Đức Đương Kim Giáo Hoàng và Đức Cố Giáo Hoàng

Lược Trích Bài Phỏng Vấn Của Đài Truyền Hình Ba Lan Với Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16 Khi Ngài Nói Về Di Sản Của Vị Tiền Nhiệm Của Ngài Và Sức Mạnh Của Lời Cầu Nguyện

Đức cố Thánh Cha với tình yêu trẻ thơ
Krakow, Ba Lan (Zenit).- Trong bài phỏng vấn với Đài Truyền Hình Ba Lan, Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16 cho biết rằng: “Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị luôn lúc nào cũng gần gũi với Ngài.”

Hỏi (H): Thưa Đức Thánh Cha, Ngài gặp Đức Cố Hồng Y Wojtyla khi nào và tình bằng hữu của Ngài bắt đầu như thế nào?

Đức Thánh Cha Biển Đức 16 (T): Thưa, tôi đích thân gặp Ngài trong suốt hai lần gặp gở trước cơ mật viện và những cơ mật viện của năm 1978. Về lẽ tự nhiên, tôi đã từng nghe về Đức Cố Hồng Y Wojtyla, đặc biệt là trong bối cảnh liên lạc thư tín giữa các Đức Giám Mục của Ba Lan và các Đức Giám Mục Đức Quốc vào năm 1965.

Các vị Hồng Y của Đức Quốc đã nói với tôi về những phẩm chất nổi bật và những đóng góp lớn lao của Đức Cố Hồng Y của Tổng Giáo Phận Krakow và việc Ngài đã trở nên linh hồn của việc liên lạc bằng thư tín mang tính lịch sử này. Tôi cũng đã lắng nghe từ các bạn ở đại học về danh tiếng của Ngài như là một nhà triết học và một nhà tư tưởng lớn. Thế nhưng, như tôi đã nói, cuộc gặp gỡ mang tính cá nhân lần đầu tiên xảy ra trong suốt thời gian diễn ra cơ mật viện của năm 1978. Ngay từ đầu, tôi đã thích Ngài, và cảm tạ Thiên Chúa, vì về phần tôi, tôi chỉ là một vị Hồng Y bình thường thôi, liền sau đó Đức Cố Hồng Y Wojtyla làm bạn với tôi ngay lập tức.

Tôi rất biết ơn về sự tin tưởng mà Ngài đã dành cho tôi. Trên tất cả mọi thứ, khi tôi quan sát Ngài cầu nguyện, tôi liền hiểu và biết ra ngay Ngài chính là một người của Thiên Chúa.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về Ngài chính là: Ngài đúng là một con người sống với Chúa và sống trong Chúa. Tôi cũng rất lấy làm cảm kích bởi sự chân thành vô tư qua việc Ngài đã làm quen với tôi. Trong rất nhiều dịp khác nhau, Ngài truyền đạt trong những cuộc họp của các Đức Hồng Y trước khi diễn ra các cuộc họp của cơ mật viện, và đó cũng là lúc mà tôi có dịp hiểu được rõ hơn về danh tiếng của Ngài như là một nhà tư tưởng lớn.

Không cần phải sử dụng những từ ngữ hoa mỹ, to tát, Ngài đã tạo ra một mối quan hệ rất chân thành, và ngay lập tức sau khi Ngài được bầu chọn làm Giáo Hoàng, Ngài đã gọi tôi vào Rôma rất nhiều lần, và sau cùng Ngài đã bổ nhiệm tôi thành vị Tổng Trưởng của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin.

(H): Thưa Đức Thánh Cha, thế cuộc bổ nhiệm này không phải đến với Ngài do sự ngạc nhiên?

(T): Thưa, thật khó cho tôi lúc đó, bởi vì tôi vừa mới được bổ nhiệm làm Giám Mục của Giáo Phận Munich, với một Thánh Lễ khấn hứa rất trịnh trọng tại Vương Cung Thánh Đường Munich, tôi cảm thấy tôi có một trách nhiệm với giáo phận này, giống thể đó là một cuộc hôn nhân vậy. Chính vì thế, tôi cảm thấy mình rất gắn bó với giáo phận này. Vẫn còn có nhiều vấn đề khó khăn chưa được giải quyết xong, và tôi không muốn rời giáo phận của tôi trong tình trạng rối ren như vậy.

Tôi đã thảo luận tất cả điều này với Đức Cố Thánh Cha, với sự chân thành nhất, và Ngài đối xử với tôi như là một người cha vậy. Ngài cho tôi thời gian để suy nghĩ và Ngài nói rằng Ngài cũng cần thời gian để suy nghĩ.

Cuối cùng, Ngài thuyết phục tôi rằng đây chính là ý chỉ của Thiên Chúa. Chính vì thế, tôi chấp nhận lời kêu gọi này, và trách nhiệm lớn lao này, vốn chẳng phải dễ dàng gì cho lắm, cũng như vượt quá khả năng của tôi. Thế nhưng, bằng việc tín thác vào lòng nhân từ của vị cha chung là Đức Cố Thánh Cha và trong sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, tôi nói lời xin vâng.

(H): Thưa Đức Thánh Cha, theo ý kiến của Ngài, đâu là những lúc quan trọng và có ý nghĩa nhất trong triều đại Giáo Hoàng của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị?

(T): Thưa, chúng ta có thể nhìn ra được điều này qua hai khía cạnh: một, về khía cạnh ad extra, tức hướng về thế giới bên ngoài; và khía cạnh còn lại chính là ad intra, tức hướng về Giáo Hội.

Liên quan đến thế giới, trông có vẽ đối với suy nghĩ của riêng tôi rằng, qua các bài diễn văn của Ngài, qua cá tính của Ngài, qua sự hiện diện của Ngài, qua khả năng thuyết phục của Ngài, Đức Cố Thánh Cha đã tạo ra một sự nhạy cảm mới về các giá trị luân lý đạo đức, về tầm quan trọng của tôn giáo trên thế giới. Điều này đã tạo ra một sự khởi đầu mới, một ý thức nhạy cảm mới về tôn giáo, và nhu cầu cần phải có những chiều kích tôn giáo nơi nhân loại con người. Trên tất cả chính là tầm quan trọng của vị Giám Mục Rôma đã gia tăng lên một cách rất mạnh mẽ.

Mặc cho những khác biệt và mặc cho sự không thừa nhận về Quyền Kế Vị của Phêrô, tất cả những người Kitô Giáo đã nhìn nhận rằng Ngài chính là phát ngôn viên chính thức cho Kitô Giáo. Không ai trên thế giới, hay trên cấp độ quốc tế, có thể nói nhân danh cho Kitô Giáo như chính Ngài, và có thể đưa ra tiếng nói và sức mạnh về hiện thực Kitô Giáo trong thế giới ngày nay. Ngài chính là phát ngôn viên về những giá trị cao cả nhất của nhân loại cho cả những người không phải là Kitô Giáo và cả những tôn giáo khác. Ngài rất khéo léo tạo ra một bầu khí đối thoại giữa các tôn giáo lớn với nhau, và một ý thức về trách nhiệm chung mà chúng ta có cho toàn thể thế giới. Ngài cũng nhấn mạnh rằng bạo lực và tôn giáo là hai điều hoàn toàn bất tương xứng với nhau, và rằng chung ta phải kiếm tìm ra một con đường để cùng nhau có được sự hòa bình, bằng việc gánh lấy trách nhiệm chung cho toàn thể nhân loại.

Còn liên quan đến tình huống của Giáo Hội, tôi có thể nói rằng, trước tiên hết, là Ngài biết cách thổi sự nhiệt huyết dành cho Chúa Kitô vào trong giới trẻ. Đây chính là một điều gì đó rất mới mẽ, nếu như chúng ta nghĩ về giới trẻ của những năm cuối thập niên 1960s và 1970s rằng người trẻ đã trở nên nhiệt tình hẳn lên cho và vì Chúa Kitô, cũng như với Giáo Hội, và các giá trị khó khăn khác. Chính cá tính và sự uy tín của Ngài đã giúp huy động hóa giới trẻ của thế giới về mục tiêu của Thiên Chúa, và về tình yêu của Chúa Kitô.

Trong Giáo Hội, Ngài tạo ra một tình yêu mới dành cho Phép Thánh Thể. Ngài tạo ra một sự chú ý mới mẽ về Lòng Xót Thương vĩ đại của Thiên Chúa, và Ngài hiện thể việc tôn sùng vào Đức Maria, Mẹ của tất cả chúng ta.

Theo cách này, Ngài hướng dẫn chúng ta tiến về một cuộc nội tâm hóa đức tin, và đồng thời hướng về một kết quả đích thực vĩ đại. Dĩ nhiên, chúng ta phải đề cập đến sự đóng góp rất quan trọng của Ngài vào những thay đổi lớn lao trên thế giới vào năm 1989, đóng góp vào việc sụp đổ của chủ nghĩa xã hội.

(H): Thưa Đức Thánh Cha, trong suốt những cuộc gặp gỡ cá nhân của Ngài và những buổi nói chuyện của Ngài với Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, điều gì đã khiến Ngài có ấn tượng nhất? Đức Thánh Cha có thể nói cho chúng con biết được về những cuộc gặp gỡ sau cùng nhất của Đức Thánh Cha với Đức Cố Giáo Hoàng được không?

(T): Thưa, dĩ nhiên là được.

Vào giờ phút cuối, tôi đã có hai cuộc gặp gỡ riêng với Ngài. Một chính là tại bệnh viện Gemelli, vào khoảng ngày 5 hay 6 của tháng 2 năm 2005 gì đó, và cuộc gặp gỡ thứ hai chính là một ngày trước khi Ngài qua đời ngay tại phòng riêng của Ngài.

Trong cuộc gặp gỡ lần đầu tiên, Đức Cố Giáo Hoàng rõ ràng là rất đau đớn vì tật bệnh, thế nhưng Ngài hoàn toàn rất minh mẫn và biết rõ mọi chuyện. Tôi đến gặp Ngài vì công việc vì tôi cần Ngài đưa ra một số quyết định. Mặc dầu đang phải chịu sự đau đớn thấy rõ, thế nhưng Đức Cố Thánh Cha vẫn biết được những gì tôi đang nói với Ngài với sự chăm chú rất cao độ. Ngài đưa ra những quyết định của Ngài chỉ trong vỏn vẹn có vài chữ, và Ngài chúc phúc lành cho tôi. Ngài chào tôi bằng tiếng Đức và khẳng định sự tin tưởng và tình bạn của Ngài dành cho tôi.

Tôi rất lấy làm cảm động khi nhìn thấy được việc Ngài đã hiệp kết sự đau khổ của riêng Ngài với sự đau khổ của Thiên Chúa, và cách mà Ngài đã gánh lấy sự đau đớn này cùng với Thiên Chúa và cho chính Thiên Chúa. Tôi cũng nhận thấy được sự bình tâm nội tại trong trái tim của Ngài, và việc Ngài rất ư là tỉnh táo.

Cuộc gặp gỡ thứ hai chính là một ngày trước khi Ngài qua đời. Rõ ràng là Ngài đau đớn kinh khủng, và chung quanh Ngài có các vị bác sĩ và các bạn bè của Ngài. Lạ lùng là lúc đó, Ngài cũng vẫn còn tỉnh táo và Ngài ban phép lành của Ngài cho tôi. Ngài không thể nói nhiều. Sự kiên nhẫn mà Ngài cho tất cả mọi người thấy được vào giờ phút đớn đau tột cùng này chính là một bài học vĩ đại dành cho riêng tôi – khi nhìn thấy được việc Ngài tin tưởng rằng Ngài đang ở trong bàn tay của Thiên Chúa và cách mà Ngài đã từ bỏ chính bản thân của Ngài cho ý chỉ của Thiên Chúa. Mặc cho sự đớn đau rõ mồn một đó, Ngài vẫn bình an và tự tại, bởi vì Ngài đang ở trong bàn tay của tình yêu Thiên Chúa.

(H): Thưa Đức Thánh Cha, chúng con luôn nhớ đến những ngôn từ mà Đức Thánh Cha đã rao giảng trong Thánh Lễ vào ngày 20 tháng 4 năm 2005 vừa qua, những ngôn từ mà Đức Thánh Cha đặc biệt dành riêng cho Đức Cố Giáo Hoàng. Và như chúng con xin được phép trích lại, Đức Thánh Cha đã nói như sau: “Trông có vẽ như Ngài đang nắm chặt lấy tay tôi. Tôi nhìn thấy Ngài ánh mắt tươi cười của Ngài và tôi lắng nghe được những tiếng nói của Ngài, vào lúc đó Ngài đang hướng dẫn tôi một cách rất cụ thể rằng: ‘Đừng Sợ, hiền huynh!’” Và sau cùng, chúng con muốn hỏi đến một câu hỏi rất riêng tư là: Đức Thánh Cha vẫn còn có cảm giác về sự hiện diện của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị không, và nếu có, thì theo cách nào?

(T): Thưa, chắc chắn là có rồi. Tôi bắt đầu trả lời phần đầu của câu hỏi.

Thoạt đầu mà nói, khi nói về di sản của Đức Cố Giáo Hoàng, tôi quên đề cập đến rất nhiều văn kiện mà Ngài đã để lại cho chúng ta – có đến 14 Thông Điệp, rất nhiều lá thư mục vụ, và các văn kiện khác. Tất cả đều là những tài sản kế thừa phong phú mà Giáo Hội vẫn chưa có thể tiêu hóa hết được.

Sứ vụ của cá nhân tôi không phải là việc ban hành ra thêm nhiều văn kiện mới nữa, mà là bảo đảm rằng những văn kiện của Ngài được tiêu hóa một cách kỹ càng, vì lẽ đó là những văn kiện thuộc kho báu vô giá, chúng chính là cách diễn giải đích thực nhất về tinh thần của Công Đồng Chung Vaticăn II. Chúng ta biết được rằng Đức Cố Giáo Hoàng chính là một người của Công Đồng, và rằng chính Ngài đã nội tâm hóa tinh thần của Công Đồng và từ ngữ của Công Đồng. Thông qua những văn kiện được viết ra có tính giá trị thiêng liêng cao vời này, Ngài giúp cho chúng ta hiểu được Công Đồng muốn gì và không muốn gì. Điều này giúp chúng ta trở thành Giáo Hội của mọi thời đại và của tương lai của chúng ta.

Còn về phần hai của câu hỏi, Đức Cố Giáo Hoàng luôn luôn rất gần gũi với tôi thông qua những văn kiện mà Ngài đã viết ra: Tôi lắng nghe Ngài, tôi nhìn thấy Ngài đang nói chuyện với tôi, vì thế tôi có thể tiếp tục mãi cuộc đối thoại với Ngài. Ngài luôn nói với tôi qua những gì mà Ngài đã viết ra. Chính vì thế, tôi có thể tiếp tục cuộc trò chuyện của tôi với Đức Cố Giáo Hoàng.

Sự gần gũi của tôi đối với Ngài không bị giới hạn trong những ngôn từ hay những đoạn văn chữ, vì lẽ, đằng sau những văn chữ đó chính tôi nghe được Ngài đang nói với tôi. Một người về với Thiên Chúa không có nghĩa là người đó biến mất hẳn đi. Tôi tin rằng một người nào đó khi về với Thiên Chúa, thì người đó đến gần với chúng ta hơn và tôi cảm thấy Ngài đang ở rất gần với tôi, và qua Ngài tôi gần gũi với chính Thiên Chúa.

Tôi gần gũi với Đức Cố Giáo Hoàng, và giờ đây Ngài giúp tôi trở nên gần gũi với Thiên Chúa, và tôi cố bước vào bầu khí cầu nguyện này, của tình yêu dành cho Thiên Chúa của chúng ta, cho Đức Maria của chúng ta, và tôi phó dâng chính mình tôi vào những lời cầu nguyện của Ngài. Vì thế cuộc đối thoại của tôi với Ngài là một cuộc đối thoại vĩnh viễn, liên lũy, và chúng tôi rất gần gũi với nhau trong một cách mới mẽ, trong một cách rất là sâu sắc.

Nguyên bản tiếng Anh của bài viết trên có nhan đề: “Pope Benedict XVI Says: John Paul II ‘Is Always Close To Me’” được tìm thấy tại trang 18 đến trang 19 trong Tạp Chí Columbia của Hội Hiệp Sĩ Columbus số ra Tháng 01/2006. Xin chuyển ngữ để Quý Vị theo dõi.

Cuộc phỏng vấn trên được diễn ra vào ngày 16 tháng 10 năm 2005, là ngày Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị được bầu chọn làm Giáo Hoàng; và cũng là ngày mà Quốc Hội Ba Lan quyết định chọn làm Ngày Gioan Phaolô Đệ Nhị tại Ba Lan vào tháng 7/2005.