Bài 52: Ảnh Hưởng Dơ Bẩn Của Truyền Thông Nơi Giới Trẻ
Những Chủ Đề Về Tình Dục Và Bạo Lực Đã Khiến Các Em Phải Trả Giá
CHICAGO (Zenit.org).-
Những cuộc nghiên cứu vừa mới đây khẳng định cho những mối quan ngại dai dẳng về sự ảnh hưởng của truyền thông nơi các trẻ em và những em vừa mới lớn. Trong số phát hành vào ngày 2 tháng 8 của tạp chí 'Nhi Khoa' (Pediatrics), do Hàn Lâm Viện Nhi Khoa Hoa Kỳ có trụ sở đặt tại tiểu bang Illinois xuất bản, vốn có hai bài viết nói về chủ đề vừa kể trên.
Một trong những bài viết đó có nhan đề là “Phơi Bày Sự Đồi Trụy So Với Những Loại Nhạc Trữ Tình Đứng Đắng và Hành Vi Dâm Dục Trong Giới Trẻ” (Exposure to Degrading Versus Nondegrading Music Lyrics and Sexual Behavior Among Youth), vốn được dựa trên những cuộc phỏng vấn qua điện thoại với 1,461 thanh thiếu niên có độ tuổi từ 12 đến 17 tuổi. Nhóm này được phỏng vấn tới 3 lần: trong năm 2001, 2002, và 2004. Theo bài báo, trung bình mỗi em lắng nghe nhạc từ 1.5 đến 2.5 tiếng đồng hồ mỗi ngày, chưa kể đến việc xem các băng ca nhạc video. Những chủ đề về sự dâm dục là khá phổ biến trong phần lớn các loại nhạc này, từ trữ tình, lãng mạn, đến suy đồi và hiếu chiến.
Các tác giả bắt đầu cuộc nghiên cứu bằng việc quan sát rằng có một kiểu lý luận theo lý thuyết rất mạnh mẽ nhằm ám chỉ cho rằng việc lắng nghe những loại âm nhạc trữ tình gợi dục, có tầm ảnh hưởng đến hành vi tính dục của các em. Cuộc nghiên cứu của họ đã khẳng định cho lý thuyết đó, bằng việc khám phá ra rằng: “Những em ở lứa tuổi thanh thiếu niên nào mà dành nhiều thời gian để lắng nghe nhạc thì thường hay bắt đầu chuyện quan hệ tình dục sớm hơn, so với những em nào ít khi dành thời gian để nghe nhạc.”
Bài báo còn nêu ra rằng mối quan hệ giữa hai yếu tố kể trên không phải là bằng chứng rõ ràng, chắc chắn của một kiểu quan hệ bình thường mang tính cách xã giao. Tuy nhiên, những kết quả đã cho thấy rằng các em càng lắng nghe các loại nhạc suy đồi nhiều bao nhiêu, thì các em càng sớm có việc giao hợp tình dục nhiều bấy nhiêu. Tương phản lại điều đó, thì việc lắng nghe những loại nhạc đứng đắn, thì không dẫn đến bất kỳ một sự thay đổi nào về hành vi tính dục của các em cả.
Bài báo kết luận rằng: “Bằng việc giảm bớt đi nội dung của các loại nhạc dâm dục và suy đồi hay bằng việc giảm phơi bày ra loại nhạc có nội dung hạ cấp này đi, sẽ giúp làm trì hoãn sự tấn công hay kích thích về hành vi tính dục nơi các em.”
Cuộc nghiên cứu thứ hai, có chủ đề là “Mối Quan Hệ Giữa Việc Xem Môn Vật Chuyên Nghiệp Trên Truyền Hình và Việc Tham Dự Vào Những Cuộc Đánh Lộn Nhau Trong Lúc Hẹn Hò Nơi Các Em Học Sinh Trung Học” (The Relationship Between Watching Professional Wrestling on TV and Engaging in Date Fighting Among High School Students), nhằm mục đích nghiên cứu về tính bạo động.
Cuộc nghiên cứu, dựa trên sự lựa chọn một cách ngẫu nhiên của hơn 2,485 em học sinh đến từ tiểu bang North Carolina, vốn tìm thấy rằng có những mối quan hệ rõ ràng và đáng kể giữa tần số xem vật lộn trên TV trong suốt hai tuần trước đó và việc bạo hành trong lúc hò hẹn, lẫn việc mang theo vũ khí ở các em trai lẫn các em gái. Mối quan hệ giữa việc xem vật lộn và hành vi thô bạo là rõ ràng và mạnh mẽ hơn nơi các em nữ hơn là nơi các em nam.
Các tác giả của cuộc nghiên cứu này bình luận rằng có rất nhiều yếu tố có liên quan đến việc thể hiện sự bạo động trong số các em đang ở tuổi mới lớn. Tuy nhiên, họ cũng thêm vào rằng “rất nhiều cuộc nghiên cứu đã tiết lộ cho thấy rằng có một sự liên hệ dai dẵng giữa việc phơi bày ra sự bạo lực nơi các em ở lứa tuổi đang lớn, sự bắt nạt, và những mối nguy hiểm của việc mang theo vũ khí, lẫn việc có thái độ chấp nhận đến việc sử dụng bạo lực hay thể hiện thái độ bạo lực để giải quyết cuộc xung đột hay nhằm đạt được những mục tiêu mà mình muốn bằng chính bạo lực.”
Bài báo kết luận rằng: “Bằng việc giảm đi sự phơi bày bạo lực từ các nguồn phương tiện truyền thông đại chúng ra nơi các em và giới trẻ, thì đó chính là một giải pháp hữu hiệu và quan trọng nhất trong việc ngăn ngừa bạo lực.”
Những Mối Liên Kết Của Nó Với Sự Hung Tàn
Bạo lực và truyền thông chính là chủ đề của một tuyển tập dày khoảng 500-trang của các bài báo được xuất bản trong Tháng 12 vừa qua. Một trong những chương có trong cuốn sách có nhan đề “Cẩm Nang Về Trẻ Em, Nền Văn Hóa, và Sự Bạo Lực” (Handbook of Children, Culture, and Violence) do Sage xuất bản, chú trọng vào loại âm nhạc bạo động và giới trẻ.
Các tác giả gồm có Barbara Wilson và Nicole Martins, chỉ ra cho chúng ta thấy được rằng những thể loại như rap của những kẻ cướp, chẳng hạn, chúng chứa đựng mức bạo lực rất cao, và rằng một số lượng đáng kể các băng nhạc video cũng thường phô diễn ra những hành động bạo lực.
Họ quan sát rằng rất nhiều cuộc nghiên cứu đã tìm thấy một mối quan hệ giữa việc thích loại nhạc bạo động và những hành vi bạo động. Liên hệ đến vấn đề về hậu quả, những cuộc nghiên cứu được thực hiện nơi các sinh viên ở lứa tuổi Cao Đẳng cho thấy rằng việc lắng nghe loại nhạc bạo động sẽ kích thích cho các em có những ý tưởng về bạo lực.
Tuy nhiên, con số của những cuộc nghiên cứu này rất là giới hạn, và hai tác giả trên kết luận rằng “một số bằng chứng khá khiêm tốn cho thấy có sự liên hệ giữa việc phơi bày ra thứ âm nhạc bạo động với hành vi bạo động nơi các em.” Thêm vào đó, một số cuộc nghiên cứu cũng nêu ra những ảnh hưởng tiêu cực có liên quan đến sự trầm cảm, tính liều mạng, và thái độ kỳ thị chủng tộc.
Một chương khác trong cuốn sách có liên quan đến sự bạo lực trên truyền hình. Ở đó, hai tác giả Dale Kunkel và Lara Zwarun nêu ra rằng: “Có những bằng chứng khoa học khá thuyết phục cho thấy rằng sự bạo động có những ảnh hưởng rất nguy hại đến trẻ em.”
Những ảnh hưởng nguy hại đó bao gồm: việc học hỏi và bắt chước những kiểu hành vi bạo lực; việc dửng dưng hay thờ ơ đến những nạn nhân của sự bạo động; và sự sợ hãi cùng cực của việc trở thành nạn nhân của sự bạo động. Bài báo lưu ý rằng có hàng trăm cuộc nghiên cứu đã ủng hộ cho kết luận rằng việc xem sự bạo động qua truyền hình sẽ làm gia tăng lên hành vi bạo động nơi các em.
Những nguy cơ của việc xem phải những chương trình có nội dung bạo động trên truyền hình là rất cao. Một cuộc nghiên cứu được thực hiện trong vòng ba năm đã tìm thấy rằng hơn 60% các chương trình trên truyền hình đều có chứa những dạng bạo động bằng cách này hay cách khác.
Hơn nữa, sự bạo động phần lớn xuất hiện “một cách có chọn lọc” thế nhưng đã quên cho thấy được mối nguy hiểm hiện thực đến cho các nạn nhân. Thêm vào đó, bạo động vẫn thường được phô diễn ra bởi các nhân vật có sức thu hút cao, những người chẳng hề biết ăn năn hay tự kiểm điểm về hành vi bạo động của chính họ. Tính bạo động có chọn lọc hay quyến rũ, theo sự ghi nhận của Kunkel và Zwarun, càng làm tăng thêm những mối nguy hiểm về những ảnh hưởng nguy hại lên các trẻ em mà thôi.
Những Quan Ngại Về Số Lượng
Những mối quan ngại về những ảnh hưởng tiêu cực này được tăng gấp bội lên bởi các dữ liệu cho thấy có bao nhiêu tiếng đồng hồ trong ngày mà truyền thông đã phơi bày ra sự bạo lực nơi các em. Vào ngày 24 tháng 5, Tổ Chức Gia Đình Kaiser (Kaiser Family Foundation) đã tung ra một cuộc nghiên cứu cho thấy rất nhiều các bậc phụ huynh bận rộn khuyến khích con cái của họ xem truyền hình.
Bản báo cáo có nhan đề “Gia Đình Truyền Thông: Truyền Thông Điện Tử Trong Cuộc Sống Của Những Trẻ Sơ Sinh, Những Trẻ Mới Biết Đi, Những Trẻ Chưa Đến Tuổi Đi Học, và Cha Mẹ Của Chúng” (Media Family: Electronic Media in the Lives of Infants, Toddlers, Preschoolers, and Their Parents), được dựa trên một cuộc thăm dò quốc gia của 1,051 các bậc làm cha-mẹ có con từ 6 tháng đến 6 tuổi, và hàng loạt nhóm nghiên cứu trọng tâm (focus groups) trên khắp Hoa Kỳ.
Theo cuộc nghiên cứu, trong một ngày điển hình thì đã có tới 83% trẻ em dưới 6 tuổi sử dụng đến màn ảnh của truyền thông (như truyền hình, videos, và máy điện toán), trung bình là 2 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Trong rất nhiều gia đình, TV được mở gần như là suốt ngày sáng đêm, từ phòng ngủ, phòng khách, cho đến phòng ăn. 1/3 trong số những trẻ em được thăm dò, đều có TV riêng trong phòng ngủ của các em.
Bản báo cáo chỉ ra rằng những chương trình giáo dục được thiết kế rất kỹ càng có thể hữu ích cho các trẻ em. Cũng thế, rất nhiều bậc làm cha-mẹ báo cáo cho biết rằng họ rất hài lòng với những chương trình truyền hình mà con cái họ xem. Cùng lúc đó, cũng có rất nhiều bậc phụ huynh cảm thấy có tội về việc để cho con cái của họ sử dụng đến những phương tiện truyền thông này, và họ tin rằng họ nên dành thật nhiều thời gian hơn với con cái của họ. Một vài người thì bày tỏ sự quan ngại rằng chính họ là người đã khai mào ra, và chẳng bao lâu, họ không còn có thể kiểm soát được nữa, rằng những chương trình giáo dục thời nay đã nhường chổ cho những trò chơi video bạo động.
Cuộc nghiên cứu cũng còn tìm thấy rằng rất nhiều trẻ em được phơi bày với truyền hình khi cha mẹ của các em đang xem những chương trình dành cho người lớn. Thật thế, có đến 1/3 các trẻ em sống tại những gia đình mà cha mẹ của các em để TV suốt cả ngày sáng đêm.
Việc liên tục phơi bày các phương tiện truyền thông này ra cũng chính là một phần có thực trong đời sống tại một số quốc gia khác. Theo bài báo xuất hiện trên tờ Người Bảo Vệ (The Guardian) vào ngày 3 tháng 5 vừa qua thì những dữ liệu vừa mới đây tại Anh Quốc đã cho thấy rằng 1/3 trẻ em ở độ tuổi từ 8 đến 11 nói rằng các em chủ yếu tự xem truyền hình một mình.
Thông tin này đến từ một cuộc nghiên cứu đã được Văn Phòng Truyền Thông, một cơ quan giám sát của chính phủ thực hiện. Thêm vào đó, hơn 7 trong số 10 bậc phụ huynh tại những gia đình có cáp truyền hình hay truyền hình vệ tinh đã thú nhận rằng họ không có bật mức kiểm soát nào cả nhằm giới hạn những kênh nào mà con cái của họ có thể xem. 4 trong 10 các bậc làm cha-mẹ của các em có độ tuổi từ 12 đến 15 nói rằng trong nhà, chẳng có qui luật nào cả có liên quan đến việc xem truyền hình.
Vào lúc này thì tại Tây Ban Nha, một bài báo xuất hiện trên tờ báo quốc gia là tờ El Paso vào ngày 24 tháng 5 cho biết rằng, có khoảng 800,000 trẻ em xem truyền hình sau 10 giờ đêm, vốn là giờ mà mức kiểm soát dành cho các em bị mất đi. Bài báo quan sát rằng các em có tuổi từ 4 đến 12, trung bình đã bỏ ra khoảng 864 giờ mỗi năm để ngồi trước màn ảnh truyền hình, so với 960 giờ cắp sách đến trường.
Tiềm năng này quả là khá béo bở, tuy nhiên cũng cần phải có sự cảnh giác, liên quan đến việc sử dụng các phương tiện truyền thông, như được Đức Thánh Cha Biển Đức 16 nêu ra trong Thông Điệp của Ngài nhân Ngày Thế Giới Truyền Thông Lần Thứ 40.
Qua bản văn, Đức Thánh Cha kêu gọi truyền thông hãy trở thành một người giữ vai trò chủ đạo (protagonist) về sự thật, và cũng là người cổ võ cho sự hòa bình, cũng như tránh để cho chuyện xuyên tạc sự thật được xảy ra khi “ngành truyền thông trở nên việc tự phục vụ lấy chính mình, hay chỉ vì nguồn lợi béo bở, mà đánh mất đi ý thức trách nhiệm của mình đối với sự thịnh vượng chung của xã hội và con người” (Mục Số 3).
Đức Thánh Cha cũng còn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc giáo dục con người biết sử dụng truyền thông một cách thông minh và đúng đắn hơn.
Cuộc nghiên cứu mang tính chất đời thường ám chỉ rằng sứ vụ này là rất cần thiết hơn bao giờ hết.
Những Chủ Đề Về Tình Dục Và Bạo Lực Đã Khiến Các Em Phải Trả Giá
CHICAGO (Zenit.org).-
Những cuộc nghiên cứu vừa mới đây khẳng định cho những mối quan ngại dai dẳng về sự ảnh hưởng của truyền thông nơi các trẻ em và những em vừa mới lớn. Trong số phát hành vào ngày 2 tháng 8 của tạp chí 'Nhi Khoa' (Pediatrics), do Hàn Lâm Viện Nhi Khoa Hoa Kỳ có trụ sở đặt tại tiểu bang Illinois xuất bản, vốn có hai bài viết nói về chủ đề vừa kể trên.Một trong những bài viết đó có nhan đề là “Phơi Bày Sự Đồi Trụy So Với Những Loại Nhạc Trữ Tình Đứng Đắng và Hành Vi Dâm Dục Trong Giới Trẻ” (Exposure to Degrading Versus Nondegrading Music Lyrics and Sexual Behavior Among Youth), vốn được dựa trên những cuộc phỏng vấn qua điện thoại với 1,461 thanh thiếu niên có độ tuổi từ 12 đến 17 tuổi. Nhóm này được phỏng vấn tới 3 lần: trong năm 2001, 2002, và 2004. Theo bài báo, trung bình mỗi em lắng nghe nhạc từ 1.5 đến 2.5 tiếng đồng hồ mỗi ngày, chưa kể đến việc xem các băng ca nhạc video. Những chủ đề về sự dâm dục là khá phổ biến trong phần lớn các loại nhạc này, từ trữ tình, lãng mạn, đến suy đồi và hiếu chiến.
Các tác giả bắt đầu cuộc nghiên cứu bằng việc quan sát rằng có một kiểu lý luận theo lý thuyết rất mạnh mẽ nhằm ám chỉ cho rằng việc lắng nghe những loại âm nhạc trữ tình gợi dục, có tầm ảnh hưởng đến hành vi tính dục của các em. Cuộc nghiên cứu của họ đã khẳng định cho lý thuyết đó, bằng việc khám phá ra rằng: “Những em ở lứa tuổi thanh thiếu niên nào mà dành nhiều thời gian để lắng nghe nhạc thì thường hay bắt đầu chuyện quan hệ tình dục sớm hơn, so với những em nào ít khi dành thời gian để nghe nhạc.”
| Một Góc Cạnh Của Truyền Thông |
Bài báo kết luận rằng: “Bằng việc giảm bớt đi nội dung của các loại nhạc dâm dục và suy đồi hay bằng việc giảm phơi bày ra loại nhạc có nội dung hạ cấp này đi, sẽ giúp làm trì hoãn sự tấn công hay kích thích về hành vi tính dục nơi các em.”
Cuộc nghiên cứu thứ hai, có chủ đề là “Mối Quan Hệ Giữa Việc Xem Môn Vật Chuyên Nghiệp Trên Truyền Hình và Việc Tham Dự Vào Những Cuộc Đánh Lộn Nhau Trong Lúc Hẹn Hò Nơi Các Em Học Sinh Trung Học” (The Relationship Between Watching Professional Wrestling on TV and Engaging in Date Fighting Among High School Students), nhằm mục đích nghiên cứu về tính bạo động.
Cuộc nghiên cứu, dựa trên sự lựa chọn một cách ngẫu nhiên của hơn 2,485 em học sinh đến từ tiểu bang North Carolina, vốn tìm thấy rằng có những mối quan hệ rõ ràng và đáng kể giữa tần số xem vật lộn trên TV trong suốt hai tuần trước đó và việc bạo hành trong lúc hò hẹn, lẫn việc mang theo vũ khí ở các em trai lẫn các em gái. Mối quan hệ giữa việc xem vật lộn và hành vi thô bạo là rõ ràng và mạnh mẽ hơn nơi các em nữ hơn là nơi các em nam.
Các tác giả của cuộc nghiên cứu này bình luận rằng có rất nhiều yếu tố có liên quan đến việc thể hiện sự bạo động trong số các em đang ở tuổi mới lớn. Tuy nhiên, họ cũng thêm vào rằng “rất nhiều cuộc nghiên cứu đã tiết lộ cho thấy rằng có một sự liên hệ dai dẵng giữa việc phơi bày ra sự bạo lực nơi các em ở lứa tuổi đang lớn, sự bắt nạt, và những mối nguy hiểm của việc mang theo vũ khí, lẫn việc có thái độ chấp nhận đến việc sử dụng bạo lực hay thể hiện thái độ bạo lực để giải quyết cuộc xung đột hay nhằm đạt được những mục tiêu mà mình muốn bằng chính bạo lực.”
Bài báo kết luận rằng: “Bằng việc giảm đi sự phơi bày bạo lực từ các nguồn phương tiện truyền thông đại chúng ra nơi các em và giới trẻ, thì đó chính là một giải pháp hữu hiệu và quan trọng nhất trong việc ngăn ngừa bạo lực.”
Những Mối Liên Kết Của Nó Với Sự Hung Tàn
Bạo lực và truyền thông chính là chủ đề của một tuyển tập dày khoảng 500-trang của các bài báo được xuất bản trong Tháng 12 vừa qua. Một trong những chương có trong cuốn sách có nhan đề “Cẩm Nang Về Trẻ Em, Nền Văn Hóa, và Sự Bạo Lực” (Handbook of Children, Culture, and Violence) do Sage xuất bản, chú trọng vào loại âm nhạc bạo động và giới trẻ.
Các tác giả gồm có Barbara Wilson và Nicole Martins, chỉ ra cho chúng ta thấy được rằng những thể loại như rap của những kẻ cướp, chẳng hạn, chúng chứa đựng mức bạo lực rất cao, và rằng một số lượng đáng kể các băng nhạc video cũng thường phô diễn ra những hành động bạo lực.
Họ quan sát rằng rất nhiều cuộc nghiên cứu đã tìm thấy một mối quan hệ giữa việc thích loại nhạc bạo động và những hành vi bạo động. Liên hệ đến vấn đề về hậu quả, những cuộc nghiên cứu được thực hiện nơi các sinh viên ở lứa tuổi Cao Đẳng cho thấy rằng việc lắng nghe loại nhạc bạo động sẽ kích thích cho các em có những ý tưởng về bạo lực.
Tuy nhiên, con số của những cuộc nghiên cứu này rất là giới hạn, và hai tác giả trên kết luận rằng “một số bằng chứng khá khiêm tốn cho thấy có sự liên hệ giữa việc phơi bày ra thứ âm nhạc bạo động với hành vi bạo động nơi các em.” Thêm vào đó, một số cuộc nghiên cứu cũng nêu ra những ảnh hưởng tiêu cực có liên quan đến sự trầm cảm, tính liều mạng, và thái độ kỳ thị chủng tộc.
Một chương khác trong cuốn sách có liên quan đến sự bạo lực trên truyền hình. Ở đó, hai tác giả Dale Kunkel và Lara Zwarun nêu ra rằng: “Có những bằng chứng khoa học khá thuyết phục cho thấy rằng sự bạo động có những ảnh hưởng rất nguy hại đến trẻ em.”
Những ảnh hưởng nguy hại đó bao gồm: việc học hỏi và bắt chước những kiểu hành vi bạo lực; việc dửng dưng hay thờ ơ đến những nạn nhân của sự bạo động; và sự sợ hãi cùng cực của việc trở thành nạn nhân của sự bạo động. Bài báo lưu ý rằng có hàng trăm cuộc nghiên cứu đã ủng hộ cho kết luận rằng việc xem sự bạo động qua truyền hình sẽ làm gia tăng lên hành vi bạo động nơi các em.
Những nguy cơ của việc xem phải những chương trình có nội dung bạo động trên truyền hình là rất cao. Một cuộc nghiên cứu được thực hiện trong vòng ba năm đã tìm thấy rằng hơn 60% các chương trình trên truyền hình đều có chứa những dạng bạo động bằng cách này hay cách khác.
Hơn nữa, sự bạo động phần lớn xuất hiện “một cách có chọn lọc” thế nhưng đã quên cho thấy được mối nguy hiểm hiện thực đến cho các nạn nhân. Thêm vào đó, bạo động vẫn thường được phô diễn ra bởi các nhân vật có sức thu hút cao, những người chẳng hề biết ăn năn hay tự kiểm điểm về hành vi bạo động của chính họ. Tính bạo động có chọn lọc hay quyến rũ, theo sự ghi nhận của Kunkel và Zwarun, càng làm tăng thêm những mối nguy hiểm về những ảnh hưởng nguy hại lên các trẻ em mà thôi.
Những Quan Ngại Về Số Lượng
Những mối quan ngại về những ảnh hưởng tiêu cực này được tăng gấp bội lên bởi các dữ liệu cho thấy có bao nhiêu tiếng đồng hồ trong ngày mà truyền thông đã phơi bày ra sự bạo lực nơi các em. Vào ngày 24 tháng 5, Tổ Chức Gia Đình Kaiser (Kaiser Family Foundation) đã tung ra một cuộc nghiên cứu cho thấy rất nhiều các bậc phụ huynh bận rộn khuyến khích con cái của họ xem truyền hình.
Bản báo cáo có nhan đề “Gia Đình Truyền Thông: Truyền Thông Điện Tử Trong Cuộc Sống Của Những Trẻ Sơ Sinh, Những Trẻ Mới Biết Đi, Những Trẻ Chưa Đến Tuổi Đi Học, và Cha Mẹ Của Chúng” (Media Family: Electronic Media in the Lives of Infants, Toddlers, Preschoolers, and Their Parents), được dựa trên một cuộc thăm dò quốc gia của 1,051 các bậc làm cha-mẹ có con từ 6 tháng đến 6 tuổi, và hàng loạt nhóm nghiên cứu trọng tâm (focus groups) trên khắp Hoa Kỳ.
Theo cuộc nghiên cứu, trong một ngày điển hình thì đã có tới 83% trẻ em dưới 6 tuổi sử dụng đến màn ảnh của truyền thông (như truyền hình, videos, và máy điện toán), trung bình là 2 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Trong rất nhiều gia đình, TV được mở gần như là suốt ngày sáng đêm, từ phòng ngủ, phòng khách, cho đến phòng ăn. 1/3 trong số những trẻ em được thăm dò, đều có TV riêng trong phòng ngủ của các em.
Bản báo cáo chỉ ra rằng những chương trình giáo dục được thiết kế rất kỹ càng có thể hữu ích cho các trẻ em. Cũng thế, rất nhiều bậc làm cha-mẹ báo cáo cho biết rằng họ rất hài lòng với những chương trình truyền hình mà con cái họ xem. Cùng lúc đó, cũng có rất nhiều bậc phụ huynh cảm thấy có tội về việc để cho con cái của họ sử dụng đến những phương tiện truyền thông này, và họ tin rằng họ nên dành thật nhiều thời gian hơn với con cái của họ. Một vài người thì bày tỏ sự quan ngại rằng chính họ là người đã khai mào ra, và chẳng bao lâu, họ không còn có thể kiểm soát được nữa, rằng những chương trình giáo dục thời nay đã nhường chổ cho những trò chơi video bạo động.
Cuộc nghiên cứu cũng còn tìm thấy rằng rất nhiều trẻ em được phơi bày với truyền hình khi cha mẹ của các em đang xem những chương trình dành cho người lớn. Thật thế, có đến 1/3 các trẻ em sống tại những gia đình mà cha mẹ của các em để TV suốt cả ngày sáng đêm.
Việc liên tục phơi bày các phương tiện truyền thông này ra cũng chính là một phần có thực trong đời sống tại một số quốc gia khác. Theo bài báo xuất hiện trên tờ Người Bảo Vệ (The Guardian) vào ngày 3 tháng 5 vừa qua thì những dữ liệu vừa mới đây tại Anh Quốc đã cho thấy rằng 1/3 trẻ em ở độ tuổi từ 8 đến 11 nói rằng các em chủ yếu tự xem truyền hình một mình.
Thông tin này đến từ một cuộc nghiên cứu đã được Văn Phòng Truyền Thông, một cơ quan giám sát của chính phủ thực hiện. Thêm vào đó, hơn 7 trong số 10 bậc phụ huynh tại những gia đình có cáp truyền hình hay truyền hình vệ tinh đã thú nhận rằng họ không có bật mức kiểm soát nào cả nhằm giới hạn những kênh nào mà con cái của họ có thể xem. 4 trong 10 các bậc làm cha-mẹ của các em có độ tuổi từ 12 đến 15 nói rằng trong nhà, chẳng có qui luật nào cả có liên quan đến việc xem truyền hình.
Vào lúc này thì tại Tây Ban Nha, một bài báo xuất hiện trên tờ báo quốc gia là tờ El Paso vào ngày 24 tháng 5 cho biết rằng, có khoảng 800,000 trẻ em xem truyền hình sau 10 giờ đêm, vốn là giờ mà mức kiểm soát dành cho các em bị mất đi. Bài báo quan sát rằng các em có tuổi từ 4 đến 12, trung bình đã bỏ ra khoảng 864 giờ mỗi năm để ngồi trước màn ảnh truyền hình, so với 960 giờ cắp sách đến trường.
Tiềm năng này quả là khá béo bở, tuy nhiên cũng cần phải có sự cảnh giác, liên quan đến việc sử dụng các phương tiện truyền thông, như được Đức Thánh Cha Biển Đức 16 nêu ra trong Thông Điệp của Ngài nhân Ngày Thế Giới Truyền Thông Lần Thứ 40.
Qua bản văn, Đức Thánh Cha kêu gọi truyền thông hãy trở thành một người giữ vai trò chủ đạo (protagonist) về sự thật, và cũng là người cổ võ cho sự hòa bình, cũng như tránh để cho chuyện xuyên tạc sự thật được xảy ra khi “ngành truyền thông trở nên việc tự phục vụ lấy chính mình, hay chỉ vì nguồn lợi béo bở, mà đánh mất đi ý thức trách nhiệm của mình đối với sự thịnh vượng chung của xã hội và con người” (Mục Số 3).
Đức Thánh Cha cũng còn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc giáo dục con người biết sử dụng truyền thông một cách thông minh và đúng đắn hơn.
Cuộc nghiên cứu mang tính chất đời thường ám chỉ rằng sứ vụ này là rất cần thiết hơn bao giờ hết.