NEW YORRK 18/05/06 - Tờ The New York Times, nhật báo uy tín hàng đầu của Hoa Kỳ trong số ra ngày 18 tháng 5 năm 2006, đã đăng bài về tình hình Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ sau vụ tai tiếng giáo sĩ lạm dụng tình dục. Tác giả bài báo là ký giả Laurie Goodstein viết rằng sau vụ tai tiếng giáo sĩ lạm dụng tình dục, Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ đã trở lại mức bình thường. Ký giả nói trên viết bài báo dựa theo kết quả của 10 cuộc thăm dò dư luận do viện đại học Công Giáo Georgetown thực hiện từ năm 2001 đến 2005.:

So sánh kết quả các cuộc nghiên cứu cho thấy vụ tai tiếng giáo sĩ lạm dụng tình dục đã không ảnh hưởng gì tới người Công Giáo Hoa Kỳ, đã không làm cho tín hữu rời bỏ Giáo Hội, cũng không làm cho họ bỏ việc tham dự thánh lễ, hay thôi không ủng hộ tài chánh cho Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ.

Cuộc nghiên cứu cũng cho thấy khi vụ tai tiếng bắt đầu nổ ra vào năm 2002 tại Boston, mức độ tham gia của giáo dân vào đời sống Giáo Hội có suy giảm đáng kể, nhưng sau ba năm, mức độ tham gia của giáo dân đã trở lại hầu như bình thường, tức ngang bằng mức độ trước khi có vụ tai tiếng.

Chỉ có một điều suy giảm đáng kể là mức độ đóng góp tài chánh của giáo dân cho giáo phận. Đây là khoản mục tài chánh mà hàng năm vị Giám Mục kêu gọi giáo dân đóng góp cho quỹ điều hành giáo phận. Vào năm 2002 là năm bộc phát vụ tai tiếng, mức độ đóng góp tài chánh cho giáo phận giảm 38%. Đến năm 2005, giảm 29% như vậy sau 3 năm, tài chánh đóng góp cho giáo phận có tăng đôi chút. Tuy nhiên, những đóng góp của giáo dân dành cho việc điều hành giáo xứ của riêng mình không suy giảm chút nào.

Tiến sĩ Mark M. Gray làm việc tại Trung Tâm Nghiên Cứu Áp Dụng của đại học Georgetown đã thực hiện cuộc nghiên cứu về tình hình Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ sau vụ tai tiếng tình dục. Ông phát biểu: “Người ta tưởng sẽ có nhiều người Công Giáo mất đức tin, nhưng kết quả các cuộc thăm dò cho thấy không có bằng chứng nào hỗ trợ cho niềm tin như vậy”.

Ông phát biểu tiếp: “Kết quả đó cho thấy đức tin có thể phục hồi và người Công Giáo không bỏ niềm tin của mình vì chuyện do giáo sĩ gây ra ở một thời điểm nhất định trong lịch sử. Đức tin của họ lớn hơn nhiều so với những vu tai tiếng trên. Vụ tai tiếng rõ ràng gây ra sự bất mãn, nhưng người ta vẫn cứ là người Công Giáo ”

Điều tiến sĩ Gray phát biểu căn cứ trên kết quả 10 cuộc thăm dò qua điện thoại từ năm 2001 đến nay và những người được hỏi là những người Công Giáo trưởng thành. Mỗi lần thăm dò, vấn viên đã hỏi 1000 người khác nhau do vậy mức độ chính xác của các cuộc khảo sát đã có độ sai lệch +/- 2.1% đến +/- 4.4%%.

Vụ giáo sĩ lạm dụng tình dục bị đưa ra trước dư luận tại tổng giáo phận Boston vào năm 2002, sau đó lan tràn đến các giáo phận khác do các nạn nhân tự đứng ra tố cáo. Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đã cử phái đoàn sang Roma để gặp gỡ ĐGH Gioan Phaolô II đồng thời định ra những luật lệ không cho các giáo sĩ lạm dụng tình dục thi hành công tác mục vụ.

Theo bản báo cáo của Giáo Hội Hoa Kỳ, trong 54 năm, từ năm 1950 đến 2004, có khoảng 9000 thanh thiếu niên bị giáo sĩ lạm dụng tình dục. Tuy nhiên, cuộc nghiên cứu do đại học Georgetown cho biết đa số người Công Giáo không biết nhiều về vụ tai tiếng. Năm 2004 chỉ có 53% số giáo dân nói là họ có nghe các đức Giám Mục nói về vụ tai tiếng. Đến năm 2005, con số này chỉ còn 40%.

Kết quả cuộc nghiên cứu cũng cho thấy số người trưởng thành Hoa Kỳ tự nhận mình là người Công Giáo vẫn ở tỷ lệ là 23%. Đây là con số từ lâu không thay đổi. và từ năm 2000 đến 2005, tỷ lệ người Công Giáo Hoà Kỳ nói hàng tuần có dự thánh lễ ngày Chúa Nhật vẫn là 33%.

Về tiền đóng góp cho sinh hoạt giáo xứ kết quả nghiên cứu cho thấy cũng không có sự thay đổi vì nếu năm 2002, 76% giáo dân nói là hàng năm họ có đóng góp tài chánh cho giáo xứ thì đến năm 2005, con số này là 74%. Tiến sĩ Francis J. Butler kết luận “Người ta vẫn mạnh mẽ hộ trợ cho giáo xứ nhưng phần đóng góp cho giáo phận bị giảm sút”

Theo tiến sĩ Butler, các giáo phận sau đây đang chật vật về phương diện tài chánh. Đó là giáo phận Boston; Cincinnati; Spokane, Washington.; Savannah, Georgia.; Burlington, Vermontt.; San Francisco; Oakland, ở California; Gary, Indiana và Springfield ở Massachusette

Về mức độ tin tưởng vào hàng giám mục Hoa Kỳ, kết quả cuộc nghiên cứu cho thấy nếu vào năm 2002, chỉ có 68% số giáo dân tin tưởng và thỏa mãn với sự lãnh đạo của các Giám Mục Hoa Kỳ thì đến năm 2005 con số này đã tăng lên tới 74%.