Á Châu và Học thuyết xã hội của Giáo Hội



Bài trình bầy của linh mục tiến sĩ Felix Wilfred, trưởng Ban Kitô học thuộc đại học Madras Ấn Độ tóm lược những giáo lý căn bản về học thuyết xã hội của Công Giáo.

Giáo sư Wilfred nhận định rằng: “Có lẽ không có truyền thống tôn giáo nào lại có mối liên quan mật thiết với các thực tại xã hội và đã phát triển và hệ thống hóa chúng thành một học thuyết như thấy được nơi Kitô giáo”.

LM Felix Wilfred
Điều đáng kính phục là việc Giáo Hội rất tha thiết và cố gắng luôn luôn muốn hiện đại hóa những thực tại xã hội này và giải thích chúng qua ánh sáng từ các nguồn tôn giáo về thực tại xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị, v.v... Điều này giúp các tín hữu liên kết cách dễ dàng đức tin của mình với những thực tại xã hội mà họ kinh nghiệm trong cuộc sống.

Linh mục Wilfred nhận định rằng: “Một trong những khó khăn của việc đối thoại tôn giáo là thiếu vắng điểm qui chiếu như vậy nơi các tôn giáo khác. Trong ý nghĩa này, Kitô giáo và đặc biệt Công Giáo đã đi trước một bước và là gương mẫu tốt cho tiến trình này”.

Các giáo huấn xã hội của Giáo Hội là một cố gắng để vượt qua phạm trù nhị trùng mà hầu như rất quen thuộc, đó là: tinh thần và vật chất, thánh thiêng và phàm tục, sự phân biệt giữa những gì là “phần vụ” và những gì là “trình diễn” của tôn giáo. Giáo huấn xã hội thuộc về cách thế Giáo Hội Công Giáo trình bầy vai trò tôn giáo của mình và coi trọng công tác này.

Các Giáo Hội tại Á Châu xem ra chưa mấy quan tâm tới giáo huấn xã hội trong tầm mức quan trọng đáng lý phải có. Cho nên có thể nói rằng “cái gì tốt nhất hãy còn đang được giữ kín” vậy. Tỉ dụ các Giám mục tại một số các quốc gia Á Châu khi đương đầu với các vấn đề mục vụ thì thường chú trọng hơn tới tầm quan trọng của các vấn đề thuộc nghi lễ phụng tự và luân lý tình dục hơn là những vấn đề nóng bỏng của xã hội. Trong ý nghĩa này, những giáo thuyết xã hội còn là một thách đố mục vụ cho các giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân người Á Châu.

Do vậy việc trình bầy những yếu lược về lý thuyết xã hội của Giáo Hội là việc làm rất hợp thời, đúng lúc và rất ý nghĩa cho Á Châu.

Tiếp đến linh mục Wilfred đưa ra những tiêu đề sau đây:

1. Ý nghĩa giáo thuyết xã hội của Giáo Hội hiểu theo nghĩa Kitô giáo có thể đóng góp gì cho Á Châu?

Các quốc gia Á Châu cần cởi mở nhắm tới việc hiểu biết liên văn hóa và liên tôn giáo:

Sự hiệp nhất của gia đình nhân loại thực là một nghĩa vụ tinh thần và nhân bản, điều này không thẻ đạt được qua tiến trình toàn cầu hóa, được tác động bởi việc cạnh tranh, thị trường, lợi nhuận hay chỉ tìm lợi ích cho riêng mình.

Động lực thúc đẩy các dân tộc và các quốc gia gặp gỡ và tiến lại với nhau trong tiến trình toàn cầu hóa đòi hỏi sự hài hòa và khoan nhượng đích thực.

Linh mục Wilfred đưa ra một ví dụ là: Trong quá khứ, lý thuyết Phật Giáo là động lực lớn đã mang các dân tộc và văn hóa Á Châu lại với nhau, tỉ dụ Ấn độ và Trung hoa, cả hai đều coi mình là rốn của vũ trụ và coi các dân tộc khác hoặc là “cùi hủi không đáng động tới – untouchables, melecchas” hay là “man di”. Phật Giáo đã phá tan cái khung coi mình là trung tâm của hai nền văn minh vĩ đại này, tái tạo họ và dẫn dắt họ học biết lẫn nhau.

Thí dụ trong thời nhà Đường vào thế kỉ VII, vị sư thời danh của Trung hoa là Xuan Zang đã du hành tới Ấn độ và sau 10 năm học hỏi kinh sách Phật pháp, đã đem về Trung quốc 1335 bộ sách kinh. Trên căn bản này dưới thời nhà Minh, Wu Chengen đã tạo ra cốt truyện với sự tưởng tượng phong phú là “Tây Du Ký”. Trong đó nhấn mạnh điểm này là Phật pháp là một phương tiện làm cho sự theo đuổi những việc trần thế nên dễ dàng hơn như dấn thân vào khoa học, kĩ thuật, nghệ thuật, văn chương, v.v... giữa Ấn độ và Trung hoa, và trong những phần đất của Á Châu.

Tóm lại, tôn giáo làm cho sự giao tiếp giữa các dân tộc và văn hóa nên dễ dàng và phá tan được rào cản tạo nên sự cô lập.

Trong bối cảnh mới ngày nay, Kitô giáo có thể cung ứng các nền tảng tinh thần để mang con người và các quốc gia lại với nhau trong sự hiểu biết hỗ tương và trong tinh thần công giáo đại đồng thực sự. Kitô giáo có thể hành xử như là một sức mạnh biến nhân loại thành một gia đình duy nhất. Viễn tượng Kitô giáo như chúng ta thấy trong Thánh Kinh thực chính là một gia đình hợp nhất từ các dòng giống khác biệt và được coi là con cái Thiên Chúa. Niềm tin Kitô giáo này trong Đạo Công Giáo và sự hợp nhất của gia đình nhân loại được thấy nhan nhãn trong học thuyết xã hội của Giáo Hội và trong Bản Toát Yếu về Giáo Thuyết Xã Hội Công Giáo.

Cái nhìn Kitô giáo thách đố sự hiểu biết truyền thống về căn cước cá nhân và cách xây dựng căn tính cá nhân này. Cái nhìn Kitô giáo cho rằng căn cước cá nhân là trong mối tương quan với ngưòi khác chứ không phải là cô lập hóa mình.

Do vậy điểm quan trọng là ý nghĩa của đa diện về văn hóa và cả đa diện về tôn giáo. Chủ thuyết đa phương đến từ Thiên Chúa. Việc nối kết như vậy có nguy cơ về tiền đề là “xung đột văn hóa”. Kitô giáo trình bầy cuộc gặp gỡ của các nền văn minh và văn hóa và không coi là xung đột. Cũng vậy cần có sự hiểu biết giữa các dân tộc thuộc các truyền thống tôn giáo khác nhau.

2. Kitô giáo và Tân Tiến

Tại Tây phương người ta cho rằng Kitô giáo phản bước tiến văn minh thời đại, trái lại tại Á Châu, Kitô giáo được coi là một nẻo đường dẫn tới sự văn minh thời đại. Điều này đặc biệt đúng với Trung hoa và Nhật bản. Tỉ dụ, dưới thời nhà Thanh, các vị truyền giáo Tây phương bị đuổi khỏi nước Tầu, trừ ra những nhà truyền giáo tinh thông về thiên văn và khoa học. Matteo Ricci không những chỉ rao truyền Phúc Âm mà còn dạy hình học, thiên văn, nhạc hội họa, v.v... tại Trung hoa thời đó.

Tầm quan trọng của tín điều Kitô giáo về tạo dựng và sáng kiến con người giúp sự hiểu biết và diễn giải về văn minh tân tiến, đặc biệt trong lãnh vực khoa học và kĩ thuật, nhưng sự kiện trên chỉ là một phần của tân tiến. Ý niệm tân thời hoàn bị là làm thế nào xã hội được tổ chức và điều khiển một cách tốt đẹp.

Khi con người được tham gia vào những gì ảnh hưởng tới cuộc sống họ thì đó là dân chủ, nhưng ngay cả như vậy thì dân chủ cũng chỉ là một phần của sự tân tiến hóa mà thôi.

Một xã hội dân sự sống động là nhu cầu thời đại.

Có cái nhìn phê bình rằng cách mà các Giáo Hội tại Á Châu hành động về mặt công cộng dường như là thiếu tinh thần cộng tác nhưng là song hành với thể thế công cộng; cô lập hóa mình khỏi xã hội rộng hơn và chỉ bó mình vào lãnh vực giáo dục, phát triển và vệnh viện, một mặc cảm ở vị thế thiểu số.

Nhu cầu ngày hôm nay là Kitô giáo phải trở nên người tiên phong trong lãnh vực công, dĩ nhiên là phải tránh đừng can thiệp giây mình không cần thiết vào cơ chế công và kính trọng quyền tự trị trong các thực tại trần thế.

Người Kitô hữu phải dấn thân vào lãnh vực trần thế, nhưng đễ hữu dụng thì đòi hỏi phải được thông tin đầy đủ. Quyền được thông tin là quyền căn bản. Nhiều chính quyền và xã hội tại Á Châu về phương diện này còn bị lùi xa một bước vì vấn đề chính quyền trung ương tập quyền. Không có thông tin đúng đắn dễ rơi vào lạm dụng và hội lộ, điều này xẩy ra trong mọi tầng lớp của xã hội tại Á Châu. Vì không có sự kiểm soát gắt gao nên viên chức công dễ bị hối lộ.

Kitô giáo và Công lý Xã hội

Kitô giáo có thể trở thành sức mạnh lớn làm thay đổi bộ mặt xã hội Á Châu, cổ vũ một xã hội quân bình, tạo cơ hội cho người yếu thế, chăm sóc cho người đồng quê nơi mà dân chúng thiếu mọi phương tiện và sự phát triển cần thiết.

Đóng góp vào nền Hòa bình, Hài hòa và Hòa giải

Một trong những tố cáo chống lại người Kitô hữu trong thời đế quốc Rôma là Kitô hữu cổ vũ hòa bình đang khi Đế quốc dựa trên chiến tranh để gây sức mạnh và bành trướng thế lực. Những người chủ hòa Kitô hữu nhiều người đã trở thành các vị tử vì đạo.

Người Á Châu coi trọng hòa bình và sự hài hòa.

Hòa bình và hài hòa được dựa trên nền tảng cùa công lý “hòa bình là công việc của công lý – pax opus iustitiae”. Thế nhưng hòa bình không có nghĩa là yên lặng cầu an, điều này có thẻ mang tới hậu quả là trở thành những người bị rập khuân vào một nề nếp nào đó hay trật tự nào đó mà không có sự thăng tiến trong bình diện chính trị, kinh tế và xã hội,...

(còn tiếp)