ở lại trong tình yêu của Ngài và làm rực sáng tình yêu ấy. Cá nhân cha, cha cho rằng về điểm này, lời cầu nguyện của thánh Inhaxiô là rất quan trọng, khi thánh nhân khấn xin: «Suscipe Domine, universam meam libertatem; accipe memoriam, intellectum atque voluntatem omnem; quidquid habeo vel possideo mihi largitus es; id tibi totum restitoi ac tuae prorsus voluntati traoi gubernandum; amorem tuum cum gratia tua mihi dones et dives sum satis, nec aliud quidquam ultra posco» - “Lạy Chúa, xin hãy chiếm lấy trọn cả tự do của con; hãy đón nhận ký ức của con, trí năng của con và cả ý chí của con; mọi sự của con, chính Ngài đã ban tặng; con xin trao dâng tất cả cho Ngài, để Ngài có thể sử dụng chúng theo ý muốn của Ngài; xin ban cho con tình yêu và ân sủng của Ngài, và như thế con sẽ nên giàu có, thế là đủ cho con rồi”.
Theo cha, phần sau của lời nguyện rõ ràng là rất quan trọng: thấu hiểu rằng kho tàng đích thật của đời sống chúng ta là ở lại trong tình yêu của Chúa và đừng bao giờ đánh mất tình yêu ấy. Và như thế chúng ta thật sự trở nên giàu có. Con người khi đã tìm thấy một tình yêu lớn sẽ cảm nhận mình thật sự giàu có và hiểu rằng tình yêu ấy là viên ngọc đích thật, rằng tình yêu ấy là kho tàng của đời mình chứ không phải là tất cả những thứ khác mình đang sở hữu.
Chúng ta đã tìm gặp, hơn thế nữa, chúng ta đã được tìm gặp trước bởi tình yêu của Chúa. Càng để cho mình bị chiếm lấy bởi tình yêu của Ngài trong đời sống bí tích, trong đời sống cầu nguyện, trong đời sống lao động, lúc rãnh rỗi, chúng ta càng có cơ may hiểu rằng, đúng vậy, tôi đã tìm thấy viên ngọc đích thực, tất cả những điều khác là không đáng kể, tất cả những điều khác chỉ quan trọng trong mức độ chúng được ban tặng cho tôi bởi tình yêu của Chúa. Tôi chỉ giàu có, tôi chỉ thật sự giàu có và nên “cao trọng” khi tôi ở trong tình yêu của Chúa. Trước hết hãy tìm thấy sự giàu có đích thực này như là trọng tâm của đời sống. Rồi tiếp đến, hãy để cho mình được hướng dẫn, hãy để cho Đấng Quan Phòng quyết định điều Ngài khởi sự nơi chúng ta.
Nói đến đây, cha nhớ lại một câu chuyện nhỏ về thánh nữ Bakhita. Là nô lệ ở Souđan, sau đó tìm gặp đức tin tại Ý, vị thánh nữ Phi châu tuyệt đẹp này đã trở thành tu sĩ, và khi thánh nữ đã vào độ cao niên, có một vị giám mục đã viếng thăm tu viện. Vị giám mục này hãy còn chưa biết thánh nữ. Ngài đã thấy một nữ tu Phi châu nhỏ bé, lưng đã còng xuống, và ngài nói với Bakhita: “Còn Sơ, Sơ làm gì thưa Sơ?”; Bakhita trả lời: “Thưa Đức Cha, con làm điều tương tự như Đức Cha”. Ngạc nhiên, vị giám mục hỏi tiếp: “Nhưng thật ra là điều gì?”, và Bakhita trả lời: “Nhưng thưa Đức Cha, Đức Cha và con, chúng ta làm điều tương tự, chúng ta thực thi ý Chúa”.
Cha thiết nghĩ đấy là một câu trả lời rất đẹp. Vị giám mục và người nữ tu bé nhỏ thực tế không còn có thể làm việc, trong những hoàn cảnh khác biệt, đã làm cùng một việc. Họ cố gắng thực thi ý muốn của Thiên Chúa và như thế họ đã ở đúng vị trí của mình.
Cha cũng nhớ lại lời này của thánh Augustinô: tất cả chúng ta mãi mãi chỉ là những môn đệ của Đức Kitô và ngai toà của Người là cao cả nhất, bởi vì ngai toà của Người là thập giá và chỉ có một sự cao cả đích thật là sự hiệp thông với Chúa, ngay cả với cuộc khổ nạn của Người. Cha thiết nghĩ, nếu chúng ta bắt đầu hiểu điều đó, bằng một đời sống tận tụy nhằm phục vụ Chúa, chúng ta mới có thể tự giải thoát khỏi những cám dỗ nhân loại nói trên.
2. Câu hỏi thứ hai của chủng sinh Gregorpaolo Stano, giáo phận Oria, năm thứ nhất triết học:
Trọng kính Đức Thánh Cha, năm hiện tại của chúng con là năm đầu trong hai năm dành riêng cho việc biện phân, qua đó chúng con cố gắng tìm hiểu con người mình tận cõi thẳm sâu. Đó là một thực hành khó khăn đối với chúng con, vì tiếng của Thiên Chúa thì đặc thù và chỉ những ai hết sức chú tăm mới có thể lãnh hội được giữa hàng ngàn tiếng nói vang vọng bên tai chúng con. Vì thế chúng con xin Đức Thánh Cha giúp chúng con hiểu cách cụ thể Thiên Chúa nói thế nào, và đâu là những dấu vết Ngài để lại khi tự mạc khải trong thầm lặng?
Đức Giáo Hoàng Bênêđictô 16 trả lời:
Trước tiên cha cám ơn Đức Ông Viện Trưởng vì bài diễn văn của ngài. Cha rất thích thú biết được bản văn này mà chính chúng con đã cộng tác, và như thế cũng đã học hỏi. Cha không biết có thể làm sáng tỏ hay không những điểm cốt yếu của đời sống chủng viện, nhưng đó là điều mà cha muốn nói.
Trước hết, câu hỏi thứ nhất: làm thế nào chúng ta biện phân được tiếng nói của Thiên Chúa giữa hàng ngàn tiếng nói mà chúng ta nghe mỗi ngày trong thế giới này. Cha cho rằng Thiên Chúa nói một cách rất khác với chúng ta. Ngài nói qua những người khác, qua bạn hữu của chúng ta, cha mẹ chúng ta, cha sở, các linh mục. Ở đây [trong chủng viện], Thiên Chúa nói qua những linh mục mà chúng con được uỷ thác cho họ hướng dẫn. Ngài nói qua những biến cố của đời sống chúng ta, trong đó chúng ta có thể biện phân được cử chỉ của Thiên Chúa; Ngài cũng nói qua thiên nhiên, vũ trụ, và dĩ nhiên và nhất là Ngài nói trong Lời của Ngài, trong Thánh Kinh, được đọc trong sự hiệp thông với Giáo hội và được đọc cách cá nhân trong sự đối thoại với Thiên Chúa.
Thật quan trọng khi một mặt, đọc Thánh Kinh cách cá nhân, và mặt khác đọc cách đích thực, như thánh Phaolô nói, không như lời của con người hay như một tài liệu của quá khứ, như thể chúng ta đọc Homère, Virgile, nhưng như Lời của Thiên Chúa, Đấng luôn hiện diện và đang nói với tôi. Học để nghe nơi một bản văn Lời hằng sống của Thiên Chúa, mà về mặt lịch sử thuộc về quá khứ, chính là bước vào trong cầu nguyện, và như thế đọc Thánh Kinh như một cuộc trò chuyện với Thiên Chúa.
Thánh Augustinô thường nói trong các bài giảng của ngài rằng: Tôi đã phải nhiều lần gõ cửa của Lời, cho đến khi tôi có thể nghe điều Thiên Chúa nói với tôi. Một mặt tôi đọc Thánh Kinh rất cá nhân, như một cuộc trò chuyện với Thiên Chúa, trong đó tôi tìm kiếm điều Chúa nói với tôi; nhưng vượt trên cách đọc cá nhân này, thật hết sức quan trọng khi đọc Thánh Kinh giữa lòng cộng đoàn, vì chủ thể sống động của Thánh Kinh là Dân Chúa, là Giáo hội.
Thánh Kinh không mang duy chỉ dấu ấn riêng tư của những văn sĩ lỗi lạc - dù rằng Chúa luôn cần đến con người, đến lời đáp trả cá nhân - nhưng Thánh Kinh tiến triển cùng với những người tham dự vào nẻo đường của Dân Chúa, và như thế lời của họ trở thành lối diễn tả nẻo đường này, cũng như tính hỗ tương giữa lời gọi của Thiên Chúa và lời đáp trả của con người.
Như thế, chủ thể sống ngày hôm nay như đã từng sống thời xa xưa; bởi đó Thánh Kinh không thuộc về quá khứ, vì chủ thể của Thánh Kinh luôn là Dân Chúa được linh ứng bởi chính Ngài, và Lời luôn sống động trong chủ thể sống động. Vì thế thật quan trọng khi đọc và hiểu Thánh Kinh trong sự Hiệp thông Giáo hội, nghĩa là cùng với tất cả những chứng nhân vĩ đại của Lời, khởi sự từ những tổ phụ đầu tiên cho đến các thánh hôm nay, đến Huấn quyền hiện tại.
Nhất là khi Lời trở nên sống động trong Phụng vụ, cha nghĩ rằng Phụng vụ trở nên nơi ưu việt, nơi đó mỗi chúng ta bước vào trong cái “chúng ta” của những người con cái Thiên Chúa, bằng đối thoại với Ngài. Điều đó thật quan trọng: kinh Lạy Cha bắt đầu bằng những lời này “Lạy Cha chúng con”; chỉ khi tôi được tháp nhập vào trong cái “chúng ta” của lời kinh “Lạy Cha chúng con”, tôi mới có thể tìm gặp Chúa Cha; chỉ từ giữa lòng cái “chúng ta”, chủ thể của lời cầu nguyện “Lạy Cha chúng con”, chúng ta mới hiểu rõ Lời Chúa. Điều đó thật quan trọng: Phụng vụ là nơi ưu việt, nơi đó Lời trở nên sống động, hiện hữu, thậm chí Lời, Logos, Chúa, nói với chúng ta và phó mình trong tay chúng ta; nếu chúng ta biết lắng nghe Chúa trong sự hiệp thông sâu xa của Giáo hội mọi thời, chúng ta gặp thấy điều đó.
Từng bước, Ngài sẽ mở cửa cho chúng ta. Cha cho rằng đây là điểm quan trọng mà mọi điều khác phải quy chiếu vào: trên mọi nẻo đường chúng ta tiến bước, đích thân mỗi chúng ta được Chúa hướng dẫn, và cùng lúc ấy, chúng ta sống trong cái “chúng ta” lớn lao của Giáo hội, nơi Lời Chúa luôn sống động.
Thêm vào đó còn có những điểm khác, như lắng nghe bạn hữu, lắng nghe các linh mục hướng dẫn chúng ta, lắng nghe tiếng nói sống động của Giáo hội hôm nay, và trong bối cảnh sâu xa này chúng ta có thể hiểu được những biến cố của thời đại chúng ta và của thế giới.
Tóm lại, cha nghĩ rằng Thiên Chúa nói với chúng ta bằng nhiều cách. Một mặt, thật quan trọng khi ở trong cái “chúng ta” của Giáo hội, trong cái “chúng ta” sống động của Phụng vụ. Mặt khác, cũng không kém phần quan trọng khi tự làm cho cái “chúng ta” thành của riêng mình, khi chú ý đến những tiếng nói khác của Chúa, để mình được hướng dẫn bởi những người có kinh nghiệm về Thiên Chúa, nếu chúng ta có thể nói thế, những người giúp chúng ta trên đường tìm kiếm, để cái “chúng ta” trở nên cái “chúng ta” của tôi, và để tôi trở nên một người thật sự thuộc về cái “chúng ta” này. Nhờ đó, chúng ta sẽ phát triển được khả năng biện phân và tình bạn cá nhân với Thiên Chúa, cũng như khả năng nhận ra, trong hàng ngàn tiếng nói hôm nay, tiếng của Thiên Chúa, Đấng luôn hiện diện và nói với chúng ta.
3. Câu hỏi thứ ba của chủng sinh Gianpiero Savino, Tổng giáo phận Tarante, chủng sinh năm thứ ba (năm thứ nhất thần học).
Trong mắt nhiều người, chúng con có thể xuất hiện như những người trẻ đáp trả cách quả quyết và can đảm tiếng “vâng” của mình, và từ bỏ tất cả để theo Chúa; nhưng chúng con biết rằng chúng con còn xa với sự nhất quán đích thật trong tiếng “vâng” này. Với niềm tin tưởng của những người con, chúng con thú nhận với Đức Thánh Cha sự khiếm khuyết trong lời đáp trả của chúng con đối với lời gọi của Chúa Giêsu và sự khó khăn hằng ngày để sống ơn gọi mà chúng con cảm nhận được tôi luyện trên con đường dứt khoát và trọn vẹn. Làm thế nào để đáp trả ơn gọi rất đòi hỏi là trở nên những mục tử của dân thánh Chúa, khi chúng con luôn cảm nhận ra sự yếu hèn và thiếu nhất quán của bản thân chúng con?
Đức Giáo Hoàng Bênêđictô 16 trả lời:
Thật tốt lành khi nhận ra sự yếu hèn của bản thân mình, vì có như thế chúng ta mới biết mình cần đến ân sủng của Chúa. Chúa sẽ củng cố chúng ta. Trong các Tông đồ không phải chỉ có Giuđa, mà còn có những Tông đồ tốt; tuy nhiên Phêrô đã từng phản bội, và nhiều lần Chúa đã khiển trách sự chậm hiểu, sự khép kín cõi lòng và sự chậm tin nơi các Tông đồ. Điều đó cho chúng ta thấy chẳng ai trong chúng ta xứng với tiếng “vâng” cao trọng này, chẳng ai trong chúng ta xứng đáng cử hành như là hiện thân Đức Kitô (in persona Christi), sống cách nhất quán trong bối cảnh này, và được đồng nhất với Đức Kitô trong sứ vụ linh mục của mình.
Để củng cố chúng ta, Chúa cũng ban cho chúng ta những dụ ngôn về mẻ lưới với cá tốt và cá xấu, về thửa ruộng với lúa mì và cỏ lùng. Người làm cho chúng ta hiểu rằng Người đã đến chính là để trợ giúp cho sự yếu hèn của chúng ta, rằng Người không đến, như Người đã nói, để kêu gọi những người công chính, những người có tham vọng tự mình trở nên hoàn toàn công chính, không cần đến ân sủng, những người cầu nguyện bằng cách ca tụng chính mình, nhưng Người đã đến để gọi những người ý thức rõ ràng mình bất toàn, thúc đẩy những người biết mình mỗi ngày cần đến ơn tha thứ và ân sủng của Chúa để tiến bước.
Cha thiết nghĩ rất quan trọng khi nhận biết rằng chúng ta cần một cuộc hoán cải thường xuyên, rằng chúng ta chẳng bao giờ đạt tới đích một cách đơn giản. Thánh Augustinô, lúc vừa trở lại, đã nghĩ từ nay sẽ đạt đến mức độ cao của đời sống với Thiên Chúa, của vẻ đẹp của Lời Ngài. Sau đó thánh nhân đã phải hiểu ra rằng sau cuộc hoán cải, con đường vẫn phải tiếp tục là con đường hoán cải, rằng vẫn còn đó con đường không thiếu những triển vọng lớn lao, niềm vui, ánh sáng của Chúa, nhưng cũng không thiếu những thung lũng âm u, nơi chúng ta phải tiến bước với niềm tin tưởng, bằng cách phó thác cho lòng nhân lành của Chúa.
Chính vì thế bí tích Thống hối là rất quan trọng. Sẽ không đúng nếu nghĩ rằng chúng ta có thể sống mà không cần đến ơn tha thứ. Hãy chấp nhận sự mỏng dòn của chúng ta, tuy nhiên cứ tiếp tục tiến bước, không bỏ cuộc nhưng cứ thẳng tiến, và qua bí tích Thống hối, chúng ta tự hoán cải chính mình nên mới mẻ cho một khởi đầu mới, và như thế lớn lên, trưởng thành vì Chúa, trong sự hiệp thông với Người.
Không sống cô lập, và đừng nghĩ rằng tự mình có thể thẳng tiến, đó cũng là điều thật quan trọng. Chúng ta cần có nhóm những người bạn linh mục, cũng như những giáo dân, đồng hành với chúng ta, trợ giúp chúng ta. Đối với một linh mục ở giáo xứ, thật quan trọng nhận ra rằng người giáo dân tin tưởng mình và có kinh nghiệm về sự tin tưởng của họ, cũng như lòng quảng đại của họ khi tha thứ những yến hèn của mình. Những người bạn đích thực tháo gỡ những thách thức cho chúng ta và giúp đỡ chúng ta trung thành trên con đường đã chọn. Với cha, dường như thái độ kiên nhẫn, khiêm hạ có thể giúp chúng ta trở nên những người bạn tốt với người khác, trở nên người biết cảm thông với những yếu hèn của người khác, giúp họ biết tha thứ như chính chúng ta biết thứ tha. Cha nghĩ sẽ không thiếu ý tứ nếu cha nói rằng hôm nay cha đã nhận được một lá thư tuyệt vời của Đức Hồng y Martini: cha đã gởi thư chúc mừng Đức Hồng y nhân dịp sinh nhật thứ tám mươi của ngài - cha và Đức Hồng y cùng tuổi với nhau - để tỏ lòng biết ơn, ngài đã viết cho cha như sau: trước hết, con cảm tạ Chúa vì ơn kiên trì. Đức Hồng y viết tiếp, ngày nay sự thiện hảo thành toàn với thời gian, với kinh nghiệm. Sự thiện hảo, theo bản chất của nó, chỉ có thể được thành toàn cách chung cuộc; nhưng để thành toàn cách chung cuộc, chúng ta cần ơn kiên trì; rồi Đức Hồng y kết luận, con cầu nguyện mỗi ngày để Đức Kitô ban cho con ơn huệ này.
Cha trở lại với thánh Augustinô: thánh nhân đã hạnh phúc lúc ban đầu khi được ơn hoán cải, rồi ngài khám phá ra rằng một ơn huệ khác thật cần thiết mà ngài phải khấn xin Chúa mỗi ngày, đó là ơn kiên trì; cha trở lại với điều Đức Hồng y đã viết, nhưng bởi vì “cho đến hôm nay, Chúa đã ban cho con ơn kiên trì; con hy vọng Ngài cũng sẽ ban cho con ơn này trong giai đoạn cuối cuộc hành trình của con trên trái đất này”. Theo cha, có lẽ chúng ta phải tin tưởng vào ơn kiên trì này, nhưng chúng ta cũng phải khấn xin Chúa cách bền bỉ, khiêm hạ và kiên nhẫn, để Ngài trợ giúp và bảo vệ chúng ta bởi ơn huệ thật sự quyết định này; để Ngài đồng hành với chúng ta ngày qua ngày cho đến chung cuộc, cho dù con đường chúng ta đi phải trải qua những thung lũng âm u. Ơn kiên trì tạo cho chúng ta niềm vui và niềm xác tín rằng chúng ta là những người được Chúa yêu thương, và tình yêu này trợ lực chúng ta, đỡ nâng chúng và và không bỏ mặc chúng ta trong nỗi yếu hèn của mình.
4. Câu hỏi thứ tư của Francesco Annesi, giáo phận Rôma, chủng sinh năm thứ năm (năm thứ ba thần học).
Trọng kính Đức Thánh Cha, trong Tông thư Salvifici doloris của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, có vẻ nói rõ về nỗi đau đớn như là nguồn mạch thiêng liêng phong phú cho tất cả những ai đón nhận chúng trong sự hiệp thông với đau khổ của Đức Kitô. Ngày nay, trong một thế giới luôn tìm kiếm mọi phương tiện hợp pháp hoặc không hợp pháp để loại trừ mọi hình thức đau đớn, làm thế nào linh mục có thể là chứng nhân cho ý nghĩa Kitô giáo về đau đớn và linh mục phải xử sự làm sao khi đối diện với những người đau khổ mà không có nguy cơ rơi vào sáo ngữ hoặc thống thiết?
Đức Giáo Hoàng Bênêđictô 16 trả lời:
Vâng, phải làm thế nào? Theo cha, dường như thật đúng khi làm tất cả những gì có thể để chế ngự những đau khổ của nhân loại và để giúp đông đảo những người đau khổ tìm lại được một đời sống tốt lành và được giải thoát khỏi những sự dữ mà thường là do chính chúng ta gây nên: đói khát, dịch bệnh…
Nhưng cùng lúc, khi nhận biết bổn phận phải làm việc để chống lại những đau khổ gây ra bởi chính chúng ta, chúng ta cũng phải nhận biết và hiểu rằng đau khổ là một phần thiết yếu cho sự trưởng thành nhân bản của chúng ta. Cha nghĩ đến dụ ngôn của Chúa về hạt lúa mì được gieo vào lòng đất, nó chỉ có thể trổ sinh bông hạt khi chết đi, và việc gieo vào lòng đất và chết đi không chỉ là một phút giây, nhưng thực sự là tiến trình của một đời.
Như hạt lúa mì được gieo vào lòng đất và như thế chết đi, tự biến đổi, trở thành những dụng cụ của Thiên Chúa và như thế trổ sinh bông hạt. Không phải ngẫu nhiên mà Chúa nói với các môn đệ của Người: Con Người phải lên Giêrusalem để chịu đau khổ; vì thế ai muốn làm môn đệ của Thầy phải vác thập giá mình mà theo Thầy. Thực tế, chúng ta luôn ít nhiều giống như Phêrô, người đã nói với Chúa: không, thưa Chúa, không thể xảy ra như thế đối với Người, Người không phải đau khổ. Chúng ta không muốn vác thập giá, chúng ta chỉ muốn tạo ra một Vương quốc nhân bản hơn, đẹp hơn trên trái đất này.
Điều đó hoàn toàn sai lầm: Chúa đã dạy như thế. Nhưng Phêrô đã phải cần nhiều thời gian, có thể là cả đời sống của ngài để hiểu điều đó; bởi vì truyền thuyết Quo Vadis tự nó có điều gì đó rất thật: học biết rằng bước đi với Thập giá của Chúa đích thật là con đường trổ sinh hoa trái. Vì thế, cha có thể khẳng định, trước khi nói với người khác, chính chúng ta phải hiểu mầu nhiệm Thập giá.
Chắc chắn, Kitô giáo ban tặng cho chúng ta niềm vui, bởi vì tình yêu ban tặng niềm vui. Nhưng tình yêu cũng luôn là một tiến trình xoá mình đi và như thế cũng là một tiến trình ra khỏi chính mình; theo nghĩa này, tình yêu cũng là một tiến trình đau đớn. Chỉ bằng cách thức này, chúng ta mới có thể trở nên chín chắn và đạt tới niềm vui chân thật. Những ai cam kết hoặc hứa mang lại một đời sống chỉ toàn là niềm vui và tiện nghi là nối dối, bởi vì đó không phải là chân lý về con người; hậu quả xảy đến là người ta phải ẩn náu vào trong những thiên đường giả tạo. Và như thế, người ta chẳng đạt đến niềm vui, nhưng đúng hơn là đi đến tự huỷ diệt.
Đúng vậy, Kitô giáo loan báo cho chúng ta niềm vui; tuy nhiên niềm vui này chỉ triển nở trên nẻo đường của tình yêu, và nẻo đường của tình yêu luôn có mối liên hệ với Thập giá, với sự hiệp thông với Đức Kitô chịu đóng đinh. Nó được diễn tả như là hạt lúa mì được gieo vào lòng đất. Khi chúng ta bắt đầu hiểu ra và đón nhận điều đó - mỗi ngày, bởi vì mỗi ngày chúng ta đều phải chịu những điều không hài lòng, một thứ gánh nặng nào đó gây ra đau đớn, khi chúng ta chấp nhận học bước theo Đức Kitô, như các Tông Đồ đã phải học như thế - chúng ta sẽ trở nên những người có khả năng giúp đỡ những ai đang đau khổ.
Đúng vậy, thật khó khăn cho một người ít nhiều khoẻ mạnh hoặc đang sống trong điều kiện tốt lành mà phải khuyên răn một người khác đang chịu đựng sự ác lớn lao: dù là bệnh tật hay mất mát tình cảm. Tất cả chúng ta đều biết rõ khi đối diện với những sự dữ này, mọi lý giải sẽ không tránh khỏi hoặc chỉ là sáo ngữ, hoặc chỉ là nỗi thống thiết. Nhưng cha nghĩ, nếu những người đang đau khổ cảm nhận được rằng chúng ta cùng là “bệnh nhân” với họ, rằng chúng ta muốn cùng họ mang lấy Thập giá trong sự hiệp thông với Đức Kitô, nhất là cùng cầu nguyện với họ, cùng hiện diện bên cạnh họ bằng một sự thinh lặng đầy cảm thông, yêu thương, cùng giúp đỡ họ hết sức có thể, chúng ta có thể trở nên khả tín.
Chúng ta phải chấp nhận rằng ngay từ ban đầu, có thể những lời của chúng ta có vẻ như những lời đơn giản. Nhưng nếu chúng ta thật sự sống trong tinh thần bước theo Đức Kitô, chúng ta cũng tìm thấy cách thức hiện diện gần gũi qua mối cảm thông của chúng ta. Về mặt ngôn ngữ, cảm thông (sympathie) có nghĩa là lòng trắc ẩn, “cùng thương khó” (com-passion) với con người, bằng giúp đỡ họ, bằng cầu nguyện, bằng cách tạo ra bầu khí tin tưởng rằng lòng nhân lành của Thiên Chúa hiện diện ngay cả nơi thung lũng tối tăm nhất. Như thế chúng ta có thể mở lòng ra với Tin Mừng của chính Đức Kitô, Đấng an ủi đích thực; mở lòng ra với Thánh Thần, còn được gọi là Đấng An Ủi khác, Đấng Bào Chữa khác, Đấng luôn trợ giúp, luôn hiện diện.
Chúng ta có thể mở lòng ra, không phải với lời của chúng ta, nhưng với giáo huấn sâu sắc của Đức Kitô, mở lòng ra với sự hiện diện của Người giữa chúng ta để giúp cho nỗi thống khổ và đớn đau thực sự trở nên ơn huệ giúp trưởng thành và hiệp thông với Đức Kitô chịu tử nạn và phục sinh.
5. Câu hỏi thứ năm của Claudio Fabbri, chủng sinh năm thứ hai triết học.
Trọng kính Đức Thánh Cha, đời sống của Đức Thánh Cha đã được tổ chức thế nào trong giai đoạn huấn luyện lên chức linh mục, và Đức Thánh Cha đã quan tâm trau dồi những lợi ích nào? Khi nhìn lại những kinh nghiệm đã qua, đâu là những điểm chính yếu của việc đào tạo lên chức linh mục? Đặc biệt, Đức Maria có vị trí nào?
Đức Giáo Hoàng Bênêđictô 16 trả lời:
Cha nghĩ rằng đời sống của chúng tôi trong Đại Chủng Viện Freising đã được tổ chức cách tương tự như Chủng Viện của chúng con bây giờ, dù rằng cha không biết chính xác thời khoá biểu hằng ngày của chúng con. Dường như khoảng 6 giờ 30 hoặc 7 giờ, chúng tôi bắt đầu bằng một nửa giờ suy niệm, trong đó mỗi người tâm tình với Thiên Chúa trong thinh lặng, chuẩn bị tâm hồn cho phần phụng vụ thánh. Rồi tiếp theo là thánh lễ, ăn sáng và rồi suốt buổi sáng là các giờ lớp.
Vào buổi chiều thì có những buổi hội thảo, những giờ nghiên cứu, và rồi lại có giờ cầu nguyện chung. Buổi tối thì có giờ gọi là “puncta”, có nghĩa là giờ mà vị linh hướng hay Bề Trên Chủng Viện nói chuyện với chúng tôi để giúp chúng tôi tìm thấy con đường suy niệm, không phải là đưa ra cho chúng tôi những bài suy niệm đã sẵn, nhưng là những yếu tố có thể giúp mỗi người thấm nhuần những Lời của Chúa là đối tượng của việc suy niệm của chúng ta.
Đó là lịch trình hằng ngày; rồi cũng thật bình thường, có những dịp lễ lớn với phụng vụ long trọng, có âm nhạc… Nhưng dường như hết sức quan trọng phải có sẵn cho bản thân một kỷ luật và không cần phải nhắc lại mỗi ngày điều gì phải làm, làm thế nào, có thể sau cùng cha sẽ trở lại vấn đề này; có một quy tắc, một kỷ luật sẵn cho cha và giúp cha sống một ngày cách có tổ chức.
Giờ đây nói về những ưu tiên của cha, cha chú tâm trong mức độ có thể theo dõi cách tự nhiên các giờ lớp. Trước tiên, trong hai năm đầu của triết học, cha đã bị cuốn hút đặc biệt bởi gương mặt thánh Augustinô, rồi trào lưu tư tưởng Augustinô thời Trung cổ: thánh Bônaventura và những gương mặt lớn của dòng Phanxicô, thánh Phanxicô Atxidi.
Điều lôi cuốn cha nhất đó là tính nhân bản lớn lao của thánh Augustinô, người thực sự chưa thể hội nhập hoàn toàn với Giáo hội, là tân tòng ngay từ đầu, nhưng ngược lại đã phải đấu tranh về mặt thiêng liêng để từng bước tiếp cận với Lời Chúa, và đời sống với Thiên Chúa, cho đến khi thốt lên tiếng “vâng” cao thượng với Giáo hội của Ngài.
Nhờ con đường nhân bản như thế mà ngày nay cũng thế, chúng ta có thể thấy làm thế nào người ta bắt đầu bước vào tiếp xúc với Thiên Chúa, làm thế nào mọi cuộc phản kháng của bản tính chúng ta phải được phân tích cẩn thận và tiếp đến phải được khai thông để đạt đến tiếng “vâng” cao thượng đối với Chúa. Vì thế cha đã bị chinh phục bởi thần học rất cá biệt của thánh nhân, được trình bày đặc biệt dưới hình thức giảng thuyết. Điều đó thật quan trọng, vì ngay từ đầu thánh Augustinô đã muốn sống một đời sống hoàn toàn chiêm niệm, viết những quyển sách khác về triết học… nhưng Chúa đã không muốn điều đó, Ngài đã chọn thánh nhân làm linh mục rồi giám mục, và phần còn lại của đời sống và công việc của ngài đã tiến triển chủ yếu trong cuộc đối thoại với một dân rất đơn sơ. Một mặt cá nhân ngài luôn phải tìm hiểu ý nghĩa của Thánh Kinh, và mặt khác phải để ý đến khả năng của những người dân đơn sơ này, đến hoàn cảnh sống của họ, và đạt đến một Kitô giáo thực tế, đồng thời rất sâu sắc.
Tiếp đến, đối với cha, khoa chú giải vốn rất quan trọng: chúng tôi đã có hai nhà chú giải hơi theo khuynh hướng tự do, tuy nhiên là hai nhà chú giải lớn, thật sự là những tín hữu, họ cuốn hút chúng tôi. Cha có thể nói rằng Thánh Kinh thật sự là linh hồn của việc nghiên cứu thần học của chúng tôi: chúng tôi đã thật sự sống với Thánh Kinh và học yêu mến Thánh Kinh, học đối thoại với Thánh Kinh. Cha đã nói về môn giáo phụ, về sự gặp gỡ với các Giáo phụ. Vị giáo sư tín lý của chúng tôi cũng là một người rất nổi tiếng, tín lý của ngài được nuôi dưỡng bởi các Giáo phụ và phụng vụ. Một điểm rất chính yếu đối với chúng tôi là việc đào tạo phụng vụ: vào thời đó còn chưa có chức giáo sư phụng vụ, nhưng vị giáo sư mục vụ của chúng tôi đã dạy chúng tôi những lớp phụng vụ quan trọng. Ngài cũng là Bề trên chủng viện. Như thế phụng vụ được sống và cử hành cũng như phụng vụ được giảng dạy và suy tư đi đôi với nhau. Những điểm nền tảng của việc đào tạo thần học của chúng tôi tìm thấy nơi Thánh Kinh. Cha luôn cám ơn Chúa về điều đó, vì tất cả những môn học đó thật sự là trọng tâm của đời sống linh mục.
Một mối quan tâm khác được hình thành từ văn chương: chúng tôi buộc phải đọc Dostoїevski, tác giả nổi danh thời đó, rồi đến những nhà văn pháp vĩ đại: Claudel, Mauriac, Bernanos, nhưng còn có văn chương Đức nữa; cũng có một nhà xuất bản Manzoni của Đức; thời đó cha chưa biết tiếng Ý. Như thế, trong chiều hướng này chúng tôi đã được đào tạo ít nhiều chiều kích nhân bản. Chúng tôi cũng rất yêu thích âm nhạc, cũng như vẻ đẹp thiên nhiên của hành tinh chúng ta. Dù phải bước theo nẻo đường thường là khó khăn, cha đã dành ưu tiên cho những điều thực tế nêu trên. Chúa đã giúp cha tiến lên nói tiếng “vâng” của chức linh mục, một tiếng “vâng” đồng hành cùng cha mọi ngày trong suốt cuộc đời.
6. Câu hỏi thứ sáu của Marco Ceccarelli, phó tế của Giáo phận Rôma, người sẽ được phong chức linh lục ngày 29 tháng tư.
Trọng kính Đức Thánh Cha, trong những tháng sắp tới, con và những người bạn của con sẽ được phong chức linh mục. Chúng con sẽ thay đổi từ một đời sống được tổ chức chặt chẽ bởi nội quy của chủng viện đến hoàn cảnh phức tạp hơn của các giáo xứ. Đức Thánh Cha có thể ban cho chúng con những lời khuyên nào để chúng con có thể sống tốt những bước đầu thừa tác vụ linh mục của chúng con?
Đức Giáo Hoàng Bênêđictô 16 trả lời:
Chắc chắn trong chủng viện các con có một đời sống được tổ chức chặt chẽ. Để khởi sự, đối với đời sống của những mục tử của Giáo hội, đời sống thường ngày của các linh mục, cha nghĩ rằng thật quan trọng khi biết tuân giữ hết sức có thể một quy luật nào đó: đừng bao giờ thiếu vắng thánh lễ. Không có Thánh Thể, một ngày coi như chưa hoàn thành, và đó là lý do chúng ta đã lớn lên trong chủng viện với phụng vụ hằng ngày này; Cha thiết nghĩ thật quan trọng khi chúng ta cảm nhận được nhu cầu được ở với Chúa trong Bí Tích Thánh Thể. Đó không phải là một bổn phận nghề nghiệp, nhưng thật sự là một bổn phận được cảm nhận từ nội tâm. Đừng bao giờ thiếu vắng Thánh Thể.
Điều quan trọng khác là hãy dành thời gian cho Phụng Vụ Các Giờ Kinh, và như thế cho sự tự do nội tâm: với mọi thứ gánh nặng đè trên chúng ta, Phụng Vụ Các Giờ Kinh giải thoát chúng ta, cũng như giúp chúng ta cởi mở hơn và luôn tiếp xúc sâu thẳm với Chúa. Bình thường chúng ta phải làm tất cả những gì đời sống mục vụ đòi hỏi chúng ta, đời sống của một cha phó, một cha sở hay những bổn phận khác của linh mục. Nhưng cha lặp lại, đừng bao giờ quên những mốc thời gian này là Thánh Thể và Phụng Vụ Các Giờ Kinh, để có được trong ngày một thứ quy luật nào đó mà ta không phải mất công thiết lập lại mãi, như cha đã nói điều đó từ đầu. Chúng ta hiểu rõ lời này: Serva ordinem et ordo servabit te – Hãy giữ luật và luật sẽ giữ bạn. Thật đúng như vậy.
Một điều nữa cũng quan trọng là đừng đánh mất sự hiệp thông với các anh em linh mục khác, những người bạn đồng hành và đừng đánh mất sự tiếp xúc cá nhân với Lời Chúa qua việc suy niệm. Phải làm thế nào? Riêng với bản thân, cha có một phương pháp tương đối đơn giản: kết hợp việc chuẩn bị bài giảng Chúa Nhật với việc suy niệm cá nhân, sao cho những lời này không chỉ được giảng cho người khác, nhưng thật sự là những lời Thiên Chúa nói với cha, và được chín mùi trong cuộc đối thoại cá nhân với Chúa. Để có thể làm được như vậy, cha khuyên các con hãy bắt đầu ngay từ ngày thứ Hai, bởi vì nếu các con chỉ bắt đầu vào ngày Thứ Bảy thì sẽ quá trễ, việc chuẩn bị như thế là quá vội vã, và có thể sẽ thiếu mất nguồn cảm hứng vì các con đang có đầy trong đầu những điều khác. Chính vì vậy, cha nghĩ rằng ngay từ ngày thứ Hai, hãy đọc các bài đọc của ngày Chúa Nhật, đơn giản vậy thôi, chúng có thể khó hiểu bước đầu. Chúng cũng giống như những viên đá thử thách ở Massa và Mêriba, nơi Môisê đã nói: “Chúng ta phải làm cho nước chảy ra từ tảng đá này sao?”.
Cứ để các bài đọc ở đó, cứ để cho trái tim chúng ta nghiền ngẫm chúng; trong tiềm thức, những lời này sẽ làm việc và mỗi ngày lặp lại chút ít. Chắc chắn cũng phải tham khảo các sách vở, trong mức độ có thể. Và qua hoạt động nội tâm mãnh liệt này, ngày qua ngày, các con sẽ nhận thấy câu trả lời chín mùi dần; Những lời này sáng tỏ dần và trở nên những lời dành cho chính cha. Và bởi vì cha đang sống trong thời đại này, nên những lời này cũng trở thành lời dành cho những người khác. Tiếp đến cha có thể khởi sự chuyển dịch những gì mà tôi hiểu theo ngôn ngữ thần học của cha sang ngôn ngữ của những người khác; tuy nhiên tư tưởng căn bản vẫn là một đối với những người khác cũng như đối với cha.
Như thế, chúng ta có thể có một cuộc gặp gỡ thường xuyên với Lời trong thinh lặng, một việc vốn đòi hỏi nhiều thời gian và có thể chúng ta không làm được. Nhưng hãy dành riêng chút thời gian: có như thế thì không chỉ bài giảng ngày Chúa Nhật dành cho những người khác được chín mùi, nhưng tâm hồn tôi cũng được thấm nhuần Lời Chúa. Tôi cũng phải giữ liên hệ với hoàn cảnh, nơi mà cha có thể có ít thời gian để tiếp xúc.
Hiện tại cha không dám đưa ra quá nhiều lời khuyên, bởi vì đời sống nơi thành phố Rôma vĩ đại này khác với đời sống mà cha đã trải qua năm mươi năm trước ở Bavière. Nhưng cha nghĩ rằng điều cốt yếu là ở đấy: Thánh Thể, Các Giờ Kinh Phụng Vụ, cầu nguyện và đàm đạo mỗi ngày với Chúa, dù là ngắn ngủi, về những Lời của Ngài mà cha phải loan báo. Và một mặt, không bao giờ đánh mất tình bạn với anh em linh mục cũng như việc lắng nghe tiếng nói của Giáo hội sống động, và mặt khác luôn sẵn sàng với những ai được giao phó cho cha, bởi vì chính qua những con người này, với những đau khổ, kinh nghiệm đức tin, những nghi nan và khó khăn của họ, mà chúng ta có thể học hỏi, tìm kiếm và gặp thấy Thiên Chúa, gặp thấy Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Mỹ Tho, ngày 8 tháng 9 năm 2007
Ngày lễ Sinh Nhật ĐứcTrinh Nữ Maria
Lm. Phaolô NGUYỄN THÀNH SANG