Bài huấn dụ Thứ Tư hàng tuần 21/3: Thánh Justin Tử Đạo
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách3/24/2007
Pdf Email cho bạn bè In Ra Tăng Cỡ Chữ Giảm Cỡ Chữ Cỡ Chữ Ban Đầu

Ngài xem Kitô Giáo là “triết học thật sự”

VATiCAN (Zenit.org).- Bài huấn đức Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVi trình bày trong buổi tiếp liến chung hôm nay trong Quảng trường Thánh Phêro. Bài suy niệm trập trung vào thánh Justin Tử Đạo

* * *

Anh Chị Em thân mến,

Với những bài giáo lý này chúng ta suy niệm về những gương mặt lớn của Giáo Hội sơ khai. Hôm nay chúng ta sẽ nói về Thánh Justin, triết gia và tử đạo, quan trọng nhất giữa những Giáo phụ hộ giáo của thế kỷ thứ hai.

Từ “apologist-hộ giáo” chỉ những văn sĩ Kitô giáo thời xa xưa, những kẻ muốn bênh vực tôn giáo mới khỏi những sự tố cáo nặng nề của dân ngoại và người Do thái, và loan truyền giáo lý Kitô giáo trong những từ ngữ hiểu được cho các thời đại.

Như vậy, những nhà hộ giáo có hai mục tiêu: mục tiêu thật sự hộ giáo, nghĩa là, bênh vực Kitô Giáo mới sinh (trên thực tế, tiếng Hy lạp “apologia” có nghĩa là bênh vực); và mục tiêu “truyền giáo”, tìm cách giải thích đức tin bằng cách sử dụng ngôn ngữ và những ý niệm có thể hiểu được cho các kẻ đồng thời.

Justin sinh lối năm 100, gần thành phố cổ Sichem, tại Samaria, trong Đất Thánh. Qua một thời gian lâu dài ngài tìm kiếm chân lý, trải qua những trường khác nhau của triết học truyền thống Hy lạp.

Sau cùng, như chính ngài nói trong những chương đầu quyển “Đối thoại với Trypho”-- một nhân vật bí nhiệm, một ông già mà ngài gặp trên bờ biển, lúc đầu làm đảo lộn Justin bằng cách chỉ cho ngài thấy con người không thể thoả mãn tính ước muốn sự thần linh với những sức lực con người mà thôi.

Sau đó, người ấy nói tới những tiên tri ngày trước như là những kẻ có thể chỉ cho Justin con đường tới Chúa và “triết học.” Trước khi chia tay, ông già khuyên ngài cầu nguyện ngõ hầu những cửa sự sáng sẽ mở ra cho ngài.

Câu truyện biểu trưng một thời điểm quan trọng trong đời sống Justin: Sau một cuộc hành trình triết học dài để tìm chân lý, ngài gặp Kitô Giáo. Sau đó ngài xây dựng một trường học tại Rome, dạy miễn phí, ngài kết nạp những sinh viên của ngài vào tôn giáo mới, mà ngài coi là môn triết học thật.

Trên thực tế, trong tôn giáo này, ngài đã gặp chân lý và do đó, con đường để sống chính trực. Vì sự này ngài bị tố giác và bị xử trảm vào khoảng năm 165, dười triều vua Marcus Aurelius, vị hoàng đế-triết gia, được Justin gởi tặng một quyển “Apologia.”

Hai quyển “Apologies” và “Đối thoại với Trypho” là những tác phẩm duy nhất lúc ngài còn sống. Trong những quyển sách đó, trước hết Justin nhằm chứng tỏ những dự án của Chúa về sự sáng tạo và sự cứu rỗi được mang đến do Chúa Kitô, “Logos,” nghĩa là, Lời đời đời, Lý Trí đời đời, Lý Trí sáng tạo.

Tất cả mọi người, là một tạo vật có lý trí, tham gia vào “Logos,” bằng cách mang trong mình một hạt “giống,” và có thể nhận thấy những tia sáng le lói chân lý. Như vậy, cũng một “Logos,” Đấng đã tự măc khải như một hình ảnh tiên tri cho những người Do thái trong Cựu Ước, cũng đã tự mặc khải từng phần, như “những hạt giống chân lý,” trong triết học Hy Lạp.

Như vậy Justin kết luận rằng, vì Kito Giáo là một sự bày tỏ của “Logos” cách trọn vẹn, “tất cả điều gì là tốt đẹp được người nào đó diễn tả, thuộc về chúng ta là những Kitô hữu” ( ii Apologia 13, 4). Như vậy, Justin cả khi phản đối đến triết học Hy Lạp vì những sự trái ngược của nó, nhất quyết hướng bất cứ chân lý triết lý nào về “Logos,” biện minh từ một quan điểm lý trí “thái độ tự phụ” bất thường của chân lý và tính phổ quát của Kitô Giáo.

Nếu Cựu Ước hướng vể Chúa Kitô như hình với bóng hướng về chân lý nó diễn tả, thì triết học Hy Lạp cũng hướng về Chúa Kitô và Tin Mừng, như một thành phần hướng về sự hiệp nhất với toàn khối.

Và ngài nói hai thực tại này, Cựu Ước và triết học Hy lạp, như hai con đường dẫn tới Chúa Kitô, tới “Logos.” Đó là lý do triết học Hy lạp không thể đối nghịch với chân lý Tin Mừng, và các Kitô hữu có thể tin tưởng rút ra từ đó, dường như nó là của riêng mình. Đó là lý do đấng tiền nhiệm của tôi, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, định nghĩa Justin như là một “người tiên phong của một sự cam kết tích cực với tư tưởng triết học -mặc dầu với sự phân định ý tứ. Mặc dầu ngài tiếp tục đề cao triết học Hy lạp sau khi trở lại đạo, Justin mạnh bạo và sáng suốt tuyên bố ngài đã gặp trong Kitô Giáo ‘triết học chắc và hữu ích duy nhất,” (Đối Thoại với Trypho” 8,1) (“Đức Tin và Lý Trí, “ số 38).

Xét toàn bộ, con người và công việc của Justin đánh dấu sự lựa chọn quyết định của Giáo Hội xưa đối với triết học, vì lý trí, thay vì những tôn giáo ngoại. Trên thực tế, các Kitô hữu đầu tiên từ chối bất cứ sự thỏa hiệp nào với tôn giáo ngoại. Họ coi đó là ngẫu tượng, dầu với cái giá bị cáo là “vô đạo” và “vô thần.” Cách riêng và đặc biệt trong quyển “Apology” đầu tiên của ngài, Justin chỉ trích ác nghiệt tôn giáo ngoại và những huyền thoại của tôn giáo ấy, mà ngài gọi là “những sự làm mất phương hướng” có tính ma quỉ trên con đường tới chân lý.

Ngược lại, triết học biểu thị chỗ gặp ưu tiên cho ngoại giáo, Do Thái giáo và Kitô giáo, nói cho đứng là trên mức độ phê bình tôn giáo ngoại và các thần thoại giả trá của nó.

Một nhà hộ giáo khác, đồng thời với Justin, là Giám Mục Melito thành Sardis, định nghĩa tôn giáo mới là “triết học của chúng ta…” (“Hist.Eccl.” 4,26,7).

Thật vậy, ngọai giáo không đi đôi với con đường của “Logos,” nhưng khăng khăng theo những thần thoại của nó cho dầu được triết học Hy lạp công nhận là mâu thuẫn với chân lý. Do đó, sự sụp đổ của ngoại giáo không thể tránh được: đó là hậu quả logic của sự tách tôn giáo khỏi chân lý của những sự vật, qui tôn giáo về một sự sưu tập giả những nghi lễ, những truyền thống và những tập quán.

Justin, và cùng những nhà hộ giáo khác, lấy vị trí của đức tin Kitô hữu như là Chúa của các nhà triết học thay vì những thần giả của ngoại giáo. Đó là một sự lựa chọn chân lý chống lại thần thoại của những truyền thống. Vài thập niên sau Justin, Tertullian đã định nghĩa cũng sự lựa chọn của những Kitô hữu với một câu đời đời có giá trị : “Dominus noster Christus veritatem se, non consuetudinem, cognominavit—Chúa Kitô nói Người là chân lý, không phải là truyền thống: (“ De virgin.vel.” 1,1).

Anh em hãy ghi nhận rằng “consuetudo-truyền thống,” Tertullian sử dụng ở đây với sự qui chiếu về ngoại giáo, có thể dịch sang những từ ngữ hiện đại với những kiểu nói như “những kiểu cách văn hóa” hay là “những mốt nhất thời.”

Trong một thời đại như thời đại chúng ta, được đánh dấu bằng thuyết tương đối trong sự tranh cãi về những giá trị và về tôn giáo—cũng như trong sự đối thoại liên tôn giáo—đó là một bài học không nên quên. Với mục tiêu này, và đến đây tôi xin kết thúc, tôi lại trình bày với anh chị em những lời của ông già bí nhiệm Justin gặp ngoài biển: “Hơn bao giờ hết, anh hãy cầu xin để cửa sự sáng được mở ra cho anh. Vì, không ai có thể thấy cũng không thể hiểu nếu Thiên Chúa và Đấng Kitô của Người không cho họ hiểu” (“Dial.” 7.3)

Sau buổi tiếp kiến, Đức Giáo Hoàng chào những người thăm viếng bằng các thứthứ tiếng khác nhau. Trong tiếng Anh, ngài nói:

Anh Chị Em thân mến,

Tiếp tục bài giáo lý của chúng ta về các Giáo Phụ thời Giáo Hội sơ khai, hôm nay chúng ta quan sát Thánh Justin, vị triết gia và tử đạo. Thánh Justin được sinh ra tại Samaria, Palestine, lối năm 100. Lúc còn trẻ ngài đã hăng say tìm kiếm chân lý. Sau một cuộc hội ngộ với một ông già, ông ấy hướng ngài đến chỗ cầu nguyện và học hỏi các tiên tri, vị Thánh đã trở lại đạo Kitô giáo. Rốt cuộc ngài đã mở một trường học tại Roma nơi ngài dạy tôn giáo mới, ngài bị cáo là một Kitô hữu và bị trảm quyết năm 165. Trong số tác phẩm ngài đã viết, chỉ còn hai quyển Hộ Giáo của ngài và quyển Đối thoại của ngài với Trypho. Những quyển này đề cao dự án Sáng tạo và Cứu Rỗi của Thiên Chúa được thiện hiện trong Chúa Giêsu Kitô, là Logos hay là Lời của Thiên Chúa. Truớc khi Chúa Kitô sinh ra Logos cho phép những người nam và nữ biết được một phần chân lý về Thiên Chúa và người ta. Tuy nhiên, chân lý trọn vẹn được ban cho các kitô hữu với sự Nhập Thể của Lời Thiên Chúa. Sự Đối Thoại của chúng ta với triết học và các tôn giáo khác, do thánh Justin linh hứng, phải đâm rễ sâu trong Chân Lý, đang khi luôn tránh điều thuần túy thời thượng.

Tôi dâng một lời chào nồng ấm tới tất cả những người thăm viếng nói tiếng Anh hiện diện trong buổi tiếp kiến hôm nay. Tôi gởi những lời chào đặc biệt tới các sinh viên từ Trường American Taipei, tới các thành phần phái đoàn tôn giáo Shinto từ Japan và tới những người hành hương từ Arcabbey Thánh Vincent tại Latrobe. Mong sao mùa Chay này thanh lọc tâm hồn anh chị em và làm tràn đầy anh chị em với nhiêm vui, và xin Chúa chúc lành tất cả anh chị em.

See Also

6/17/2010
Đức Giáo Hoàng giải thích tại sao xã hội cần Thomas Aquinas
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
11/20/2009
Đức Giáo Hoàng rút những bài học từ kiến trúc Gothic
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
11/20/2009
Sự đóng góp của Cluny: Đánh giá con người và hòa bình.
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
11/6/2009
Đức Giáo Hoàng kêu gọi phải tranh luận lành mạnh
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
6/27/2009
Đức Giáo Hoàng ghi nhận mục tiêu của Ngài cho năm Linh Mục
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
5/30/2009
Đức Giáo Hoàng: Yêu lao động là một dấu chỉ tốt
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
4/11/2009
Đức Giáo Hoàng: Tam Nhật Vượt Qua là điểm tựa của năm Phụng Vụ
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
4/7/2009
Đức Giáo Hoàng: Đức bác ái còn hơn lòng thương người.
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
3/14/2009
Kitô Giáo đem lại sự phát triển
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
3/14/2009
Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh nhu cầu suy niệm về tình yêu Thiên Chúa
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
2/21/2009
Đức Giáo Hoàng: Trong Giáo Hội không có chỗ cho những tâm trí hẹp hòi
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
2/21/2009
Đức Giáo Hoàng thúc đẩy đến việc xưng tội
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
2/21/2009
Đức Giáo Hoàng chỉ tới sự liên kết Đấng Sáng Tạo
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
2/21/2009
Đức Giáo Hoàng cảnh báo Brazil về nạn nghèo đói luân lý
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
2/21/2009
Đức Giáo Hoàng ca ngợi người làm cho Châu Âu thành Kitô hữu
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
1/10/2009
Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI Giải Thích Thờ phụng cách chân thật.
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
11/21/2008
Đức Giáo Hoàng làm sáng tỏ ý niệm của Luther về sự công chính hóa
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
10/5/2008
Xung đột giữa Phaolô và Phêrô đã dạy nên sự đối thoại
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
8/23/2008
Đức Giáo Hoàng nhắc nhở đến niềm hy vọng của Thánh Maximilìan Kolbe.
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
6/28/2008
Huấn dụ Thứ Tư hàng tuần: Tự do ở trong tiếng “Vâng”
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách