SỰ NGHIÊP VĂN HOÁ CỦA DHY LUSTIGER[1]
Sau khi đã ghi nhận tổng quát về tâm tính độc đáo, về trí thông minh uy tín và về thuật truyền thông rạng ngời của ÐHY Lustiger, ký giả Henri TINCQ, rất uy tín về các vấn đề công giáo của báo Le Monde, trong bài « Di sản của ÐHY Lustiger[2] », đã khẳng định rằng ÐHY Lustiger đã để lại ba gia tài : gia tài mục vụ thần học, gia tài văn hoá tinh thần và gia tài giáo dục sư phạm. Về gia tài thứ nhất và thứ ba, bài « Công trình Mục vụ của ÐHY Lustiger » mà tôi đã giới thiệu cùng độc giả ngày 09.08.2007 vừa qua đã trình bày một cách tổng quát.
Về gia tài văn hoá tinh thần mà ÐHY Lustiger đã để lại, ký giả Henri Tincq nêu ra hai nét độc đáo : 1- ÐHY đã tiếp cận và nối kết với những lãnh vực vốn được coi là xa xôi với giáo hội, như nghệ thuật, văn hoá, khoa học xã hội, kinh doanh, khoa học. Ngài có nhiều giao tiếp với những nhân vật trong những lãnh vực ấy. 2- Sinh và sống tại Paris, ÐHY nghĩ rằng số phận của con người hiện đại là sinh sống trong các thành phố, và tương lai của đức tin công giáo cũng đặt trong các thành phố. Theo ngài, văn minh giáo xứ, quá gắn chặt với xã hội nông thôn đang tàn dần. Chính vì thế mà ÐHY đã phát động một chiến dịch « rao truyền phúc âm cho thành phố ». Chúng ta có thể đồng ý hay không với ký giả Henri TINCQ.
Ðiều chắc chắn mà chúng ta biết là ÐHY đã rất chú ý đến những vấn đề văn hoá tinh thần. Nhiệm sở mục vụ đầu tiên (1954-1969) mà ngài đảm trách là môi trường đại học, một môi trường tiêu biểu của văn hoá. Rồi trong cuộc đời mục vụ tiếp theo (1969-1979), ở xứ Sainte Jeanne-de-Chantal, quận Paris 16, ở toà giám mục Orléans (1979-1981), và sau cùng ở tổng địa phận Paris (1981-2005), ÐHY đã có nhiều tiếp xúc và hoạt động với giới văn hoá. Công trình mục vụ văn hoá mà ÐHY để lại thật là rộng lớn, vì trong một khía cạnh nào đó, những hoạt động tôn giáo, giáo dục, xã hội, truyền thông,.. đều thuộc về văn hoá cả.
Nét độc đáo trong con người văn hoá của ÐHY Lustiger là ngài được các viện sĩ Viện Hàn Lâm Pháp bầu làm viện sĩ ngày 15 tháng 05 năm 1995. Trong bài này, khi chọn đầu đề là « Sự nghiệp văn hoá của ÐHY Lustiger », tôi xin được hiểu từ văn hoá trong một nghĩa hẹp, thật hẹp : văn hoá hiểu như là sự nghiệp được Hàn Lâm Viện Pháp công nhận. Hiểu theo nghĩa này, sự nghiệp văn hoá trước nhất bao gồm những sản phẩm văn hoá mà ÐHY đã sáng tác, đặc biệt là thư liệu đã viết và được Hàn Lâm Viện ghi nhận, liệt kê trong sổ những công trình. Sau đó, sự nghiệp văn hoá là những tư tưởng căn bản và độc đáo mà ÐHY đã đưa ra và để lại qua những thư liệu đã viết ấy và được một Hàn lâm Viện Sĩ, bà Hélène Carrère d’Encausse, ghi nhận trong diễn văn ngày ÐHY được tiếp đón vào Hàn Lâm Viện, ngày 14 tháng 03 năm 1996.
Các Hàn Lâm Viện Sĩ của Hàn Lâm Viện Pháp
A. Di sản thư liệu sáng tác của Ðức Hồng Y Lustiger
Các thư liệu mà ÐHY Lustiger đã sáng tác và để lại như di sản cho chúng ta gồm hai loại : sách và bài viết. Sau đây là 24 cuốn sách đã được mạng lưới Hàn Lâm Viện Nước Pháp http://www.academie-francaise.fr/immortels/index.html ghi lại trong mục tác phẩm của Hàn Lâm Viện Sĩ Jean Marie Lustiger :
1978_ Bài giảng của một cha sở Paris (Sermons d’un curé de Paris; Fayard)
1981_Bánh hằng sống nuôi dân Chúa (Pain de vie et peuple de Dieu; Critérion)
1985_Hãy dám tin (Osez croire; Le Centurion)
1985_Hãy dám sống (Osez vivre; Le Centurion)
1986_ Bước đầu trên đường cầu nguyện (Premiers pas dans la prière; Nouvelle Cité)
1986_Hãy giữ lấy chỗ giữa lòng Giáo Hội (Prenez place au cœur de l’Églis; Office chrétien des handicapés)
1987_ Sáu bài giảng cho những đại diện quốc gia do dân bầu ( Six sermons aux élus de la Nation, 1981-1986; Le Cerf)
1987_Chọn Chúa- Ðàm luận với Jean Louis Missika và Dominique Wolton (Le Choix de Dieu. Entretiens avec Jean-Louis Missika et Dominique Wolton; Le Fallois)
1988_Thánh lễ ( La Messe; Bayard)
1990_ Tạ ơn Trời ta có nhân quyền (Dieu merci, les droits de l’homme; Critérion)
1990_Bí tích xức dầu thánh cho bệnh nhân (Le Sacrement de l’onction des malades; Le Cerf)
1990_Nhà thờ Thánh Ayoul đệ Jeanclos (Le Saint-Ayoul de Jeanclos (en collaboration avec Alain Peyrefitte); Fayard)
1991_Chúng ta có hẹn với Châu Âu (Nous avons rendez-vous avec l’Europe; Mame)
1991_Dám vui mừng (Dare to rejoice (Compilation américaine) (Our Sunday visitor)
1992_Lời thầm thì đêm Giáng Sinh (Petites paroles de nuit de Noël; Le Fallois)
1995_Hãy xứng đáng với thân phận làm người (Devenez dignes de la condition humaine; Flammarion)
1997_Hãy rửa tội cho con bạn (Le Baptême de votre enfant; Fleurus)
1997_Hãy sung sướng (Soyez heureux; Éd. Nil)
1999_Vì Châu Âu, một nghệ thuật sống mới (Pour l'Europe, un nouvel art de vivre; PUF)
2000_Những linh mục mà Chúa ban cho ta (Les prêtres que Dieu donne; Desclée de Brouwer)
2001_Chúa yêu bạn biết ngần nào. Hành hương Giêrusalem, Roma và Lộ Ðức (Comme Dieu vous aime. Un pèlerinage à Jérusalem, Rome et Lourdes (Parole et silence)
2002_Lời hứa (La Promesse; Parole et Silence)
2004_Chúa mở cửa đức tin th ế nào (Comment Dieu ouvre la porte de la foi; Desclée de Brouwer)
2005_Chiêm ngắm khải huyền (Contempler l'Apocalypse; Parole et Silence)
Mạng lưới Hàn Lâm viện đồng thời cũng ghi nhận 6 bài diễn văn hay công trình Hàn Lâm sau đây :
Diễn văn tiếp nhận vào Hàn Lâm Viện thế chỗ Ðức Hồng Y Albert Decourtray, (Discours de réception, 14 mars 1996).
Ðiếu tang Hàn Lâm Viện Sĩ Jacques-Yves Cousteau (Homélie prononcée lors des obsèques de M. Jacques-Yves Cousteau, en la cathédrale Notre-Dame de Paris, 30 juin 1997).
Ðiếu tang Hàn LâmViện Sĩ Maurice Schuman (Homélie prononcée lors des obsèques de M. Maurice Schumann, en l’église Saint-Louis des Invalides, 13 février 1998).
Ðiếu tang Hàn Lâm Viện Sĩ Jean Guitton (Homélie prononcée lors des obsèques de M. Jean Guitton, en l'église Saint-Louis des Invalides, 25 mars 1999).
Ðiếu tang Hàn Lâm Viện Sĩ Jacques de Bourbon Busset (Hommage lu lors des obsèques de M. Jacques de Bourbon Busset, en l'église Saint-Martin de Ballancourt, 11 mai 2001).
Ðiếu tang Hàn Lâm Viện Sĩ Léopold Sédar Senghor (Homélie prononcée en mémoire de M. Léopold Sédar Senghor, en l'église Saint-Germain-des-Prés, 29 janvier 2002).
Không kể những sách và công trình Hàn Lâm trên đây, ÐHY còn biên nhiều bài, viết về những đề tài rất khác biệt : giới trẻ, gia đình, liên đới, sức khoẻ, đào tạo, linh mục, văn hoá, nghệ thuật, động lực truyền giáo, đại kết, liên quan với do thái giáo, lịch sử, nguyện gẫm,..
Mạng tin học địa phận Paris : http://catholique-paris.cef.fr/diocese/lustiger/articles/index.php ghi nhận đa số những bài viết này.
ÐHY Lustiger, bà Hélène Carrère d’Encausse và mấy Hàn lâm viện sĩ khác
B. Di sản tư tưởng của ÐHY Lustiger
Qua tất cả những công trình văn hoá mà ÐHY đã sáng tác trên đây, di sản tư tưởng nào đã được để lại ? Trong bài diễn văn, ngày 14 tháng 03 năm 1996, trả lời diễn văn của ÐHY chấp nhận vào Hàn Lâm Viện Pháp, bà Hàn Lâm Viện Sĩ Hélène CARRERE d’ENCAUSSE nói với Hàn Lâm Viện Sĩ LUSTIGER để trình bày tư tưởng của ngài xoay quanh bốn chiều hướng chính.
Chiều hướng thứ nhất đi vào liên hệ giữa do thái giáo cà công giáo. Bà nói :
Xin phép ngài cho tôi được trở về với tư tưởng của ngài về điều nối kết do thái giáo với kitô giáo. Mỗi lần đề cập đến cuộc trở lại đạo của mình, ngài đều cực lực phản đối ý tưởng cho rằng ngài đã từ bỏ căn tính do thái của mình. Ngài vẫn giải thích điều đó luôn, song le người ta vẫn không luôn luôn hiểu như vậy. Tại sao người ta lại có thể không nhận ra những lý do soi sáng tất cả dòng dài lịch sử do thái giáo với kitô giáo ? Sự liên hệ giữa Cựu Ước và Tân Ước, trọng tâm tư tưởng của ngài, cắt nghĩa tại sao dân Do thái đã được Chúa chọn. …
Tư tưởng coi rằng kitô giáo là kết quả của Israël, là sự hoàn tất lời Chúa hứa, đối với ngài, thưa hồng y, chỉ là « một sự thật đã được chấp nhận một cách hết sức tự nhiên », không cần phải luận bàn, cũng chẳng cần phải định nghĩa. Ngài vẫn thường nhắc lại ngạn ngữ rằng « Tân Ước được ẩn dấu trong Cựu Ước và Cựu Ước được nhìn ra trong Tân ước ». Ngài nại đến thánh Augustinô trong sách « Thành Chúa » (Cité de Dieu), nại đến các Giáo phụ, nại cả đến những giải thích của hồng y Lubac. Ngài nhắc lại rằng Chúa Kitô sinh ra ở Bethléem xứ Judée; Ba vua tìm đến với Ngài, hỏi thăm mọi người : Vua do thái sinh ra ở đâu ? Ngài bảo rằng : Chúa Kitô không phải tình cờ mà sinh ra ở đó. Chúa Kitô không thể là người Trung Hoa, cũng chẳng thể là trẻ Phi Châu. Ðấng Cứu Thế chỉ là Cứu Thế vì ngài đến từ Dân Chúa chọn...
Vấn đề liên lạc giữa do thái giáo với kitô giáo chen lẫn vào một vấn đề khác, vấn đề bài do thái và những nguồn gốc của nó. Ngài vẫn từ chối ý tưởng cho rằng chủ nghĩa bài do thái là do kitô giáo, vì ngài luận chứng rằng chỉ có chủ nghĩa kitô lầm lạc mới có thể chìm đắm trong việc bài đạo do thái hay bài người do thái. Ngài phân biệt sự trung thành của kitô giáo với do thái giáo thánh kinh và sự bất trung của những quốc gia công giáo với truyền thống này. Chính sự bất trung này đã là nguồn gốc của những cuộc bách hại người do thái trong dòng thiên niên kỉ qua….Bị ám ảnh trong dòng dài của lịch sử, ngài cho rằng chủ nghĩa bài người và đạo do thái là những dấu chỉ của khủng hoảng luân lý Âu Châu, mà bước đầu đã hé mở từ thời phục hưng, và có thể từ trước đó nữa.
Từ đó, bà Hélène Carrère d’Encausse phác thảo chiều hướng tư tưởng thứ hai của ÐHY Lustiger. Ðó là những phân tích của ngài về sư khủng hoảng của thế giới tân tiến hôm nay. Bà nói tiếp :
Chủ thuyết duy lý là đề tài trung tâm của tư tưởng ngài về khủng hoảng của thế giới tân thời và nhất là của Phương Tây kitô. Triết lý Ánh Sáng đã thần thánh hoá lý trí nhân loại mà quên lãng mạc khải, đức tin; theo ngài, nó là nguồn gốc của tất cả những thảm kịch luân lý và vật chất của thời đại ta. Như thế, ngài đã tiếp nối tư tưởng của François Mauriac trong bài tựa rất hay cho cuốn sách Ðêm (La nuit) của Elie Wiesel. Dĩ nhiên, không phải ngài không nhìn nhận sự quan trọng của lý trí trong sự làm chủ thế giới và trong khả năng nhận biết Thiên Chúa của con người. Nhưng ngài nại đến sự liên minh của lý trí và của đức tin, sự liên minh này cho phép lý trí, không chối bỏ minh, nhưng, theo thuật ngữ ngài dùng, « tự vượt khỏi mình để chiếm lấy một chân lý nguyên thủy hơn ». Ðộc giả hời hợt sẽ vội vã kết luận rằng đó là ngài chống lại tư tưởng duy lý. Sự thực thì ngài bị day dứt vì ý tưởng thấy rằng đạo kitô bị tấn công trong suốt thiên niên kỉ vừa qua và ngài hy vọng muốn cứu lý trí ra khỏi sự tự mãn của nó. Ðiều mà ngài trách chủ nghĩa thuần lý là nó tự phụ mà cho rằng mình nắm giữ câu trả lời cuối cùng cho những vấn đề của con người.
Tư tưởng của ngài về tự do con người, mà ngài trình bày trong cuôn sách « Hãy xứng đáng với thân phận làm người », gắn liền với phân tích của ngài về những méo mó của tư tưởng Ánh Sáng…
Thế kỷ mà chúng ta đang sống là một thế kỷ rướm máu, vì thế giới quanh ta dã loại trừ Thiên Chúa Con ngưới và đôi khi cả Giáo Hội nữa, đã đang bị đặt trước những lưỡng lự và nghi ngại càng ngày càng lớn. Chúng ta đang ở vào một thời thất vọng chăng ?... Ngài, mà nhiều người cho rằng yếm thế, trả lời của ngài, thưa hồng y, lại hoàn toàn đầy hy vọng. Sau những thế kỷ thua thiệt, ngài thoáng thấy mở ra một đạo kitô đang hồi sinh trong tâm thức nhân loại. Về sự tỉnh giấc này, Giáo Hội đã đưa ra một dấu chỉ qua Công Ðồng Vatican II.
Sự hồi sinh của Giáo Hội (nhờ sự đổi mới của Công Ðồng Vatican II) trong thế giới khủng hoảng là chiều hướng tư tưởng thứ ba của ÐHY Lustiger đã được bà Hélène Carrère d’Encausse lưu tâm và trình bày. Bà viết tiếp :
Công Ðồng Vatican II đã sản xuất ra Gioan Phaolô II và ngài, thưa hồng y. Cả hai vị, các ngài là hiện thân của đổi mới mà Công Ðồng đã mang lại cho Giáo Hội….
Cũng như Ðức Gioan Phaolô II, và cùng với Ðức Gioan Phaolô II, thưa hồng y, ngài rất quyết liệt mỗi khi thấy con người bị đe dọa trong bản tính của nó. Cũng như Ðức Gioan Phaolô II, ngài quan niệm rằng không có thoả hiệp giữa sứ điệp tin mừng và những sai lệch méo mó của thời đại ta. Ngài tái xác định rằng có điều dữ và cần phải vạch ra một biên giới rõ rệt giữa điều dữ và điều lành.
Nhưng đồng thời, một làn gió lạc quan lớn đang thổi qua những tuyên ngôn và hành động của ngài trong chức vụ tổng giám mục Paris để canh tân việc đào tạo linh mục trong địa phận của ngài; đó là một điều mới cho Giáo Hội Pháp. Một trường Nhà Thờ Ðức Bà mới, một Chủng Viện mới đã được ngài thành lập để tiếp đón các linh mục tương lai và đào tạo họ trong một khoá trình dài rất độc đáo, bao gồm sự đào tạo tổng quát, sự đào tạo thần học và đời sống giáo xứ. Sự canh tân này phản ánh những thay đổi đang được thực hiện trong thế giới kitô, ít nhất là tại quê hương chúng ta. Trước nhất, một bầu khí tôn giáo mới, mà chắc ngài đã cảm thấy và có lẽ là một hiệu quả do Công Ðồng Vatican II tạo ra. Có nhiều ơn gọi mới dẫn về Giáo Hội những con người mới, tiến lên chức linh mục, khác với thủa xưa…Trong số các linh mục mới được đào tạo, có những vị rõ thật làm một sự chuyển hướng; sự chọn lựa làm linh mục đã ghi một dấu đạo lộn và một đoạn tuyệt với thế giới mà họ sống trước kia.
Những cuộc chuyển hướng này từ nay đã tăng lên nhiều trong địa phận Paris và tạo ra một sự trẻ trung trong hàng giáo sĩ. Hy vọng rằng khủng hoảng ơn gọi sẽ vượt qua. Dĩ nhiên, còn quá sớm để có thể nói đến một kỷ nguyên kitô mới… Thưa hồng y, ngài và Ðức Thánh cha, các ngài đặt nhiều hy vọng trên những rì rào mới này của lương tâm tôn giáo…
Những hy vọng này cũng cho hiểu rõ hơn quan niệm của ngài về chức vụ giám mục đối với các linh mục ngày mai, cũng như đối với các giáo dân. Ngài bảo rằng ngài không phải là một người quan sát tự nguyện trước những biến cố hiện hành. Ngài là người cha gia đình, người mà trong thời buổi bấp bênh này, phải nhất quyết giúp những người của mình tìm ra con đường mà trong mù quáng chúng đang tiến vào. Vì gánh nặng này đè trên vai, thưa hồng y, có người bảo rằng « ngài không dễ ». Sự thực cho thấy ngài không dễ với những thị hiếu, những áp bức của dư luận; nhưng ngài đưa gia đình ngài vào lại con đường có yêu cầu luân lý và tìm lại sự thật đã mất. Quả thật không dễ để đi ngược dòng. Từ khi mà các xã hội, vì lơ là tiếng nói của lương tâm, muốn xây dựng trật tự trên những qui luật do thói quen và dư luận ban bố, thì dường như người ta công nhận rằng điều gì không bị pháp luật ngăn cấm thì điều đó được phép làm và do vậy, luật của con người có khả năng làm cho những điều ngăn cấm càng ngày càng giảm đi. Ý thức hệ về tiến bộ liên tục đã làm cho ý tưởng này thắng thế, là những tiến hoá về tâm tính và phong tục thì không đảo ngược lại được, bởi vì chúng thích hợp theo « chiều lịch sử », mà nhân danh « chiều lịch sử » ấy, người ta đã sát hại hay làm giảm giá trị con người. Biến cố 68 nổ bùng lên, đã đặt lại vấn đề với những ý thức hệ và những tiền đề này, với ý tưởng ngây thơ về một lịch sử mà tiến bộ liên tục sẽ tạo ra một thế giới mới và một con người mới. Công Ðồng Vatican II đã được triệu tập cùng lúc với sự đổ vỡ của những ý thức hệ này, với ý thức rằng phải trở về với một quan niệm đích thực về nhân vị con người và trách nhiệm của nó. Ngày nay, gạt sạch được những vẩn bụi hiểu lầm và bất tri, rút cục thì lời chỉ dậy của Công Ðồng có thể sẽ bắt đầu sản xuất ra những hiệu quả tốt.
Tiếp tục bài diễn văn, bà Hélène Carrère d’Encausse trình bày tư tưởng của ÐHY Lustiger về vấn đề Au Châu.
Chủ đề cuối cùng mà tôi muốn gợi ra để kết thúc bài diễn văn này là chủ đề Âu Châu, một chủ đề mà ngài rất tha thiết. …
Ngài sinh ra trên đất Pháp, từ bé, ngài đã suy nghĩ và sống trong tiếng Pháp; dẫu vậy, ngài luôn luôn biết rằng Âu Châu không ngừng lại ở bờ sông Rhin, hay ở biên giới phía đông của nước Balan của cha ông ngài. Ngài luôn luôn biết rằng, vượt trên lãnh thổ của Ðế quốc Roma, còn trải dài ra Châu Âu kitô. Di sản âu châu mà ngài mang trong mình làm ngài kiêu hãnh đòi lấy căn tính và dự án âu châu. Nhưng Âu Châu mà chúng ta hẹn gặp, nói theo tựa đề của một cuốn sách của ngài, không chỉ là một khái niệm đặt nền trên những tiện ích và nhu cầu vật chất và an ninh; nhưng là một yêu sách thiêng liêng. Âu Châu mà ngài ước muốn là kết quả của mạc khải thánh kinh và Tin Mừng. Cộng đoàn mà nó phải xây dựng là một cộng đoàn có đạo đức, được chính đáng vì ơn gọi tinh thần. Mỗi lấn mà Âu Châu quên điều đã làm nên bản tính của mình là mỗi lần nó trở thành một cánh đồng đóng kín của những tư tưởng đồi bại mà trước hết là sự chối bỏ con người, mà cách thức hoàn hảo nhất đã đạt được là cái, không biết gọi tên làm sao, loại trừ có kế hoạch người do thái….
Âu Châu của ngài là tất cả lục địa của chúng ta, từ bờ biển Pháp, đền Vladivostok, bởi vì trong tất cả cái lãnh thổ không gian bề ngoài có nhiều khác biệt ấy, cái tính đơn nhất của sứ điệp của Cựu Ước và Tân Ước ở vào trung tâm của lịch sử các dân tộc; dẫu đôi khi họ không ý thức. Chính cái truyền thống thánh kinh và kitô này, qua bao thảm cảnh đã qua, cuối cùng, đã là bảo chứng cho tự do của con người và của các dân tộc.
LỜI KẾT
« Cả quốc gia tỏ lòng tôn kính ». Ðó là đầu đề bài báo của ký giả Henri TINCQ viết về đám tang ÐHY Gioan Maria LUSTIGER. Về phía quốc gia, chính phủ và thành phố, có sự hiện diện của tổng thống, thủ tướng, nhiều bộ trưởng, cựu đệ nhất phu nhân, thị trưởng Paris. Về phía cộng đồng do thái có chủ tịch CRIF và một số bạn bè của ÐHY
Về phía cộng đồng công giáo, có sự hiện diện của giáo hội hoàn vũ, khoảng 40 tổng giám mục và hồng y, đến từ Pháp, Balan, Vienne, Roma, Bruxelles, Hoa Thịnh Ðốn, Westminster, Cologne,.. và đặc sứ của Ðức Giáo Hoàng, Ðức hồng y Paul Poupard,..
Về phía Hàn Lâm Viện Pháp, có tổng thơ ký vĩnh viễn Maurice Druon và một số Hàn Lâm Viện Sĩ khác, trong đó có bà Hélène Carrère d’Encausse.
Về phía dân chúng, có khoảng 5000 người dự lễ, trong đó có người là du khách.
Nguyên sự hiện diện của những người muốn tiễn biệt ÐHY lần cuối cũng đã đủ nói lên nội dung di sản tư tưởng mà ÐHY muốn để lại làm di sản : Những người của Cựu Ước gốc do thái; Những người của Tân Ước trong Giáo Hội hoàn vũ công giáo; Những người của thế giới hiện dại, từ chính khách, quan quyền đến văn hoá,..; Những người Âu Châu, …
Qua một bài báo khác, đăng trên Le Monde, ngày chủ nhật 12 và thứ hai 13 tháng 08, Giáo sư triết đại học Sorbonne và đại học Chicago, ông Jean-Luc MARION[3], qua một câu, theo thiển ý tôi, dã tóm tắt sự nghiệp tư tưởng văn hoá của ÐHY Lustiger, một cách vắn gọn và chính xác nhất, qua phụ đề : « Le message du cardinal était de croire pour comprendre le mystère de Dieu ». Xin tạm dịch : « Ðức hồng y nhắn lại rằng phải tin thì mới hiểu được mầu nhiệm của Chúa ».
Paris, ngày 12 tháng 08 năm 2007
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Tài liệu tham khảo :
· http://catholique-paris.cef.fr/diocese/lustiger/index.php; đặc biệt mục « Le parcours de sa vie »
· http://www.academie-francaise.fr/immortels/index.html
[2] Henri TINCQ, L’héritage du cardinal Lustiger », dand Le Monde, Samedi 11 août 2007, p. 2
[3] Jean-Luc MARION, Lustiger ou l’intelligence de la foi : le message du cardinal était de croire pour comprendre le mystère de Dieu; dans Le Monde, Dimanche 12-Lundi 13 août 2007, p. 13
Sau khi đã ghi nhận tổng quát về tâm tính độc đáo, về trí thông minh uy tín và về thuật truyền thông rạng ngời của ÐHY Lustiger, ký giả Henri TINCQ, rất uy tín về các vấn đề công giáo của báo Le Monde, trong bài « Di sản của ÐHY Lustiger[2] », đã khẳng định rằng ÐHY Lustiger đã để lại ba gia tài : gia tài mục vụ thần học, gia tài văn hoá tinh thần và gia tài giáo dục sư phạm. Về gia tài thứ nhất và thứ ba, bài « Công trình Mục vụ của ÐHY Lustiger » mà tôi đã giới thiệu cùng độc giả ngày 09.08.2007 vừa qua đã trình bày một cách tổng quát.
Về gia tài văn hoá tinh thần mà ÐHY Lustiger đã để lại, ký giả Henri Tincq nêu ra hai nét độc đáo : 1- ÐHY đã tiếp cận và nối kết với những lãnh vực vốn được coi là xa xôi với giáo hội, như nghệ thuật, văn hoá, khoa học xã hội, kinh doanh, khoa học. Ngài có nhiều giao tiếp với những nhân vật trong những lãnh vực ấy. 2- Sinh và sống tại Paris, ÐHY nghĩ rằng số phận của con người hiện đại là sinh sống trong các thành phố, và tương lai của đức tin công giáo cũng đặt trong các thành phố. Theo ngài, văn minh giáo xứ, quá gắn chặt với xã hội nông thôn đang tàn dần. Chính vì thế mà ÐHY đã phát động một chiến dịch « rao truyền phúc âm cho thành phố ». Chúng ta có thể đồng ý hay không với ký giả Henri TINCQ.
Ðiều chắc chắn mà chúng ta biết là ÐHY đã rất chú ý đến những vấn đề văn hoá tinh thần. Nhiệm sở mục vụ đầu tiên (1954-1969) mà ngài đảm trách là môi trường đại học, một môi trường tiêu biểu của văn hoá. Rồi trong cuộc đời mục vụ tiếp theo (1969-1979), ở xứ Sainte Jeanne-de-Chantal, quận Paris 16, ở toà giám mục Orléans (1979-1981), và sau cùng ở tổng địa phận Paris (1981-2005), ÐHY đã có nhiều tiếp xúc và hoạt động với giới văn hoá. Công trình mục vụ văn hoá mà ÐHY để lại thật là rộng lớn, vì trong một khía cạnh nào đó, những hoạt động tôn giáo, giáo dục, xã hội, truyền thông,.. đều thuộc về văn hoá cả.
Nét độc đáo trong con người văn hoá của ÐHY Lustiger là ngài được các viện sĩ Viện Hàn Lâm Pháp bầu làm viện sĩ ngày 15 tháng 05 năm 1995. Trong bài này, khi chọn đầu đề là « Sự nghiệp văn hoá của ÐHY Lustiger », tôi xin được hiểu từ văn hoá trong một nghĩa hẹp, thật hẹp : văn hoá hiểu như là sự nghiệp được Hàn Lâm Viện Pháp công nhận. Hiểu theo nghĩa này, sự nghiệp văn hoá trước nhất bao gồm những sản phẩm văn hoá mà ÐHY đã sáng tác, đặc biệt là thư liệu đã viết và được Hàn Lâm Viện ghi nhận, liệt kê trong sổ những công trình. Sau đó, sự nghiệp văn hoá là những tư tưởng căn bản và độc đáo mà ÐHY đã đưa ra và để lại qua những thư liệu đã viết ấy và được một Hàn lâm Viện Sĩ, bà Hélène Carrère d’Encausse, ghi nhận trong diễn văn ngày ÐHY được tiếp đón vào Hàn Lâm Viện, ngày 14 tháng 03 năm 1996.
Các Hàn Lâm Viện Sĩ của Hàn Lâm Viện PhápA. Di sản thư liệu sáng tác của Ðức Hồng Y Lustiger
Các thư liệu mà ÐHY Lustiger đã sáng tác và để lại như di sản cho chúng ta gồm hai loại : sách và bài viết. Sau đây là 24 cuốn sách đã được mạng lưới Hàn Lâm Viện Nước Pháp http://www.academie-francaise.fr/immortels/index.html ghi lại trong mục tác phẩm của Hàn Lâm Viện Sĩ Jean Marie Lustiger :
1978_ Bài giảng của một cha sở Paris (Sermons d’un curé de Paris; Fayard)
1981_Bánh hằng sống nuôi dân Chúa (Pain de vie et peuple de Dieu; Critérion)
1985_Hãy dám tin (Osez croire; Le Centurion)
1985_Hãy dám sống (Osez vivre; Le Centurion)
1986_ Bước đầu trên đường cầu nguyện (Premiers pas dans la prière; Nouvelle Cité)
1986_Hãy giữ lấy chỗ giữa lòng Giáo Hội (Prenez place au cœur de l’Églis; Office chrétien des handicapés)
1987_ Sáu bài giảng cho những đại diện quốc gia do dân bầu ( Six sermons aux élus de la Nation, 1981-1986; Le Cerf)
1987_Chọn Chúa- Ðàm luận với Jean Louis Missika và Dominique Wolton (Le Choix de Dieu. Entretiens avec Jean-Louis Missika et Dominique Wolton; Le Fallois)
1988_Thánh lễ ( La Messe; Bayard)
1990_ Tạ ơn Trời ta có nhân quyền (Dieu merci, les droits de l’homme; Critérion)
1990_Bí tích xức dầu thánh cho bệnh nhân (Le Sacrement de l’onction des malades; Le Cerf)
1990_Nhà thờ Thánh Ayoul đệ Jeanclos (Le Saint-Ayoul de Jeanclos (en collaboration avec Alain Peyrefitte); Fayard)
1991_Chúng ta có hẹn với Châu Âu (Nous avons rendez-vous avec l’Europe; Mame)
1991_Dám vui mừng (Dare to rejoice (Compilation américaine) (Our Sunday visitor)
1992_Lời thầm thì đêm Giáng Sinh (Petites paroles de nuit de Noël; Le Fallois)
1995_Hãy xứng đáng với thân phận làm người (Devenez dignes de la condition humaine; Flammarion)
1997_Hãy rửa tội cho con bạn (Le Baptême de votre enfant; Fleurus)
1997_Hãy sung sướng (Soyez heureux; Éd. Nil)
1999_Vì Châu Âu, một nghệ thuật sống mới (Pour l'Europe, un nouvel art de vivre; PUF)
2000_Những linh mục mà Chúa ban cho ta (Les prêtres que Dieu donne; Desclée de Brouwer)
2001_Chúa yêu bạn biết ngần nào. Hành hương Giêrusalem, Roma và Lộ Ðức (Comme Dieu vous aime. Un pèlerinage à Jérusalem, Rome et Lourdes (Parole et silence)
2002_Lời hứa (La Promesse; Parole et Silence)
2004_Chúa mở cửa đức tin th ế nào (Comment Dieu ouvre la porte de la foi; Desclée de Brouwer)
2005_Chiêm ngắm khải huyền (Contempler l'Apocalypse; Parole et Silence)
Mạng lưới Hàn Lâm viện đồng thời cũng ghi nhận 6 bài diễn văn hay công trình Hàn Lâm sau đây :
Diễn văn tiếp nhận vào Hàn Lâm Viện thế chỗ Ðức Hồng Y Albert Decourtray, (Discours de réception, 14 mars 1996).
Ðiếu tang Hàn Lâm Viện Sĩ Jacques-Yves Cousteau (Homélie prononcée lors des obsèques de M. Jacques-Yves Cousteau, en la cathédrale Notre-Dame de Paris, 30 juin 1997).
Ðiếu tang Hàn LâmViện Sĩ Maurice Schuman (Homélie prononcée lors des obsèques de M. Maurice Schumann, en l’église Saint-Louis des Invalides, 13 février 1998).
Ðiếu tang Hàn Lâm Viện Sĩ Jean Guitton (Homélie prononcée lors des obsèques de M. Jean Guitton, en l'église Saint-Louis des Invalides, 25 mars 1999).
Ðiếu tang Hàn Lâm Viện Sĩ Jacques de Bourbon Busset (Hommage lu lors des obsèques de M. Jacques de Bourbon Busset, en l'église Saint-Martin de Ballancourt, 11 mai 2001).
Ðiếu tang Hàn Lâm Viện Sĩ Léopold Sédar Senghor (Homélie prononcée en mémoire de M. Léopold Sédar Senghor, en l'église Saint-Germain-des-Prés, 29 janvier 2002).
Không kể những sách và công trình Hàn Lâm trên đây, ÐHY còn biên nhiều bài, viết về những đề tài rất khác biệt : giới trẻ, gia đình, liên đới, sức khoẻ, đào tạo, linh mục, văn hoá, nghệ thuật, động lực truyền giáo, đại kết, liên quan với do thái giáo, lịch sử, nguyện gẫm,..
Mạng tin học địa phận Paris : http://catholique-paris.cef.fr/diocese/lustiger/articles/index.php ghi nhận đa số những bài viết này.
ÐHY Lustiger, bà Hélène Carrère d’Encausse và mấy Hàn lâm viện sĩ khácB. Di sản tư tưởng của ÐHY Lustiger
Qua tất cả những công trình văn hoá mà ÐHY đã sáng tác trên đây, di sản tư tưởng nào đã được để lại ? Trong bài diễn văn, ngày 14 tháng 03 năm 1996, trả lời diễn văn của ÐHY chấp nhận vào Hàn Lâm Viện Pháp, bà Hàn Lâm Viện Sĩ Hélène CARRERE d’ENCAUSSE nói với Hàn Lâm Viện Sĩ LUSTIGER để trình bày tư tưởng của ngài xoay quanh bốn chiều hướng chính.
Chiều hướng thứ nhất đi vào liên hệ giữa do thái giáo cà công giáo. Bà nói :
Xin phép ngài cho tôi được trở về với tư tưởng của ngài về điều nối kết do thái giáo với kitô giáo. Mỗi lần đề cập đến cuộc trở lại đạo của mình, ngài đều cực lực phản đối ý tưởng cho rằng ngài đã từ bỏ căn tính do thái của mình. Ngài vẫn giải thích điều đó luôn, song le người ta vẫn không luôn luôn hiểu như vậy. Tại sao người ta lại có thể không nhận ra những lý do soi sáng tất cả dòng dài lịch sử do thái giáo với kitô giáo ? Sự liên hệ giữa Cựu Ước và Tân Ước, trọng tâm tư tưởng của ngài, cắt nghĩa tại sao dân Do thái đã được Chúa chọn. …
Tư tưởng coi rằng kitô giáo là kết quả của Israël, là sự hoàn tất lời Chúa hứa, đối với ngài, thưa hồng y, chỉ là « một sự thật đã được chấp nhận một cách hết sức tự nhiên », không cần phải luận bàn, cũng chẳng cần phải định nghĩa. Ngài vẫn thường nhắc lại ngạn ngữ rằng « Tân Ước được ẩn dấu trong Cựu Ước và Cựu Ước được nhìn ra trong Tân ước ». Ngài nại đến thánh Augustinô trong sách « Thành Chúa » (Cité de Dieu), nại đến các Giáo phụ, nại cả đến những giải thích của hồng y Lubac. Ngài nhắc lại rằng Chúa Kitô sinh ra ở Bethléem xứ Judée; Ba vua tìm đến với Ngài, hỏi thăm mọi người : Vua do thái sinh ra ở đâu ? Ngài bảo rằng : Chúa Kitô không phải tình cờ mà sinh ra ở đó. Chúa Kitô không thể là người Trung Hoa, cũng chẳng thể là trẻ Phi Châu. Ðấng Cứu Thế chỉ là Cứu Thế vì ngài đến từ Dân Chúa chọn...
Vấn đề liên lạc giữa do thái giáo với kitô giáo chen lẫn vào một vấn đề khác, vấn đề bài do thái và những nguồn gốc của nó. Ngài vẫn từ chối ý tưởng cho rằng chủ nghĩa bài do thái là do kitô giáo, vì ngài luận chứng rằng chỉ có chủ nghĩa kitô lầm lạc mới có thể chìm đắm trong việc bài đạo do thái hay bài người do thái. Ngài phân biệt sự trung thành của kitô giáo với do thái giáo thánh kinh và sự bất trung của những quốc gia công giáo với truyền thống này. Chính sự bất trung này đã là nguồn gốc của những cuộc bách hại người do thái trong dòng thiên niên kỉ qua….Bị ám ảnh trong dòng dài của lịch sử, ngài cho rằng chủ nghĩa bài người và đạo do thái là những dấu chỉ của khủng hoảng luân lý Âu Châu, mà bước đầu đã hé mở từ thời phục hưng, và có thể từ trước đó nữa.
Từ đó, bà Hélène Carrère d’Encausse phác thảo chiều hướng tư tưởng thứ hai của ÐHY Lustiger. Ðó là những phân tích của ngài về sư khủng hoảng của thế giới tân tiến hôm nay. Bà nói tiếp :
Chủ thuyết duy lý là đề tài trung tâm của tư tưởng ngài về khủng hoảng của thế giới tân thời và nhất là của Phương Tây kitô. Triết lý Ánh Sáng đã thần thánh hoá lý trí nhân loại mà quên lãng mạc khải, đức tin; theo ngài, nó là nguồn gốc của tất cả những thảm kịch luân lý và vật chất của thời đại ta. Như thế, ngài đã tiếp nối tư tưởng của François Mauriac trong bài tựa rất hay cho cuốn sách Ðêm (La nuit) của Elie Wiesel. Dĩ nhiên, không phải ngài không nhìn nhận sự quan trọng của lý trí trong sự làm chủ thế giới và trong khả năng nhận biết Thiên Chúa của con người. Nhưng ngài nại đến sự liên minh của lý trí và của đức tin, sự liên minh này cho phép lý trí, không chối bỏ minh, nhưng, theo thuật ngữ ngài dùng, « tự vượt khỏi mình để chiếm lấy một chân lý nguyên thủy hơn ». Ðộc giả hời hợt sẽ vội vã kết luận rằng đó là ngài chống lại tư tưởng duy lý. Sự thực thì ngài bị day dứt vì ý tưởng thấy rằng đạo kitô bị tấn công trong suốt thiên niên kỉ vừa qua và ngài hy vọng muốn cứu lý trí ra khỏi sự tự mãn của nó. Ðiều mà ngài trách chủ nghĩa thuần lý là nó tự phụ mà cho rằng mình nắm giữ câu trả lời cuối cùng cho những vấn đề của con người.
Tư tưởng của ngài về tự do con người, mà ngài trình bày trong cuôn sách « Hãy xứng đáng với thân phận làm người », gắn liền với phân tích của ngài về những méo mó của tư tưởng Ánh Sáng…
Thế kỷ mà chúng ta đang sống là một thế kỷ rướm máu, vì thế giới quanh ta dã loại trừ Thiên Chúa Con ngưới và đôi khi cả Giáo Hội nữa, đã đang bị đặt trước những lưỡng lự và nghi ngại càng ngày càng lớn. Chúng ta đang ở vào một thời thất vọng chăng ?... Ngài, mà nhiều người cho rằng yếm thế, trả lời của ngài, thưa hồng y, lại hoàn toàn đầy hy vọng. Sau những thế kỷ thua thiệt, ngài thoáng thấy mở ra một đạo kitô đang hồi sinh trong tâm thức nhân loại. Về sự tỉnh giấc này, Giáo Hội đã đưa ra một dấu chỉ qua Công Ðồng Vatican II.
Sự hồi sinh của Giáo Hội (nhờ sự đổi mới của Công Ðồng Vatican II) trong thế giới khủng hoảng là chiều hướng tư tưởng thứ ba của ÐHY Lustiger đã được bà Hélène Carrère d’Encausse lưu tâm và trình bày. Bà viết tiếp :
Công Ðồng Vatican II đã sản xuất ra Gioan Phaolô II và ngài, thưa hồng y. Cả hai vị, các ngài là hiện thân của đổi mới mà Công Ðồng đã mang lại cho Giáo Hội….
Cũng như Ðức Gioan Phaolô II, và cùng với Ðức Gioan Phaolô II, thưa hồng y, ngài rất quyết liệt mỗi khi thấy con người bị đe dọa trong bản tính của nó. Cũng như Ðức Gioan Phaolô II, ngài quan niệm rằng không có thoả hiệp giữa sứ điệp tin mừng và những sai lệch méo mó của thời đại ta. Ngài tái xác định rằng có điều dữ và cần phải vạch ra một biên giới rõ rệt giữa điều dữ và điều lành.
Nhưng đồng thời, một làn gió lạc quan lớn đang thổi qua những tuyên ngôn và hành động của ngài trong chức vụ tổng giám mục Paris để canh tân việc đào tạo linh mục trong địa phận của ngài; đó là một điều mới cho Giáo Hội Pháp. Một trường Nhà Thờ Ðức Bà mới, một Chủng Viện mới đã được ngài thành lập để tiếp đón các linh mục tương lai và đào tạo họ trong một khoá trình dài rất độc đáo, bao gồm sự đào tạo tổng quát, sự đào tạo thần học và đời sống giáo xứ. Sự canh tân này phản ánh những thay đổi đang được thực hiện trong thế giới kitô, ít nhất là tại quê hương chúng ta. Trước nhất, một bầu khí tôn giáo mới, mà chắc ngài đã cảm thấy và có lẽ là một hiệu quả do Công Ðồng Vatican II tạo ra. Có nhiều ơn gọi mới dẫn về Giáo Hội những con người mới, tiến lên chức linh mục, khác với thủa xưa…Trong số các linh mục mới được đào tạo, có những vị rõ thật làm một sự chuyển hướng; sự chọn lựa làm linh mục đã ghi một dấu đạo lộn và một đoạn tuyệt với thế giới mà họ sống trước kia.
Những cuộc chuyển hướng này từ nay đã tăng lên nhiều trong địa phận Paris và tạo ra một sự trẻ trung trong hàng giáo sĩ. Hy vọng rằng khủng hoảng ơn gọi sẽ vượt qua. Dĩ nhiên, còn quá sớm để có thể nói đến một kỷ nguyên kitô mới… Thưa hồng y, ngài và Ðức Thánh cha, các ngài đặt nhiều hy vọng trên những rì rào mới này của lương tâm tôn giáo…
Những hy vọng này cũng cho hiểu rõ hơn quan niệm của ngài về chức vụ giám mục đối với các linh mục ngày mai, cũng như đối với các giáo dân. Ngài bảo rằng ngài không phải là một người quan sát tự nguyện trước những biến cố hiện hành. Ngài là người cha gia đình, người mà trong thời buổi bấp bênh này, phải nhất quyết giúp những người của mình tìm ra con đường mà trong mù quáng chúng đang tiến vào. Vì gánh nặng này đè trên vai, thưa hồng y, có người bảo rằng « ngài không dễ ». Sự thực cho thấy ngài không dễ với những thị hiếu, những áp bức của dư luận; nhưng ngài đưa gia đình ngài vào lại con đường có yêu cầu luân lý và tìm lại sự thật đã mất. Quả thật không dễ để đi ngược dòng. Từ khi mà các xã hội, vì lơ là tiếng nói của lương tâm, muốn xây dựng trật tự trên những qui luật do thói quen và dư luận ban bố, thì dường như người ta công nhận rằng điều gì không bị pháp luật ngăn cấm thì điều đó được phép làm và do vậy, luật của con người có khả năng làm cho những điều ngăn cấm càng ngày càng giảm đi. Ý thức hệ về tiến bộ liên tục đã làm cho ý tưởng này thắng thế, là những tiến hoá về tâm tính và phong tục thì không đảo ngược lại được, bởi vì chúng thích hợp theo « chiều lịch sử », mà nhân danh « chiều lịch sử » ấy, người ta đã sát hại hay làm giảm giá trị con người. Biến cố 68 nổ bùng lên, đã đặt lại vấn đề với những ý thức hệ và những tiền đề này, với ý tưởng ngây thơ về một lịch sử mà tiến bộ liên tục sẽ tạo ra một thế giới mới và một con người mới. Công Ðồng Vatican II đã được triệu tập cùng lúc với sự đổ vỡ của những ý thức hệ này, với ý thức rằng phải trở về với một quan niệm đích thực về nhân vị con người và trách nhiệm của nó. Ngày nay, gạt sạch được những vẩn bụi hiểu lầm và bất tri, rút cục thì lời chỉ dậy của Công Ðồng có thể sẽ bắt đầu sản xuất ra những hiệu quả tốt.
Tiếp tục bài diễn văn, bà Hélène Carrère d’Encausse trình bày tư tưởng của ÐHY Lustiger về vấn đề Au Châu.
Chủ đề cuối cùng mà tôi muốn gợi ra để kết thúc bài diễn văn này là chủ đề Âu Châu, một chủ đề mà ngài rất tha thiết. …
Ngài sinh ra trên đất Pháp, từ bé, ngài đã suy nghĩ và sống trong tiếng Pháp; dẫu vậy, ngài luôn luôn biết rằng Âu Châu không ngừng lại ở bờ sông Rhin, hay ở biên giới phía đông của nước Balan của cha ông ngài. Ngài luôn luôn biết rằng, vượt trên lãnh thổ của Ðế quốc Roma, còn trải dài ra Châu Âu kitô. Di sản âu châu mà ngài mang trong mình làm ngài kiêu hãnh đòi lấy căn tính và dự án âu châu. Nhưng Âu Châu mà chúng ta hẹn gặp, nói theo tựa đề của một cuốn sách của ngài, không chỉ là một khái niệm đặt nền trên những tiện ích và nhu cầu vật chất và an ninh; nhưng là một yêu sách thiêng liêng. Âu Châu mà ngài ước muốn là kết quả của mạc khải thánh kinh và Tin Mừng. Cộng đoàn mà nó phải xây dựng là một cộng đoàn có đạo đức, được chính đáng vì ơn gọi tinh thần. Mỗi lấn mà Âu Châu quên điều đã làm nên bản tính của mình là mỗi lần nó trở thành một cánh đồng đóng kín của những tư tưởng đồi bại mà trước hết là sự chối bỏ con người, mà cách thức hoàn hảo nhất đã đạt được là cái, không biết gọi tên làm sao, loại trừ có kế hoạch người do thái….
Âu Châu của ngài là tất cả lục địa của chúng ta, từ bờ biển Pháp, đền Vladivostok, bởi vì trong tất cả cái lãnh thổ không gian bề ngoài có nhiều khác biệt ấy, cái tính đơn nhất của sứ điệp của Cựu Ước và Tân Ước ở vào trung tâm của lịch sử các dân tộc; dẫu đôi khi họ không ý thức. Chính cái truyền thống thánh kinh và kitô này, qua bao thảm cảnh đã qua, cuối cùng, đã là bảo chứng cho tự do của con người và của các dân tộc.
LỜI KẾT
« Cả quốc gia tỏ lòng tôn kính ». Ðó là đầu đề bài báo của ký giả Henri TINCQ viết về đám tang ÐHY Gioan Maria LUSTIGER. Về phía quốc gia, chính phủ và thành phố, có sự hiện diện của tổng thống, thủ tướng, nhiều bộ trưởng, cựu đệ nhất phu nhân, thị trưởng Paris. Về phía cộng đồng do thái có chủ tịch CRIF và một số bạn bè của ÐHY
Về phía cộng đồng công giáo, có sự hiện diện của giáo hội hoàn vũ, khoảng 40 tổng giám mục và hồng y, đến từ Pháp, Balan, Vienne, Roma, Bruxelles, Hoa Thịnh Ðốn, Westminster, Cologne,.. và đặc sứ của Ðức Giáo Hoàng, Ðức hồng y Paul Poupard,..
Về phía Hàn Lâm Viện Pháp, có tổng thơ ký vĩnh viễn Maurice Druon và một số Hàn Lâm Viện Sĩ khác, trong đó có bà Hélène Carrère d’Encausse.
Về phía dân chúng, có khoảng 5000 người dự lễ, trong đó có người là du khách.
Nguyên sự hiện diện của những người muốn tiễn biệt ÐHY lần cuối cũng đã đủ nói lên nội dung di sản tư tưởng mà ÐHY muốn để lại làm di sản : Những người của Cựu Ước gốc do thái; Những người của Tân Ước trong Giáo Hội hoàn vũ công giáo; Những người của thế giới hiện dại, từ chính khách, quan quyền đến văn hoá,..; Những người Âu Châu, …
Qua một bài báo khác, đăng trên Le Monde, ngày chủ nhật 12 và thứ hai 13 tháng 08, Giáo sư triết đại học Sorbonne và đại học Chicago, ông Jean-Luc MARION[3], qua một câu, theo thiển ý tôi, dã tóm tắt sự nghiệp tư tưởng văn hoá của ÐHY Lustiger, một cách vắn gọn và chính xác nhất, qua phụ đề : « Le message du cardinal était de croire pour comprendre le mystère de Dieu ». Xin tạm dịch : « Ðức hồng y nhắn lại rằng phải tin thì mới hiểu được mầu nhiệm của Chúa ».
Paris, ngày 12 tháng 08 năm 2007
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Tài liệu tham khảo :
· http://catholique-paris.cef.fr/diocese/lustiger/index.php; đặc biệt mục « Le parcours de sa vie »
· http://www.academie-francaise.fr/immortels/index.html
[2] Henri TINCQ, L’héritage du cardinal Lustiger », dand Le Monde, Samedi 11 août 2007, p. 2
[3] Jean-Luc MARION, Lustiger ou l’intelligence de la foi : le message du cardinal était de croire pour comprendre le mystère de Dieu; dans Le Monde, Dimanche 12-Lundi 13 août 2007, p. 13