Những dữ kiện cho thấy các vấn đề cố hữu
NEW YORK 30/11/2002 (Zenit. org), - Nhiều đôi đang từ bỏ hôn nhân để sống chung. Trong năm 1960, ví dụ, Văn phòng điều tra dân số tính có ít hơn 500. 000 đôi không cưới hỏi mà sống chung. Nhưng trong năm 2000, Cục báo cáo 4. 7 triệu sống chung, Tờ Washington Times ghi nhận ngày 15/11.
Bài báo Times bình luận về một cuộc nghiên cứu, phổ biến trong số tháng 11 của Nhật báo Gia đình, cho thấy phỏng một phần tư người nữ sống với các bạn trai, nói họ không đợi kết hơn với những anh chàng đó. Pamela Smock và Wendy Manning, những tác giả bài báo, "Trước Sống chung rồi sau mới Kết Hôn?, " nhận xét rằng những sức ép xã hội bắt các đôi sống chung phải kết hôn thì mạnh hơn trong quá khứ. Trong những năm 1970 lối 60% kết hôn trong vòng ba năm. Trong những năm mới đây chỉ ước chừng một phần ba đôi sống chung kết hôn trong vòng ba năm.
Những dữ kiện khác phổ biến trong cuộc nghiên cứu tiết lộ rằng ngày nay hơn nữa các đôi kết hôn đã sống chung trước, và lối chừng nữa người nữ trẻ, tuổi 25 tới 39, đã sống với một người nam không phải chồng mình.
Trong một cuộc phỏng vấn báo Reuters phổ biến ngày 21/11. , Manning giải thích rằng sự sống chung không xem ra thay thế hôn nhân, vì những người Mỹ kết hôn bây giờ cũng nhiều như trước. Nhưng, bà ghi chú, tuổi người ta kết hôn đã chứng tỏ một sự gia tăng vững. Trong thời gian này trước hôn nhân, người ta sống với những người khác với những bà vợ tương lai mình.
Sống chung cũng trên đà tăng tại Canada. Những dữ kiện kiểm tra 2001 cho thấy những đôi có kết hôn được tính là 70% của tất cả các gia đình, xuống từ 83% trong năm 1981, tờ báo Globe và Mail tường thuật ngày 22 Oct. Cũng trong thời gian 20 năm, tỷ lệ những đôi không kết hôn sống chung lên gấp đôi, tới 13. 8% từ 6%.
Khuynh hướng sống chung mạnh nhất tại Quebec. Ở đó, 508. 000 gia đình theo luật-tập tục được tính là 30% của tất cả các gia đình cưới nhau. Gần 29% trẻ con sống với những cha mẹ không kết hôn tại Québec, hơn gấp đôi số trung bình quốc gia.
Con số đôi theo luật- tập tục tại Canada có con dưới tuổi 25 cũng tăng. Năm 2001, nhưng gia đình đó được tính là 7% của tất cả các đôi, sánh với 2% hai thập niên trước.
Tại Ý, những đôi sống chung đi từ 184. 000 trong năm 1966 tới 344. 000 ngày nay, theo báo cáo ngày 26 Nov. trong tờ báo Milan Corriere della Sera. Dầu vậy, con số tăng chỉ ước tính là 2% của tất cả các đôi, theo ghi chú của bà Anna Laura Zanatha, một nhà dân số học từ Đại học Rome. Dầu sao, lối 3 triệu người Ý đã sống chung với một ai đó ít nhất một lần, trong thời gian 1985 tới 1999. Và 14% đôi đã kết hôn thú nhận đã thử sống chung trước lúc kết hôn
Cách dẫn đến tình trạng bất ổn định
Tại Anh, tỷ số những ngươi nữ độc thân trong những quan hệ sống chung đi từ 13% trong năm 1986 tới 25% trong năm 1999, theo những dữ kiện Rebecca O'Neill trưng dẫn trong "Những Thí nghiệm Sống: Gia đình không Cha. "Cuộc nghiên cứu, phổ biến do Civitas tháng 9 vừa qua, cũng ghi chú rằng những cuộc sống chung có xu hướng mỏng giòn, với những kết hợp lâu bền trung bình hai năm trước khi rã, hay đi đến kết hôn. Giữa những đôi sống chung mà không kết hôn, chỉ ước chừng 18% sống còn tối thiểu 10 năm, sánh với 75% đôi kết hôn.
O'Neil cũng nhận xét rằng sự sống chung là một trong những con đường chính đến tình trạng làm cha độc chiếc, Giữa 15% và 25% của tất cả gia đình cha mẹ đơn chiếc là do sự sống chung đổ vỡ.
Một bài hôm 18/11. trong tờ London Telegrap tái khẳng định điểm liên quan tới sự bất ổn sống chung. Bài đó tường thuật theo một cuộc nghiên cứu do Học viện Nghiên cứu Xã hội, dựa trên 10. 000 người nữ, tuổi từ 16 tới 44. Những bản thống kê cho thấy một phần ba những đôi sống chung bền ít hơn một năm, và chỉ một trong 10 bền hơn 5 năm. Bản báo cáo cũng chỉ rõ một số trở ngại cho việc sống chung, vì các người nữ thường "bị bỏ mặc" và "không di chuyển tới trước" khi họ sống chung.
Rồi còn hậu quả của việc sống chung đối với con cái. Đây là chủ đề của một tường thuật trong bài tháng 10 của tờ báo U. S. Population Today. Sự chia con sinh ra do cha mẹ sống chung đi từ 6% tới 11% trong thời gian 1984 tới 1994. Bài báo tường thuật theo kết quả phổ biến do những nhà nghiên cứu tại Đại học Wisconsin, so sánh những dữ kiện từ 1980-84 tới 1990-94.
Bài báo ghi chú rằng, do sự bất ổn ngày càng tăng trong những hộ gia đình với con cái, ước chừng 40% trẻ em Hoa Kỳ. sẽ sống với người mẹ không kết hôn của chúng và anh bạn trai của mẹ chúng một thời gian trước ngày sinh nhật 16 của chúng.
Số thời gian con cái sẽ ở với cha mẹ sống chung có thể thay đổi rộng rải. Dựa trên những dữ kiện 1990-94, những đứa con sinh bởi cha mẹ sống chung dường như qua 26% tuổi thơ của chúng với một người cha mẹ độc thân, 28% với cha mẹ sống chung, và 46% thời gian của chúng với cha mẹ kết hôn. Ngược lại, những đứa con do cha mẹ kết hôn sinh ra dường như sống 84% tuổi thơ trong một gia đình đủ hai cha mẹ, dầu một trong ba sẽ kinh nghiệm ly dị.
Những phụ nữ gánh chịu
WIlliam J. Bennett, trong quyển sách 2001 của ông "Tổ ấm bị bẻ gãy. Thay đổi sụ Suy sụp Luân lý trong Gia đình Mỹ, " tập hợp một số dữ kiện khác nhau chứng tỏ những trở ngại sống chung.
Một số người, Bennett ghi chú, biện minh sự sống chung trước hôn nhân bằng cách nói rằng đây là thuận lợi tốt để thử sự hạp nhau.
Và khi một số người tố cáo hôn nhân là một cơ chế dẫn tới bạo động với người nữ và con cái, Bennett nhận xét rằng sống chung ngoài hôn nhân ngày nay gia tăng sự bạo động gia đình. Sự sống chung cũng gia tăng tình trạng suy thoái và mất hạnh phúc phái tính.
Bennett cũng nói rằng giữa những đôi sống chung, người nữ đau khổ không cân đối hơn. Những đôi không kết hôn dường như ít góp chung thu nhập của họ, và vì những người nam thường làm ra tiền nhiều hơn những người bạn của mình, điều này chạm những người nữ. Hơn nữa, những quan hệ sống chung nghiên về sự thất trung, những người nam sống chung không trung tín gấp đôi người nữ trong một năm. ấn định. Và khi sự sống chung đổ vỡ, người nữ thường phải nuôi con-- nhưng không có sự bảo vệ luật pháp dành cho hôn nhân
Đức Gioan Phaolô II đã cảnh cáo những nguy hiểm của sự sống chung trong tông thư 1981 của ngài "Familiaris Consortio, " về vai trò của gia đình kitô hữu trong thế giới ngày nay. Đức Giáo hoàng nhận xét rằng nhiều người ra sức biện minh điều họ gọi là "những hôn nhân thử. "Ngài nói rõ rằng không thể chấp nhận thực hiện những sự thử với con người, " phẩm giá con người đòi hỏi họ phải luôn luôn và duy nhất là kỳ hạn của tình yêu tự hiến không có giới hạn thời gian hay bất cứ hoàn cảnh nào khác. "