Teheran (AsiaNews) – Thận trọng nhưng luôn luôn với một giọng điệu tiêu cực là đặc trưng người ta có thể thấy nơi cách thế các phương tiện truyền thông tại Iran đề cập đến chuyến tông du Thổ Nhĩ Kỳ của Đức Thánh Cha. Trái với cách thức các phương tiện truyền thông tại Iran loan tin về các diễn biến liên quan đến diễn từ của Đức Thánh Cha tại Regensburg: ồn ào, ồ ạt, và đập vào mắt người xem với các hình ảnh biểu tình rầm rộ nơi trang nhất; cuộc viếng thăm Thổ Nhĩ Kỳ của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI đã được tường trình hạn chế với các bản tin và các bài xã luận được Bộ Văn Hóa và Chỉ Dẫn về Hồi Giáo kiểm duyệt gắt gao.

Ấn tượng tổng quát do các báo này đưa ra là Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI là một nhân vật “Islamophobic” (thù ghét Hồi Giáo vì thành kiến), hay tệ hơn nữa. Ngay cả giờ đây, khi Đức Giáo Hoàng không xưng mình theo tước hiệu truyền thống là “Thượng phụ Tây Phương” nữa, báo chí Iran luôn cố gắng mô tả ngài như một bản sao (hay một đồng minh) của tổng thống Bush và thủ tướng Tony Blair như thể mỗi một bước đi chính trị của Hoa Kỳ và Anh Quốc đều mang mầu sắc “Kitô Giáo” hay Giáo Hội Công Giáo chỉ hiện diện tại Tây Phương.

Tờ Iran News, cho rằng “Những quan hệ giữa Hồi Giáo và Kitô Giáo đang ở mức tệ hại nhất từ thời Thập Tự Chinh” và chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha được xem là “gây tranh cãi và đáng kinh ngạc”, và bị xã hội Thổ Nhĩ Kỳ nguyền rủa.

Nơi trang nhất tờ báo bảo thủ Tehran Times đặt câu hỏi “Đối thoại với Hồi Giáo hay là liên minh Kitô Giáo chống người Hồi Giáo?”.

Cả hai tờ báo đều nhấn mạnh đến sự kiện là chuyến viếng thăm Đức Giáo Hoàng đã được thiết kế để củng cố sự hiệp nhất Kitô Giáo và để đòi hỏi thêm bầu khí rộng hơn cho Kitô hữu qua chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ.

Tại sao giọng điệu của báo chí Iran hoàn toàn trái ngược với giọng điệu ôn hòa hơn, thậm chí rất thân thiện của người Hồi Giáo tại các nước khác trong vùng?

Sự bối rối thể hiện trên báo chí Iran liên quan đến đại kết Kitô Giáo và thái độ ráo riết gán tội cho đại kết Kitô Giáo như là sự thiết lập một liên minh chống Hồi Giáo có thể lý giải bởi nhiều lý do. Tuy nhiên, có lẽ lý do căn bản nhất là một sự ghen tuông cay đắng. Không giống như các tín hữu Kitô, không có chuyện đại kết giữa người Hồi Giáo Sunni và người Hồi Giáo Shiite, không có cố gắng nào để hòa giải hai bên, ngược lại có các cuộc chiến tranh thật sự và công khai giữa những người Hồi Giáo như những gì người ta đã và đang thấy tại Iraq.

Tại Teheran, người Kitô hữu có thể có nhà thờ. Thậm chí những người Do Thái cũng có vài hội đường. Nhưng người Hồi Giáo Sunni thì đừng hòng. Đối với những người Hồi Giáo Sunni, chỉ có hai con đường: hoặc là chấp nhận liều mạng tham dự các buổi lễ chui hoặc là tham dự các buổi lễ trong các tòa đại sứ ngoại quốc như Nam Dương và Ả rập Saudi.

Điều này giải thích tại sao các nhà lãnh đạo Hồi Giáo Shiite đặc biệt không hài lòng khi thấy những cử chỉ huynh đệ giữa Đức Thánh Cha và Đức Thượng Phụ Bathôlômêô I; và lại càng không hài lòng trước triển vọng người Hồi Giáo Sunni Thổ Nhĩ Kỳ được vào Liên Hiệp Châu Âu.

Tình cảm “không ưa gì nhau” giữa người Hồi Giáo Sunni Thổ Nhĩ Kỳ và người Hồi Giáo Shiite Iran cũng bộc lộ một phần trong cuốn tiểu thuyết giả tưởng của “nhà dăng” Yuvel Kaya. Thật vậy, trong cuốn “Âm mưu chống Giáo Hoàng”, là cuốn sách bán khá chạy tại Thổ Nhĩ Kỳ trước khi Đức Giáo Hoàng đến thăm, Yuvel Kaya tưởng tượng ra rằng Đức Giáo Hoàng bị một tay súng ám sát bằng hỏa tiễn tầm xa, và Hoa Kỳ đã phản ứng lại bằng cách lãnh đạo liên quân tấn công tàn phá Iran (tại sao lại là Iran mà không phải một nước nào khác?)

Đa số người Hồi Giáo trên thế giới theo phái Sunni, trong khi chỉ có 10% cho đến 15% theo hệ phái Shiite (còn gọi là Shi‘ite, Shi‘a, Shia). Những người Hồi Giáo Shiite tập trung tại Iran, một phần Iraq, Bahrain, và Azerbaijan. Trong các nước Afghanistan, Kuwait, Lebanon, Pakistan, Saudi Arabia, Syria, và Yemen cũng có những người Hồi Giáo theo hệ phái Shiite nhưng chỉ là thiểu số.

Vài hàng lịch sử:

Những khác biệt giữa hai hệ phái Hồi Giáo Sunni và Shiite bắt nguồn từ tranh chấp quyền kế vị của tiên tri Muhammad và về vai trò lãnh đạo chính trị trong cộng đồng Hồi Giáo. Có hai khuynh hướng trong Hồi Giáo, khuynh hướng thứ nhất giành quyền lãnh đạo cho bất cứ ai có tài và có đức miễn là người ấy theo các luật lệ do Muhammad đề ra. Khuynh hướng thứ hai muốn chỉ giành quyền lãnh đạo cho những ai có huyết thống với Muhammad.

Khi Muhammad qua đời năm 632, bạn đồng lao cộng khổ với ông này là Abu Bakr được bầu lên làm Caliph (tiếng Ả rập có nghĩa là đấng kế vị tiên tri Muhammad). Mặc dù hầu hết người Hồi Giáo ủng hộ quyết định này nhưng một số khác lại ủng hộ Ali ibn Abi Talib. Ali là con rể của Muhammad, chồng của con gái duy nhất của Muhammad là Fatima. Ali đã đóng một vai trò nổi bật trong cuộc đời Muhammad, tuy nhiên ông này thiếu sự chín chắn cần thiết trong vai trò lãnh đạo nên đã bị loại.

Những ủng hộ viên của Ali cho rằng chính tiên tri Muhammad đã chọn Ali làm người kế vị và do đó không thể chấp nhận tình trạng hiện nay. Sau khi Abu Bakr qua đời vào năm 634, Umar (lãnh đạo Hồi Giáo từ 634 đến 644) và Uthman (lãnh đạo Hồi Giáo từ 644 đến 656), được lần lượt bầu lên. Các ủng hộ viên của Ali đã tổ chức ám sát Uthman và đưa Ali lên làm Caliph vào năm 656. Đến năm 661 đến lượt Ali lại bị ám sát. Hồi Giáo chia làm hai hệ phái chém giết nhau dã man. Cả hai người con ông Ali là Hassan và Hussein lần lượt tử trận vào năm 670 và 680 trong các cuộc chiến với quân Hồi Giáo Sunni.

Từ “Shi‘a,” xuất phát từ “shi‘at Ali” (những ủng hộ viên của Ali).