Bản đồ Thổ Nhĩ Kỳ
Đế quốc Ottoman (دولت عليه عثمانيه) thường được Phương Tây gọi là Đế Quốc Thổ (Turkish Empire) tồn tại từ năm 1299 cho đến năm 1922. Vào thời điểm hưng thịnh nhất của mình vào thế kỷ 16 và 17, đế quốc này bao trùm cả miền Đông Nam Âu Châu, Trung Đông và Bắc Phi. Theo chiều ngang, đế quốc Ottoman trải dài từ mũi Gibraltar ở bờ biển Bắc Phi cho đến vịnh Ba Tư. Theo chiều dọc, đế quốc Ottoman trải dài từ biên giới nước Áo và Ukraine cho đến miền bắc Sudan và Yemen.

Trong thế kỷ 16 và 17, đế quốc Ottoman có một lực lượng hải quân hùng hậu thống trị các khu vực rộng lớn trên biển Đại Trung Hải, Biển Đen, Biển Đỏ, Vịnh Ba Tư và Ấn Độ Dương. Trong ý định Hồi Giáo hóa Âu Châu, đế quốc Ottoman đã nhiều lần tấn công vào Trung Âu. Năm 1529, đế quốc Ottoman vây thành Vienna của nước Áo và năm 1683 lại tấn công lần nữa vào thành phố Habsburgs của nước này.

Đế quốc Ottoman bị suy yếu dần vào thế kỷ 19 và đi đến chỗ tan rã sau thất bại trong thế chiến thứ Nhất. Đồng minh đã chia đế quốc này thành nhiều mảnh với mong muốn làm suy yếu thế lực Hồi Giáo này. Cho đến nay, 39 quốc gia đã thành hình từ đế quốc Ottoman. Tại Anatolia, trung tâm lịch sử của đế quốc, một phong trào quốc gia Thổ do Mustafa Kemal Atatürk lãnh đạo đã được khai sinh để bước vào một cuộc chiến tranh được người Thổ gọi là “cuộc chiến tranh dựng nước”. Quân đội do Mustafa Kemal Atatürk đã lần lượt thắng trong các cuộc chiến với Armenia, Hy Lạp và Pháp. Hiệp Ước Lausanne ngày 24/06/1923 công nhận sự khai sinh của nước Thổ Nhĩ Kỳ với phần lãnh thổ như hiện nay. Ngày 29/10/1923, Mustafa Kemal Atatürk tuyên bố khai sinh nước Thổ Nhĩ Kỳ. Chính vì thế, Mustafa Kemal Atatürk thường được coi là cha già của dân tộc Thổ.

Dưới sự cai trị độc tài của Mustafa Kemal Atatürk, dân tộc Thổ, có thể coi là những người Hồi Giáo đầu tiên chấp nhận khái niệm tự do và khái niệm nhà nước thế tục (mặc dù Hồi Giáo vẫn được coi là quốc giáo). Mustafa Kemal Atatürk đưa ra nhiều cải cách quan trọng về xã hội, luật pháp và chính trị. Sau khi Mustafa Kemal Atatürk qua đời vào năm 1938, Thổ Nhĩ Kỳ đã cố gắng áp dụng chế độ đa đảng. Cuộc bầu cử đa đảng đầu tiên vào năm 1950 đã dẫn đến sự thắng cử của đảng Dân Chủ là đảng đối lập với chính quyền. Việc chuyển giao quyền hành đã diễn ra trong hòa bình. Tuy nhiên, nền dân chủ tại Thổ Nhĩ Kỳ đôi khi đã bị gián đoạn vì các cuộc đảo chính quân sự vào những năm 1960, 1971 và 1980. Năm 1997, quân đội lại nhúng tay vào chính trị để loại trừ một kiểu chính quyền có khuynh hướng Hồi Giáo hóa đất nước.

Hiến pháp hiện nay của Thổ được ban hành ngày 7/11/1982 với nhiều điều khoản rập khuôn theo kiểu mẫu của các nước Châu Âu. Tuy nhiên, Thổ Nhĩ Kỳ không có những điều khoản bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng cho các tôn giáo không phải Hồi Giáo. Trong thực tế, người Công Giáo bị phân biệt đối xử nặng nề và bị coi như công dân hạng hai trong nước. Việc truyền giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ khó khăn đến mức gần như không thực hiện được.

Tổng thống hiện nay của Thổ Nhĩ Kỳ là ông Ahmet Necdet Sezer đắc cử ngày 16/5/2000. Thủ tướng là ông Recep Tayyip Erdogan được chỉ định ngày 14/3/2003. Theo hiến pháp Thổ, tổng thống được quốc hội bầu ra với một nhiệm kỳ duy nhất là 7 năm. Muốn đắc cử, ứng viên tổng thống phải nhận được 2/3 số phiếu của các thành viên quốc hội. Thủ tướng chính phủ được tổng thống bổ nhiệm và là thủ lĩnh khối đa số tại quốc hội.

Theo con số ước lượng được đưa ra vào tháng 6/2006, Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay có 70,400,000 dân, trong đó 80% là người Thổ và 20% là người Kurd. Tiếng Thổ là ngôn ngữ chính thức. Ngoài ra, còn có các ngôn ngữ khác như tiếng Kurd, Dimli, Azeri, và Kabardian.

99.8% dân Thổ theo Hồi Giáo. Chính Thống Giáo, Công Giáo và Do Thái Giáo chỉ chiếm 0.2% dân số.

Giáo Hội Công Giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ chỉ gồm khoảng 35,000 anh chị em giáo dân (0.05% dân số). Con số này bao gồm tất cả anh chị em Công Giáo nghi lễ La Tinh, Byzantine, Armênia và Chanđê.

Cơ cấu Giáo Hội Công Giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ gồm:

  • Tổng giáo phận Izmir (Smirne) theo nghi lễ La Tinh
  • Miền Giám Quản Tông Tòa Anatolia theo nghi lễ La Tinh
  • Miền Giám Quản Tông Tòa Istanbul theo nghi lễ La Tinh
  • Tổng giáo phận Diarbekir theo nghi lễ Chanđê
  • Tổng giáo phận Istanbul theo nghi lễ Armênia
  • Tổng giáo phận Istanbul theo nghi lễ Byzantine