Cũng thảo luận về Đối thoại Liên tôn, và chất phóng xạ từ "Dominus Jesus"
MURCIA, Spain DEC. 4, 2002 (Zenit. Org). -Hồng Y Joseph Ratzinger nghĩ còn quá sớm để nói về Công đồng Vatican III.
Tổng Trưởng Bộ Giáo lý Đức tin chia sẻ quan điểm này, và những quan điểm khác, trong một cuộc phỏng vấn trên pham vi rộng lớn với các nhà báo tuần qua. Ngài ở tại Tây-ban-nha tham dự đại hội "Chúa Kitô: Đường, Sự Thật và Sự sống, " tại Đại học Thánh Anthony. Những phần đầu cuộc phỏng vấn này đã phát hành hôm Chúa nhật và Thứ Ba
Người ta nói cần họp một Vatican III để Giáo hội đáp ứng với những thời đại mới. Hồng Y nghỉ sao?
Hồng Y Ratzinger: Trước hết, tôi muốn nói đó là một vấn đề thực hành. Chúng ta không làm tròn cho đủ di sản của Vatican II. Chúng ta còn đương làm để hấp thụ và giải thích di sản này, vì những quá trình quan trọng cần thời gian. Một biện pháp kỹ thuật có thể được áp dụng mau lẹ, nhưng sự sống có những con đường dài hơn nhiều. Thời gian cần để phát triển một khu rừng, thời gian cần cho một con người phát triển.
Như thế, những thực tại thiêng liêng này, như sự hấp thụ một công đồng, là nhừng đường lối sự sống, cần có một thời gian lâu dài và không thể hoàn thành ngày một ngày hai. Đó là lý do tại sao chưa tới thời gian cho một công đồng mới.
Đó là một vấn đề quan trọng bậc nhất, nhưng đó cũng có thể là một vấn đề thực hành. Chúng ta đã có 2. 000 giám mục tham gia Vatican II, và đã là một khó khăn để có một cuộc gặp đối thoại. Bây giờ, chúng ta có lẽ có 4. 000 giám mục, và tôi nghỉ chúng ta phải tìm kỹ thuật để đối thoại.
Tôi muốn nhắc tới việc đã xảy ra trong thế kỷ thứ tư, một thế kỷ có nhiều công đồng lớn. Khi, 10 năm sau một công đồng, thánh Gregory Nazianzen được mời tham dự trong một công đồng mới, Ngài nói: "Không! Tôi không đi. Bây giờ chúng ta phải tiếp tục làm viêc theo công đồng kia. Chúng ta có quá nhiều vấn đề. Tại sao chúng ta muốn họp liền ngay một công đồng khác?" Tôi tưởng rằng tiếng nói này gây xúc động một mức nào đó chứng tỏ rằng phải cần thời gian để hấp thụ một công đồng.
Trong thời gian giữa hai công đồng lớn, những hình thức tiếp xúc khác là cần thiết giữa các hàng giám mục: ví dụ các thượng hội đồng tại Rome. Không chút hồ nghi, cần phải cải thiện thủ tục, bởi vì có quá nhiều cuộc độc thoại. Chúng ta phải thật sự tìm ra một quá trình thượng hội đồng, một con đường chung. Còn có những thượng hội đồng lục địa, vùng, v. v. , việc làm hiệu nghiệm của các hội đồng giám mục, những cuộc gặp gỡ của hàng giám mục với Tòa Thánh.
Cứ 5 năm, chúng tôi [trong Giáo triều Roma] gặp tất cả các giám mục thế giới. Chúng tôi đã cải thiện những cuộc thăm viếng "ad limina" rất nhiều, những cuộc thăm viếng trước kia rất hình thức và bây giờ là những cuộc gặp mặt đích thực đối thoại. Do đó, chúng tôi phải cải thiện những dụng cụ nầy để có một sự đối thoại trường kỳ giữa tất cả lãnh vực Giáo hội và giữa tất cả những lãnh vực Tòa Thánh, để chu toàn việc áp dụng tốt hơn Công đồng Vatican II. Và sau đó, chúng ta sẽ thấy...
Làm sao người ta có thể duy trì lòng trung với Giáo hội và ủng hộ sự hiệp thông, đang khi vẫn cởi mở với Thần khi để hướng dẫn chúng ta tới sự viên mãn chân lý? Nói khác, làm sao có thể không rơi vào trong những thái cực của sự cứng nhắc hay tuyệt giao?
Hồng Y Ratzinger: :Tôi tưởng điều đó là, hơn hết, một vấn đề trưởng thành của đức tin cá thể.
Xét theo tất cả những vẻ bề ngoài, lòng trung thành và sự cởi mở xem ra loại trừ nhau. Dầu sao, tôi tưởng rằng lòng trung thành chân chính với Chúa Giêsu, với Giáo hội Người, là Thân thể Người, là một lòng trung thành năng động. Chân lý là cho mọi người, và tất cả được dựng nên để đi về với Chúa. Những cánh tay rộng mở của Người trên thánh giá, các Giáo phụ coi đó cũng là tượng trưng lòng trung thành tột đỉnh--Chúa bị đóng đinh vào cây thánh giá--và sự ôm thế giới, để lôi kéo thế giới về với Người, và dọn chỗ cho mọi người.
Do đó, một lòng trung đích thực với Chúa thông phần tính năng động của con người Chúa Kitô, đấng có thể cởi mở chính mình cho những thách đố khác nhau của thực tại, của người khác, của thế giới, etc. Dầu vậy, đồng thời, Chúa gặp căn tính sâu xa của Người tại đó, căn tính không loại trừ bất cứ sự gì chân thật, căn tính đó chỉ loại trừ sự giả dối.
Theo trình độ chúng ta đi vào sự hiệp thông với Chúa Kitô, trong tình yêu của Người, tình yêu chấp nhận tất cả chúng ta và thanh luyện tất cả chúng ta, trong mức độ chúng ta tham gia sự hiệp thông với Chúa Kitô, chúng ta có thể trung thành và cởi mở.
Tình trạng hiện nay về sự truyền thông đại kết trong quan niệm của Giáo hội là gì? Theo sau huấn thị Dominus Jesus của Bộ Giáo lý Đức tin, có những sự chỉ trích giữa những kẻ đại diện các giáo hội tin mừng, bởi vì họ không chấp nhận hay không hiểu rõ lời tuyên bố rằng, còn hơn các giáo hội, họ có thể được coi như là những cộng đồng kitô hữu.
Hồng Y Ratzinger: Chủ đề này cần phải tranh cãi lâu dài. Trước hết, người ta nói cho chúng tôi biết rằng rằng nếu trong "Dominus Jesus" chúng ta chỉ nói về tính duy nhất của Chúa Kitô, toàn thể Kitô giáo sẽ vui thích với văn kiện này, tất cả sẽ hợp ý vỗ tay mừng thánh bộ. Người ta đã hỏi chúng tôi "Tại sao bộ thêm vấn đề giáo hội học mà kết cục bị chỉ trích?"
Dầu sao, cũng cần nói về Giáo hội, vì Chúa Giêsu đã dựng nên Thân thể Người, và Người hiện diện suốt các thế kỷ qua Thân thể Người, là Giáo hội. Giáo hội không phải là thần khí bay lượn.
Tôi xác tín rằng chúng tôi [trong "Dominus Jesus"] đã giải thích "Lumen Gentium" của Vatican II một cách hoàn toàn trung thực, đang khi trong 30 năm cuối chúng tôi càng ngày càng giảm nhẹ văn bản. Trên thực tế, những kẻ chỉ trích chúng tôi đã nói với chúng tôi rằng chúng tôi duy trì lòng trung theo sát chữ của công đồng, nhưng chúng tôi không hiểu công đồng, Ít nhất họ biết chúng tôi trung thành với từng chữ.
Giáo hội Chúa Kitô không phải là một điều không tưởng đại kết; đó không phải là một cái gì chúng tôi làm ra; đó có lẽ không phải là giáo hội Chúa Kitô. Đó là lý do tại sao chúng tôi xác tín rằng Giáo hội là một Thân thể, Giáo hội không hẳn là một ý niệm, nhưng điều này không loại trừ những cách thức khác nhau của một sự hiện diện nào đó của Giáo hội, cả bên ngoài Giáo hội Công giáo, điều này đuợc công đồng định rõ. Tôi nghĩ rõ ràng là những cách thức đó hiện hữu, trong rất nhiều sắc thái, và cũng dễ hiểu là điều này sinh ra những tranh cãi trong Giáo hội.
Hồng Y có nghỉ rằng Giáo hội, cách riêng trong thế giới phương Tây, được chuẩn bị xử lý sự phi-Kitô hoá và khoảng trống lớn nó để lại? Hay là giữa những người của Giáo hội còn có một quan điểm Kitô giáo, chớ khong phải một Giáo hội truyền giáo ?
Hồng Y Ratzinger: Tôi tưởng trong vấn đề này, chúng ta có nhiều điều phải học. Chúng ta quá quan tâm tới chúng ta, tới những vấn đề cấu trúc, tới sự độc thân, tới việc phong chức cho người nữ, tới những hội đồng mục vụ, tới những quyền hạn của các hội đồng này [và] của những thượng hội đồng.
Chúng ta luôn luôn làm việc trên những vấn đề nội bộ chúng ta và chúng ta không thấy rằng thế giới cần những câu trả lời; thế giới không biết phải sống làm sao. Sự bất lực của thế giới để sống thích hợp được thấy trong ma túy, nạn khủng bố, v. v. Do đó, thế giới khao khát được trả lời--và chúng ta vẫn duy trì với những vấn đề chúng ta.
Tôi xác tín rằng nếu chúng ta ra đi để gặp những kẻ khác, và chúng ta trình bày Tin Mừng cho họ một cách thích hợp, cả những vấn đề nội bộ chúng ta cũng sẽ được tương đối hóa và giải quyết. Đây là một điểm cơ bản: Chúng ta phải làm cho Tin Mừng tới được với thế giới tục hóa ngày nay.
Hồng Y nghỉ cái gì là khởi điểm để phối hợp sự lớn lên của sức mạnh kỷ thuật và khoa học nhân loại với đức tin và luân lý?
Hồng Y Ratzinger: Đó là một cái gì phải được tái khám phá, bởi vì những kiểu mẫu khoa học thay đổi; do đó, hoàn cảnh đối thoại giữa khoa học và đức tin gặp những thách đố mới.
Một dụng cụ quan trọng, ví dụ, là Hàn Lâm viện Giáo hoàng Khoa học, mà tôi bây giờ cũng là một thành viên và, trên thực tế, cách đây không lâu tôi đã tham dự lần đầu tiên một trong những cuộc họp của nó.
Để xác định niên đại, hàn lâm viện đó chỉ là một hội những khoa học gia--những nhà vật lý, những nhà sinh vật học, v. v. Bây giờ các triết gia và thần học gia cũng được kết nối. Chúng tôi đã thấy sự đối thoại giữa những khoa học và triết học và thần học là việc khó, bởi vì chúng là những đường lối hoàn toàn khác nhau khi đề cập tới thực tế, với những phuơng thức khác nhau, v. v.
Một trong những học giả này--ông là một chuyên vên trong ngành nghiên cứu về não con người-- nói, Có hai thế giới không hoà hợp được với nhau; một bên chúng ta có những khoa học chính xác, trong lãnh vực những khoa học này, không có tự do, không có sự hiện diện của tinh thần và, bên kia, tôi biết tôi là một con người và tôi có tự do.
Do đó, theo ông, chúng là hai thế giới khác nhau--và chúng ta không có khả năng hoà hợp hai nhận thức này của thế giới. Chính ông đã công nhận ông tin trong hai thế giới : trong khoa học từ chối tự do, và trong kinh nghiệm của ông là một con người tự do.
Dầu sao, chúng ta không thể sống trong cách này, đó có thể là bịnh tâm thần phân liệt trường kỳ. Trong hoàn cảnh hiện nay này, hoàn cảnh chuyên có phương pháp luận sắc bén về phía cả hai phương pháp, chúng ta ta phải tìm phương cách để khám phá sự hợp lý của kẻ khác, và phát triển một sư đối thoại chân chính.
Trong thời gian này không có công thức. Đó là lý do tại sao điều rất quan trọng là những kẻ đề xướng hai phương pháp của tư tưởng nhân bản phải gặp nhau: các khoa học, và triết học và thần học. Như vậy, họ có thể khám phá
cả hai là những diễn tả của lý trí đích thực. Nhưng họ phải hiểu rằng chân lý chỉ có một và con người là một.
Đó là lý do tại sao điều rất quan trọng là trong các đại học và các phân khoa, chúng không phải là những môn học tách biệt nhau, nhưng phải tiếp xúc nhau trường kỳ, trong đó chúng ta học suy nghĩ với kẻ khác và tìm ra sự thống nhất của chân lý.
MURCIA, Spain DEC. 4, 2002 (Zenit. Org). -Hồng Y Joseph Ratzinger nghĩ còn quá sớm để nói về Công đồng Vatican III.
Tổng Trưởng Bộ Giáo lý Đức tin chia sẻ quan điểm này, và những quan điểm khác, trong một cuộc phỏng vấn trên pham vi rộng lớn với các nhà báo tuần qua. Ngài ở tại Tây-ban-nha tham dự đại hội "Chúa Kitô: Đường, Sự Thật và Sự sống, " tại Đại học Thánh Anthony. Những phần đầu cuộc phỏng vấn này đã phát hành hôm Chúa nhật và Thứ Ba
Người ta nói cần họp một Vatican III để Giáo hội đáp ứng với những thời đại mới. Hồng Y nghỉ sao?
Hồng Y Ratzinger: Trước hết, tôi muốn nói đó là một vấn đề thực hành. Chúng ta không làm tròn cho đủ di sản của Vatican II. Chúng ta còn đương làm để hấp thụ và giải thích di sản này, vì những quá trình quan trọng cần thời gian. Một biện pháp kỹ thuật có thể được áp dụng mau lẹ, nhưng sự sống có những con đường dài hơn nhiều. Thời gian cần để phát triển một khu rừng, thời gian cần cho một con người phát triển.
Như thế, những thực tại thiêng liêng này, như sự hấp thụ một công đồng, là nhừng đường lối sự sống, cần có một thời gian lâu dài và không thể hoàn thành ngày một ngày hai. Đó là lý do tại sao chưa tới thời gian cho một công đồng mới.
Đó là một vấn đề quan trọng bậc nhất, nhưng đó cũng có thể là một vấn đề thực hành. Chúng ta đã có 2. 000 giám mục tham gia Vatican II, và đã là một khó khăn để có một cuộc gặp đối thoại. Bây giờ, chúng ta có lẽ có 4. 000 giám mục, và tôi nghỉ chúng ta phải tìm kỹ thuật để đối thoại.
Tôi muốn nhắc tới việc đã xảy ra trong thế kỷ thứ tư, một thế kỷ có nhiều công đồng lớn. Khi, 10 năm sau một công đồng, thánh Gregory Nazianzen được mời tham dự trong một công đồng mới, Ngài nói: "Không! Tôi không đi. Bây giờ chúng ta phải tiếp tục làm viêc theo công đồng kia. Chúng ta có quá nhiều vấn đề. Tại sao chúng ta muốn họp liền ngay một công đồng khác?" Tôi tưởng rằng tiếng nói này gây xúc động một mức nào đó chứng tỏ rằng phải cần thời gian để hấp thụ một công đồng.
Trong thời gian giữa hai công đồng lớn, những hình thức tiếp xúc khác là cần thiết giữa các hàng giám mục: ví dụ các thượng hội đồng tại Rome. Không chút hồ nghi, cần phải cải thiện thủ tục, bởi vì có quá nhiều cuộc độc thoại. Chúng ta phải thật sự tìm ra một quá trình thượng hội đồng, một con đường chung. Còn có những thượng hội đồng lục địa, vùng, v. v. , việc làm hiệu nghiệm của các hội đồng giám mục, những cuộc gặp gỡ của hàng giám mục với Tòa Thánh.
Cứ 5 năm, chúng tôi [trong Giáo triều Roma] gặp tất cả các giám mục thế giới. Chúng tôi đã cải thiện những cuộc thăm viếng "ad limina" rất nhiều, những cuộc thăm viếng trước kia rất hình thức và bây giờ là những cuộc gặp mặt đích thực đối thoại. Do đó, chúng tôi phải cải thiện những dụng cụ nầy để có một sự đối thoại trường kỳ giữa tất cả lãnh vực Giáo hội và giữa tất cả những lãnh vực Tòa Thánh, để chu toàn việc áp dụng tốt hơn Công đồng Vatican II. Và sau đó, chúng ta sẽ thấy...
Làm sao người ta có thể duy trì lòng trung với Giáo hội và ủng hộ sự hiệp thông, đang khi vẫn cởi mở với Thần khi để hướng dẫn chúng ta tới sự viên mãn chân lý? Nói khác, làm sao có thể không rơi vào trong những thái cực của sự cứng nhắc hay tuyệt giao?
Hồng Y Ratzinger: :Tôi tưởng điều đó là, hơn hết, một vấn đề trưởng thành của đức tin cá thể.
Xét theo tất cả những vẻ bề ngoài, lòng trung thành và sự cởi mở xem ra loại trừ nhau. Dầu sao, tôi tưởng rằng lòng trung thành chân chính với Chúa Giêsu, với Giáo hội Người, là Thân thể Người, là một lòng trung thành năng động. Chân lý là cho mọi người, và tất cả được dựng nên để đi về với Chúa. Những cánh tay rộng mở của Người trên thánh giá, các Giáo phụ coi đó cũng là tượng trưng lòng trung thành tột đỉnh--Chúa bị đóng đinh vào cây thánh giá--và sự ôm thế giới, để lôi kéo thế giới về với Người, và dọn chỗ cho mọi người.
Do đó, một lòng trung đích thực với Chúa thông phần tính năng động của con người Chúa Kitô, đấng có thể cởi mở chính mình cho những thách đố khác nhau của thực tại, của người khác, của thế giới, etc. Dầu vậy, đồng thời, Chúa gặp căn tính sâu xa của Người tại đó, căn tính không loại trừ bất cứ sự gì chân thật, căn tính đó chỉ loại trừ sự giả dối.
Theo trình độ chúng ta đi vào sự hiệp thông với Chúa Kitô, trong tình yêu của Người, tình yêu chấp nhận tất cả chúng ta và thanh luyện tất cả chúng ta, trong mức độ chúng ta tham gia sự hiệp thông với Chúa Kitô, chúng ta có thể trung thành và cởi mở.
Tình trạng hiện nay về sự truyền thông đại kết trong quan niệm của Giáo hội là gì? Theo sau huấn thị Dominus Jesus của Bộ Giáo lý Đức tin, có những sự chỉ trích giữa những kẻ đại diện các giáo hội tin mừng, bởi vì họ không chấp nhận hay không hiểu rõ lời tuyên bố rằng, còn hơn các giáo hội, họ có thể được coi như là những cộng đồng kitô hữu.
Hồng Y Ratzinger: Chủ đề này cần phải tranh cãi lâu dài. Trước hết, người ta nói cho chúng tôi biết rằng rằng nếu trong "Dominus Jesus" chúng ta chỉ nói về tính duy nhất của Chúa Kitô, toàn thể Kitô giáo sẽ vui thích với văn kiện này, tất cả sẽ hợp ý vỗ tay mừng thánh bộ. Người ta đã hỏi chúng tôi "Tại sao bộ thêm vấn đề giáo hội học mà kết cục bị chỉ trích?"
Dầu sao, cũng cần nói về Giáo hội, vì Chúa Giêsu đã dựng nên Thân thể Người, và Người hiện diện suốt các thế kỷ qua Thân thể Người, là Giáo hội. Giáo hội không phải là thần khí bay lượn.
Tôi xác tín rằng chúng tôi [trong "Dominus Jesus"] đã giải thích "Lumen Gentium" của Vatican II một cách hoàn toàn trung thực, đang khi trong 30 năm cuối chúng tôi càng ngày càng giảm nhẹ văn bản. Trên thực tế, những kẻ chỉ trích chúng tôi đã nói với chúng tôi rằng chúng tôi duy trì lòng trung theo sát chữ của công đồng, nhưng chúng tôi không hiểu công đồng, Ít nhất họ biết chúng tôi trung thành với từng chữ.
Giáo hội Chúa Kitô không phải là một điều không tưởng đại kết; đó không phải là một cái gì chúng tôi làm ra; đó có lẽ không phải là giáo hội Chúa Kitô. Đó là lý do tại sao chúng tôi xác tín rằng Giáo hội là một Thân thể, Giáo hội không hẳn là một ý niệm, nhưng điều này không loại trừ những cách thức khác nhau của một sự hiện diện nào đó của Giáo hội, cả bên ngoài Giáo hội Công giáo, điều này đuợc công đồng định rõ. Tôi nghĩ rõ ràng là những cách thức đó hiện hữu, trong rất nhiều sắc thái, và cũng dễ hiểu là điều này sinh ra những tranh cãi trong Giáo hội.
Hồng Y có nghỉ rằng Giáo hội, cách riêng trong thế giới phương Tây, được chuẩn bị xử lý sự phi-Kitô hoá và khoảng trống lớn nó để lại? Hay là giữa những người của Giáo hội còn có một quan điểm Kitô giáo, chớ khong phải một Giáo hội truyền giáo ?
Hồng Y Ratzinger: Tôi tưởng trong vấn đề này, chúng ta có nhiều điều phải học. Chúng ta quá quan tâm tới chúng ta, tới những vấn đề cấu trúc, tới sự độc thân, tới việc phong chức cho người nữ, tới những hội đồng mục vụ, tới những quyền hạn của các hội đồng này [và] của những thượng hội đồng.
Chúng ta luôn luôn làm việc trên những vấn đề nội bộ chúng ta và chúng ta không thấy rằng thế giới cần những câu trả lời; thế giới không biết phải sống làm sao. Sự bất lực của thế giới để sống thích hợp được thấy trong ma túy, nạn khủng bố, v. v. Do đó, thế giới khao khát được trả lời--và chúng ta vẫn duy trì với những vấn đề chúng ta.
Tôi xác tín rằng nếu chúng ta ra đi để gặp những kẻ khác, và chúng ta trình bày Tin Mừng cho họ một cách thích hợp, cả những vấn đề nội bộ chúng ta cũng sẽ được tương đối hóa và giải quyết. Đây là một điểm cơ bản: Chúng ta phải làm cho Tin Mừng tới được với thế giới tục hóa ngày nay.
Hồng Y nghỉ cái gì là khởi điểm để phối hợp sự lớn lên của sức mạnh kỷ thuật và khoa học nhân loại với đức tin và luân lý?
Hồng Y Ratzinger: Đó là một cái gì phải được tái khám phá, bởi vì những kiểu mẫu khoa học thay đổi; do đó, hoàn cảnh đối thoại giữa khoa học và đức tin gặp những thách đố mới.
Một dụng cụ quan trọng, ví dụ, là Hàn Lâm viện Giáo hoàng Khoa học, mà tôi bây giờ cũng là một thành viên và, trên thực tế, cách đây không lâu tôi đã tham dự lần đầu tiên một trong những cuộc họp của nó.
Để xác định niên đại, hàn lâm viện đó chỉ là một hội những khoa học gia--những nhà vật lý, những nhà sinh vật học, v. v. Bây giờ các triết gia và thần học gia cũng được kết nối. Chúng tôi đã thấy sự đối thoại giữa những khoa học và triết học và thần học là việc khó, bởi vì chúng là những đường lối hoàn toàn khác nhau khi đề cập tới thực tế, với những phuơng thức khác nhau, v. v.
Một trong những học giả này--ông là một chuyên vên trong ngành nghiên cứu về não con người-- nói, Có hai thế giới không hoà hợp được với nhau; một bên chúng ta có những khoa học chính xác, trong lãnh vực những khoa học này, không có tự do, không có sự hiện diện của tinh thần và, bên kia, tôi biết tôi là một con người và tôi có tự do.
Do đó, theo ông, chúng là hai thế giới khác nhau--và chúng ta không có khả năng hoà hợp hai nhận thức này của thế giới. Chính ông đã công nhận ông tin trong hai thế giới : trong khoa học từ chối tự do, và trong kinh nghiệm của ông là một con người tự do.
Dầu sao, chúng ta không thể sống trong cách này, đó có thể là bịnh tâm thần phân liệt trường kỳ. Trong hoàn cảnh hiện nay này, hoàn cảnh chuyên có phương pháp luận sắc bén về phía cả hai phương pháp, chúng ta ta phải tìm phương cách để khám phá sự hợp lý của kẻ khác, và phát triển một sư đối thoại chân chính.
Trong thời gian này không có công thức. Đó là lý do tại sao điều rất quan trọng là những kẻ đề xướng hai phương pháp của tư tưởng nhân bản phải gặp nhau: các khoa học, và triết học và thần học. Như vậy, họ có thể khám phá
cả hai là những diễn tả của lý trí đích thực. Nhưng họ phải hiểu rằng chân lý chỉ có một và con người là một.
Đó là lý do tại sao điều rất quan trọng là trong các đại học và các phân khoa, chúng không phải là những môn học tách biệt nhau, nhưng phải tiếp xúc nhau trường kỳ, trong đó chúng ta học suy nghĩ với kẻ khác và tìm ra sự thống nhất của chân lý.