ÐẠI HỘI ‘‘PHÚC ÂM HÓA TẠI BRUXELLES’’

LTS. - Từ 28 tháng 10 đến 05 tháng 11, thủ đô Bruxelles sẽ tiếp đón Đại Hội Quốc Tế về việc Tái Truyền Giáo Âu Châu. Sau đây là những phát biểu mới nhất của Đức Hồng Y Godfried Danneels (GD), tổng giám mục Malines-Bruxelles, trong cuộc đối thoại với ký giả báo Notre Dame Paris (NDP) (Paris Notre-Dame, 21 Sept 2006, tr.8-11– Lm Mai Đức Vinh chuyển ngữ).

NDP - Xin ngài cho chúng tôi một vài nét đặc thù về giáo phận của ngài.

GD – Giáo phận Malines-Bruxelles gồm hai vùng Brabant (trung tâm nước Bỉ) và vùng Malines. Vì thế chúng tôi có hai nhà thờ chính tòa, hai ngôn ngữ, hai nền văn hoá đồng cư với nhau. Giáo phận rộng lớn này chia thành ba giáo hạt (vicariat), mỗi giáo hạt có một giám mục phụ tá quản nhiệm. Giáo hạt phía bắc mang tên là ‘Brabant Flamand’, gồm hơn một triệu dân, nói tiếng Hòa Lan. Giáo hạt phía nam mang tên là ‘Brabant Wallon’, ít người và lãnh thổ bé nhỏ hơn, dân chúng nói tiếng Pháp. Giáo hạt Bruxelles nằm ở giữa, dân chúng hỗn tạp về nguồn gốc và nói hai tiếng Hòa Lan-Pháp.

NDP – Tính cách hỗn tạp như trên có làm chướng ngại cho tinh thần hiệp nhất của giáo phận của ngài không ?

GD– Không, mọi người công giáo đều biết họ thưộc về tổng giáo phận Malines-Bruxelles. Tuy nhiên họ quan tâm đến giáo hạt của họ nhiều hơn đến tổng giáo phận. Xét về mặt văn hóa, họ cảm thấy họ khác biệt nhau. Chúng tôi có những khác biệt thực sự về văn hoá, nhưng đồng thời chúng tôi tất cả là người Bỉ. Trong đời sống giáo hội của giáo hạt Bruxelles, sự khác biệt hiện ra ở ngay từng mỗi họ đạo : không những hai sinh hoạt mục vụ biệt lập nhau giữa tiếng Hòa Lan và tiếng Pháp, lại còn thêm mục vụ cho từng sắc tộc ngoại kiều (Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Việt Nam, Ba Lan…)

NDP– Giữa các xứ đạo tiếng Pháp và xứ đạo tiếng Hòa Lan có liên lạc với nhau nhiều không ?

GD – Họ cộng tác với nhau mỗi ngày thêm chặt chẽ hơn, nhất là trong phạm vi tài chánh hay sinh hoạt xã hội. Ngày nay mọi người đều thấy hai cộng doàn khác biệt về ngôn ngữ trong một giáo xứ không thể tuyệt đối tách rời nhau.

NDP – Người Bỉ nhìn Giáo Hội Bỉ như thế nào ?

GD – Như tại nhiều nước Tây Âu đã có một thời gian kitô giáo thịnh đạt và Giáo Hội có nhiều quyền bính. Ngày nay, các cơ quan truyền thông vẫn còn chỉ trích thể chế ấy một cách gay gắt. Tại nước Bỉ, người ta không qúy chuộc thể chế, nhưng mâu thuẫn thay, sự việc vẫn còn nổi bật trong nhiều phạm vi. Giống như Đức Jean Paul II đã nói, ‘nhiều người hâm mộ ca sĩ cho dù không thích bài hát’. Tuy nhiên, cho dù không ‘thực hành đạo cho lắm’, người Bỉ vẫn cảm nhận sâu xa nguồn gốc kitô giáo của họ, họ thường hành xử theo cung cách và tinh thần kitô.

NDP – Đối diện với hiện tượng tục hoá, hàng giáo sĩ của ngài có nhất trí trong chương trình Phúc Âm hóa không ?

GD – Xét về cơ bản thì có. Nhưng xét về hình thức, lại là chuyện khác… Trong mỗi giáo hạt, các linh mục phải đương đầu với những thực tại văn hoá khác nhau. Tại giáo hạt bắc, còn có nhiều phong trào công giáo hùng mạnh, 70% trẻ từ 12-18 tuổi còn đi học trường công giáo; tại giáo hạt nam, chỉ còn khoảng 50% thôi. Trên toàn thể nước Bỉ, tỉ số quan trọng về nhà thương và tổ chức từ thiện vẫn thuộc kitô giáo.

NDP – Vậy có gì là khuyết điểm ?

GD – Trước tiên chúng tôi thiếu sự huấn luyện căn bản về đức tin. Càng ngày càng nhiều người tuyệt nhiên không biết gì về đức tin. Việc huấn luyện tiên khởi là cần thiết. Rủi thay, các linh mục và giáo dân của chúng tôi không được đào tạo để làm việc công bố Tin Mừng sơ khởi này. Ngày nay chúng tôi thường dạy giáo lý cho những người đã không được không được học biết về Phúc Âm. Trẻ em đến các trường học, theo giáo lý và người ta dạy cho chúng những điều phải tin. Nhưng những trẻ em này không trở lại. Cách đây chừng 50 năm, người ta giả định rằng : những người đi học giáo lý đã có đức tin rồi, ngày nay những trường hợp đó mỗi ngày một hiếm hoi.

Tiếp đến, tôi nghĩ rằng, cần xét lại về sư phạm giáo lý. Giáo lý còn quá bị hạn chế vào cho trẻ em và vào các giai đoạn lớn của đời sống bí tích như rửa tội, rước lễ lần đầu, chịu phép thêm sức hay hôn phối. Theo tôi cần đi xa hơn là phải làm sao trình bày giáo lý suốt cả năm cho người lớn để chính họ có thể trao truyền nội dung của đức tin.

Ngày nay nhiều kitô hữu đã quên lãng những ý niệm, những từ ngữ thông thường của giáo lý. Làm sao cắt nghĩa kinh Tin Kính cho một người không hiểu gì về danh từ ‘sống lại’ hay cụm từ ‘tội nguyên tổ’ ? Muốn cho họ nhớ lại, cần giúp học họ học lại các danh từ. Thật vô ích khi cứ muốn chuyển đổi những danh từ cũ xưa này vào trong cách nói hằng ngày. Quả thật, có nhiều cách diễn tả đặc biệt kitô giáo cần phải học biết.

NDP – Những đề nghị này quá xa với đường lối mục vụ đang bị chôn vùi.

GD – Chúng ta không thể ở lỳ trong các hang toại đạo. Chúng ta phải chứng tỏ con người thực của chúng ta, không mặc cảm, không tự cao. Hơn thế, đó là một trong những mục tiêu của Đại hội Bruxelles – Chư Thánh 2006. Chúng ta không được sống mai ẩn nữa… Những suy nghĩ này có những lý do lịch sử của chúng. Trước kia, khi Giáo Hội còn hùng mạnh, nhiều kitô hữu đã rút lui và nói : «Chúng tôi không còn muốn là những con voi trong một tiệm bán đồ sứ nữa». Chỉ hôm nay chúng ta mới không còn là những con voi và càng không phải là những con voi trong tiệm bán đồ sứ… ngày nay chúng ta phải học tỏ mình ra với sự khiêm tốn. Hơn thế, theo tôi, không tỏ mình ra là một điều bất hảo, bởi vì như thế thì không thể có sự đối thoại thành thật với thế giới và với người khác được.

NDP – Các linh mục trong giáo phận của ngài có đồng quan điểm về những hướng rao truyền Phúc Âm này không ?

GD – Có chứ. Nhưng làm sao để thực hiện cụ thể ? Trên bình diện giáo xứ và giáo phận, chúng tôi có rất nhiều sáng kiến để cắt nghĩa và sống đức tin. Nhưng để rao giảng đức tin, công bố Tin Mừng, chúng tôi không có kỹ thuật. Hơn thế, chúng tôi thiếu can đảm. Chúng tôi không thẳng thắn đủ trong lời nói của chúng tôi, chúng tôi sợ sệt… Đó là một chứng bệnh…

NDP – Các tín hữu trong giáo phận Malines-Bruxelles đón nhận Đại hội Chư Thánh 2006 như thế nào ?

GD – Như trong các giáo phận thủ đô đã tổ chức, tại đây cũng cần một thời gian để chuẩn bị. Nhất là đối với các linh mục đã quá bận rộn công việc. May là những kinh nghiệm tổ chức trước của Vienne, Paris, và Lisbonne khích lệ chúng tôi rất nhều. Ngày nay nhiều người đã có hành trang. Trên 120 giáo xứ của Bruxelles, ba phần tư đã đưa ra những sáng kiến. Hơn thế, các giáo phận khác cũng góp phần vào biến cố này.

NDP – Đâu là ích lợi của một cuộc đối thoại về việc Phúc Âm hóa trong các thành phố có bộ mặt thật khác nhau này ?

GD – Cho dù mỗi thành phố có bộ mặt, có những vấn đề và những sắc thái riêng, điều quan trọng là người ta ý thức về giá trị thích đáng của đức tin và của giáo hội đối với hạnh phúc của con người trong xã hội. Năm vừa qua, khi đức hồng y Policarpo đến trình bày với ông thị trưởng thủ đô Lisbonne về Đại Hội, ngài nói : “Chúng tôi đến gặp ngài, không phải để thần thánh hoá thành phố, nhưng để nhân bản hoá thành phố”. Điều đó hoàn toàn đúng cho Bruxelles năm 2006 này. Chúng tôi không nhằm làm cho Bruxelles trở lại đạo, nhưng chúng tôi muốn nhân bản hoá thành phố khởi sự bằng Tin Mừng, muốn chứng tỏ giá trị thích đáng của kitô giáo đối với hạnh phúc của xã hội. Vì thế việc đầu tiên phải làm là cho ngưới ta thấy và biết chúng tôi.

NDP – Điều đó rất khẩn trương trong một nước như nước Bỉ đã hợp pháp hoá ‘việc cho chết êm dịu’.

GD – Chúng tôi sống trong một nước mà Quốc hội đã bỏ phiếu chấp thuận những khoản luật hoàn toàn trái nghịch với giáo lý công giáo. Tuy nhiên tôi xác tín rằng những luật pháp này không luôn luôn tương ứng với ước nguyện của dân chúng. Về những vấn đề sắc tộc, người Bỉ hay nói: “Nếu ai muốn thì cứ làm, riêng tôi, tôi sẽ không bao giờ làm”. Đó là một quan niệm không đúng về tinh thần trách nhiệm. Ngày nay, những khoản luật quan trọng đã được bỏ phiếu bởi đa số tạm thời và ngẫu nhiên. Việc làm như vậy không nghiêm chỉnh, vì các vấn đề lớn về luân lý như đồng tình luyến ái hay cho chết êm dịu đều vượt hẳn khả năng của một quốc hội.

NDP – Ngài đã nói trong một buổi họp báo rằng ‘người Bỉ không thèm khát Tin Mừng’.

GD – Tôi nghĩ rằng thái độ hờ hững tôn giáo là hiện tượng chung của các thành phố lớn thuộc các nước Tây Au hiện nay. Nếu người Bỉ không thèm khát là vì không bao giờ họ được chỉ cho thấy cái họ cần uống. Nếu không được biết đến coca, người ta sẽ không thèm khát coca. Trong những nước giầu có của chúng ta, có một sự hờ hững thật sâu đậm, nhưng đồng thời cũng có một sự thèm khát tôn giáo. Kết quả ra sao ? Người ta gõ hết mọi cửa, người ta gửi thư đi khắp nơi để tìm kiếm trong những ngóc hẻm thật bất ngờ một chút hạnh phúc mong muốn... Vừa cảm động vừa xót xa, vì nhiều cuộc tìm kiếm không đạt ước nguyện, người ta sinh ra thất vọng. Với Đại hội này, tôi cầu chúc cho các Kitô hữu trong thành phố, thức tỉnh và chứng tỏ những con đường hạnh phúc Giáo Hội muốn cống hiến…

NDP – Nhiều sáng kiến chứng tỏ ngài quan tâm đăc biệt đến việc truyền giáo bằng văn hoá, tại sao ?

GD – Tuyệt mỹ (beauté) là cái cửa đi vào Phúc Âm cách tự nhiên, ít phản kháng. Khi người ta đi vào bằng cửa chân lý, người ta sẽ tự hỏi : « Sự thật là gì ? ». Khi vào bằng cửa luân lý trọn hảo, người ta nói : « Phải, Thiên Chúa thật trọn lành, nhưng tôi, tôi không trọn lành. Điều này làm tôi thất đảm ». Nhưng khi người ta vào bằng cửa tuyệt mỹ, thì tuyệt mỹ không lướt qua chúng ta được. Kitô giáo tuyệt đẹp không theo ý nghĩa thẩm mỹ (esthétique) nhưng theo ý nghĩa hòa hợp (harmonie). Dĩ nhiên, con người tự cảm thấy mình am hợp với những cái gì tuyệt mỹ.

NDP – còn những chờ đợi khác ?

GD – Tôi nghĩ rằng đưa ra một chương trình có sẵn là không tốt. Tôi không phải ông chủ xí nghiệp PDG đưa ra những đối tượng phải đạt tới. Tôi xác tín rằng Đại hội sẽ phong phú. Chúng tôi chỉ cần đón nhận và rút tỉa, chúng tôi sẽ thấy những thành quả Đại hội đem lại.

NDP – Ngài có điều gì nói với dân Paris không ?

GD – Chúng tôi cần họ giúp chúng tôi sống tích cực tuần lễ thừa sai này tại Bỉ. Xin mời các bạn tới và các bạn sẽ xem thấy… (venez et vous verrez)

(www.giaoxuvnparis.org)